Hôm nay,  

Tại sao Đức Phật không dùng chữ để viết Kinh?

04/04/202315:10:00(Xem: 4228)
blank 

Tại sao Đức Phật không dùng chữ để viết Kinh?

 

Nguyên Giác

 

Bài viết này sẽ khảo sát về vấn đề, rằng trong thời Đức Phật đã có chữ viết, tại sao Ngài không sử dụng chữ viết để truyền pháp. Duyên khởi bài này là do Cư sĩ Thanh Liên và anh Trần Quốc Định nhắc rằng, thời Đức Phật đã có chữ viết, nhưng trong một bài viết trước đây người viết đã nhầm lẫn ghi là chưa có chữ viết. Nơi đây xin sám hối với Tam Bảo về tất cả những sai lầm đã từng có, và trân trọng cảm ơn hai vị cư sĩ đã chỉ ra lỗi trên.

 

Học thuộc lòng, đọc lớn tiếng, chư thiên nghe Kinh

 

Khi đọc Kinh Phật, chúng ta thấy rằng tụng đọc Kinh Phật lớn tiếng là truyền thống có từ thời kỳ Đức Phật mới hoằng pháp. Không phải đọc trên chữ, mà là học thuộc lòng để tụng đọc lớn tiếng. Như trường hợp Kinh AN 7.53 cho thấy vị nữ cư sĩ Velukantakì (mẹ của ngài Nanda) đã thức dậy sớm, tụng đọc Kinh Nhật Tụng Pàràyana (Con đường qua bờ kia) -- khóa nhật tụng này gồm 16 Kinh trong Phẩm 5 của Kinh Tập. Và khi đọc lớn tiếng như thế, chư Thiên sẽ nghe được, nơi đây là vị Thiên vương Vessavana (Tỳ-sa-môn) trong khi bay từ phương Bắc về phương Nam đã ngừng lại, chờ đọc hết phẩm Pàràyana mới dám bay qua. Trích Kinh AN 7.52, bản dịch của Thầy Minh Châu như sau:

 

Một thời, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahàmoggallàna đang du hành ở Dakkhinàgiri, cùng với đại chúng Tỷ-kheo. Lúc bấy giờ, nữ cư sĩ Velukantakì, mẹ của Nanda thức dậy trước khi mặt trời mọc, và đọc lớn tiếng bài “Pàràyana” (Con đường đưa đến bờ bên kia). Lúc bấy giờ, Đại vương Vessavana (Tỳ-sa-môn) đang đi từ phương Bắc đến phương Nam vì một vài công việc. Đại vương Vessavana nghe nữ cư sĩ Velukantakì, mẹ của Nanda, sau khi lớn tiếng đọc xong bài Pàràyana, liền đứng lại, chờ đợi cho bài được đọc xong. Và nữ cư sĩ, mẹ của Nanda, sau khi lớn tiếng đọc xong bài Pàràyana, liền im lặng.” (1)

 

Chúng ta biết rằng tụng đọc với tốc độ trung bình cho hết Phẩm Pàràyana (2) sẽ mất khoảng gần 1 tiếng đồng hồ. Nghĩa là, tâm phải rất chí thành mới có thể một mình, mỗi buổi sáng dậy sớm, tụng đọc lớn tiếng cho trọn Phẩm Pàràyana và tâm chí thành đó có oai lực tới nỗi buộc vị thiên vương kia phải ngừng bay, chờ đợi. Chúng ta biết thêm rằng, cụ bà trình ngài Xá Lợi Phất rằng cụ bà biết tâm cụ bà rất bình lặng, kể cả khi biết người con trai duy nhất đã bị vua sát hại, trích kinh này, nơi đoạn vấn đáp của ngài Xá Lợi Phất và cụ bà như sau:

 

“—Thật vi diệu thay, Mẹ của Nanda! Thật hy hữu thay, Mẹ của Nanda! Bà có thể nói chuyện, mặt tận mặt với một Thiên tử có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy.

—Thưa Tôn giả, không phải chỉ có sự vi diệu như vậy, sự hy hữu như vậy đối với con. Con còn có một sự kiện vi diệu, hy hữu khác! Ở đây, thưa Tôn giả, Nanda, đứa con độc nhất của con, khả ái, khả ý, vì một lý do gì đó, bị các vua dùng sức mạnh bắt giữ và đoạn mạng sống. Thưa Tôn giả, trong khi đứa trẻ bị bắt giữ hay đang bị bắt giữ, khi bị trói hay đang bị trói, khi bị giết hay đang bị giết, con rõ biết tâm của con không có đổi khác.” (1)

 

Chưa hết, cụ bà cư sĩ này tuyệt vời tới mức đã tự biết là đã đắc quả Bất Lai (còn gọi là Bất Hoàn  hay A Na Hàm) vì đã đoạn tận năm hạ phần kiết sử, như lời cụ bà nói với ngài Xá Lợi Phất, trích:

 

“—Thưa Tôn giả, không phải chỉ có sự vi diệu như vậy, sự hy hữu như vậy đối với con. Con còn có một sự kiện vi diệu, hy hữu khác! Ở đây, thưa Tôn giả, năm hạ phần kiết sử được Thế Tôn thuyết giảng, con thấy rõ không còn pháp nào ở nơi con chưa được đoạn tận.” (1)

  

Hướng dẫn đông người tụng đọc, xua đuổi tà ma, dịch bệnh

 

Như trên là trường hợp thời khóa riêng của cụ bà cư sĩ Velukantakì, khi đọc tụng lớn tiếng một mình. Trường hợp khác, có khi đại chúng cùng tụng đọc lớn tiếng. Và rồi có lúc đích thân Đức Phật đọc kinh lớn tiếng cho đại chúng nghe. Như thế, nếu sử dụng chữ viết, thời đó phải viết chữ trên lá, số người mù chữ hiển nhiên là nhiều hơn người biết chữ, và cũng không thể có mỗi người một bản kinh để cầm trên tay để đọc cho chính xác. Cách đơn giản của thời Đức Phật là: nghe kinh, học thuộc lòng, để cùng tụng đọc lớn tiếng.

 

Trong Kinh kể rằng, có một trường hợp Đức Phật dạy ngài Ananda hãy hướng dẫn cư dân thành phố Vesali vừa đi quanh thành phố, vừa tụng đọc lớn tiếng Kinh Ratana Sutta (Kinh Châu Báu) để trừ đại dịch đang tàn phá nơi này. Sau khi ngài Ananda cùng cư dân về lại tu viện gặp Đức Phật, chính ngay lúc đó đích thân Đức Phật tụng đọc lớn tiếng Kinh Châu Báu cho đại chúng nghe. Có nghĩa là, không đọc thầm trong đầu. Và khi ngài Ananda tác pháp, là cùng cư dân thành phố tụng đọc lớn tiếng.

 

Theo chú thích của ngài Thanissaro trên trang Access to Insight về Kinh Châu Báu (Tạng Pali ghi thành 2 nơi: Kinh Kp6, Kinh Snp 2.1), ghi về cơ duyên của Kinh này, trích dịch như sau:

 

Cơ duyên cho bài kinh này, nói một cách ngắn gọn, theo Luận thư chú giải, như sau: Thành phố Vesali bị nạn đói tàn phá, làm nhiều người chết, đặc biệt là đối với dân nghèo. Vì có quá nhiều xác chết đang nằm phân hủy, những tinh linh hung dữ bắt đầu quậy phá thành phố; thế rồi sau đó là dịch bệnh. Bị ám ảnh bởi ba nỗi sợ hãi: nạn đói, nạn phi nhân quậy phá, và nạn dịch bệnh, người dân thành phố tới xin Đức Phật, lúc đó đang cư trú ở Rajagaha, giúp để thoát 3 đại nạn.

Đức Phật mới đi bộ tới thành phố Vesali, cùng với đông đảo Tỳ khưu, trong đó có thị giả là Đại đức Ananda. Khi Đức Phật tới thành phố, có những cơn mưa xối xả tuôn xuống, cuốn trôi những xác chết đang tan rã. Bầu không khí trở nên trong lành, thành phố sạch sẽ.

Sau đó, Đức Phật dạy ngài Ananda bài Kinh Châu Báu, chỉ phương pháp cùng đi với cư dân đi một vòng thành phố tụng đọc kinh này để bảo vệ cho dân thành phố Vesali. Ngài Ananda làm theo lời dạy, và rảy nước đã tịnh hóa từ bình bát khất thực của Đức Phật. Kết quả là tà ma bị trục xuất, đại dịch lắng xuống. Sau đó, ngài Ananda cùng cư dân thành phố Vesali về lại hội trường nơi Đức Phật và các môn đệ đang chờ. Khi đó, Đức Phật đọc tụng lớn tiếng bài Kinh Châu Báu đó cho đại chúng nghe…” (3)

 

Trong Kinh DN 33, ghi lời ngài Xá Lợi Phất thay mặt Đức Phật cũng dạy rằng đại chúng “phải cùng nhau tụng đọc không cãi cọ nhau” để an lạc cho chúng sanh, an lạc cho chư Thiên và cho loài Người. Hiểu rằng, chúng sanh có nghĩa là các cõi vô hình mà mắt người không thấy được. Trong Kinh DN 33, câu “phải cùng nhau tụng đọc không cãi cọ nhau” được ngài Xá Lợi Phất lặp đi, lặp lại 22 lần. Cuối Kinh, Đức Phật khen ngợi "Lành thay, lành thay Sāriputta! Này Sāriputta, Ngươi đã khéo giảng, khéo tụng kinh này cho chúng Tỷ kheo"... Nơi đây, trích Kinh DN 33, bản dịch của Thầy Minh Châu như sau:

 

Này các Hiền giả, thế nào là Pháp được Thế Tôn chúng ta khéo giảng dạy, khéo trình bày, một pháp có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh do vị Chánh Đẳng Giác trình bày? Ở đây, tất cả cần phải cùng nhau tụng đọc không cãi cọ nhau, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.” (4)

 

Do vậy, ngày nay chúng ta có Kinh in chữ trên giấy, có thể thầm lặng đọc, nhưng cũng nên nhớ rằng Đức Phật từng dạy là hãy đọc Kinh lớn tiếng để làm lợi ích cho bản thân, cho chư Thiên, cho các giới vô hình chung quanh mình. Có một lý do nữa, đọc tụng lớn tiếng dễ thuộc lòng Kinh hơn. Đức Phật trước khi đọc bài Kệ 241 trong Kinh Pháp Cú đã rầy ngài Laludayi là đã không tụng đọc Kinh, nên chưa thuộc Kinh.

 

Bản Anh văn, Kệ 241, của ngài Ācāriya Buddharakkhita là: “Non-repetition is the bane of scriptures; neglect is the bane of a home; slovenliness is the bane of personal appearance, and heedlessness is the bane of a guard.”

Bản Việt dịch, Kệ 241, của Ngài Minh Châu là: "Không tụng làm nhớp kinh. Không đứng dậy, bẩn nhà. Biếng nhác làm nhơ sắc, Phóng dật uế người canh." (5)

 

Đức Phật từ nhỏ đã xuất sắc về đọc, viết và nhiều môn học

 

Theo một số tài liệu, Đức Phật từ thơ ấu đã được vua cha cho học nhiều môn, và môn nào ngài cũng xuất sắc hơn các vương tử khác. Như thế, cũng cho thấy lý do Đức Phật yêu cầu đại chúng đọc tụng Kinh lớn tiếng hẳn là cũng từ kinh nghiệm riêng khi quan sát về cách dạy và học của thời kỳ đó. Cũng là để thấy, Đức Phật không viết Kinh xuống lá để luu trữ là đã cân nhắc lợi hại.

 

Trong tác phẩm Đường Xưa Mây Trắng, ấn bản 1992, tác giả Thích Nhất Hạnh viết về thời kỳ Đức Phật khi còn là cậu bé Hoàng tử Siddhatta đã học như thế nào nơi Chương 6 “Bóng mát cây hồng táo” trích như sau:

 

Đến tuổi đi học, Siddhatta được học đọc, học viết, học vẽ, học âm nhạc và học thể thao. Siddhatta được học chung với các vương tử khác trong dòng họ Sakya. Tất ca đều là con trai. Trong số các bạn học của Siddhatta, có Devadatta, Kaludayu và Kimbila. Devadatta là em chú bác của Siddhatta. Kaludayi là con của một vị đại thần trong triều, Kimbila là một người em cô cậu của Siddhatta. Vì tư chất thông minhh, Siddhatta học rất mau chóng. Thầy dạy chữ của Siddhatta là giáo sư Visvamitra. Devadatta đã là một đứa trẻ thông minh đối với ông, nhưng Siddhatta mới là đứa trẻ làm cho ông kinh ngạc. Ông chưa bao giờ dạy một đứa trẻ thông minh đến như thế.” (6)

 

Trong tác phầm “A Young People's Life of the Buddha” của ngài Bhikkhu Silacara (1871-1951), một vị sư người Anh xuất gia theo truyền thống Theravada Miến Điện, ghi về thời thơ ấu của Đức Phật đã học đọc, học viết và học toán số, trích dịch như sau:

 

Sau khi được nuôi dưỡng dưới sự chăm sóc thương yêu của dì Mahapajapati, người đã chăm sóc đứa con của người chị gái đã quá cố như thể hoàng tử Siddhatta là con của bà, cho đến khi cậu được 8 tuổi, các giáo viên lúc đó đã được cử đến để dạy hoàng tử về đọc, về viết, và về số học. Dưới hướng dẫn của các giáo viên này, hoàng tử nhanh chóng học được tất cả những gì các giáo viên phải dạy trong môn học họ phụ trách. Thực tế, hoàng tử học rất nhanh và giỏi đến nỗi mọi người, các giáo viên, phụ vương và di mẫu đều kinh ngạc về sức học nhanh chóng của cậu. Vì bất kể môn học nào hoàng tử được dạy, ngay khi được nghe bất cứ điều gì, tâm trí hoàng tử lập tức ghi nhớ những gì được dạy và không bao giờ quên mất, qua đó cho thấy cậu hoàng tử đặc biệt có năng khiếu về số học.”(7)

 

Viết là một nghề ưu thế trong xã hội thời Đức Phật

 

 

Trong Kinh Ud 3.9, ghi về cuộc tranh luận giữa các vị sư rằng nghề nào là nghề tốt nhất, lúc đó các sư chia nhau nói nghề giỏi nhất là dạy voi, dạy ngựa, bắn cung, nghệ thuật viết --- writing -- vâng, đúng là có nghề viết nữa, tức là đã có chữ viết trong thời Đức Phật.

 

Trích dịch Kinh Ud 3.9, như sau: "Trong câu trả lời, một số vị sư nói rằng nghề làm voi là nghề thủ công tốt nhất. Các vị sư khác nói rằng nghề tốt nhất là nghề cưỡi ngựa, hoặc chế tạo xe ngựa, hoặc bắn cung, hoặc kiếm thuật, hoặc tính toán, hoặc kế toán, hoặc tính toán, hoặc nghệ thuật viết (writing, writing-craft), hoặc làm thơ, hoặc vũ trụ học (cosmology), hoặc phong thủy." (8)

 

Tới buổi chiếu, các vị sư mới kể lại cho Đức Phật, và Đức Phật mới rầy, "Khi ngồi lại với nhau, các tu sĩ nên làm một trong hai điều sau: hoặc thảo luận về giáo pháp, hoặc giữ im lặng bậc thánh.”

 

 

 

Kinh Tạng Pali cũng ghi rằng, vào thời Đức Phật, nghệ thuật viết là một nghề có ưu thế trong xã hội. Những người học viết chữ thời đó sẽ có thể “sống thoải mái và không bị cực nhọc” nhưng vì học viết quá gian nan, cho nên “học chữ viết thì các ngón tay sẽ bị đau.” Chúng ta không rõ tại sao ngón tay dễ bị đau khi học viết chữ. Có thể vì viết bằng dao khắc chữ lên vỏ cây bạch dương (birch bark manuscripts) hay là viết chữ lên các tấm bảng vàng (suvaṇṇapaṭṭa) đòi quá nhiều công phu?

 

Trong Tạng Luật, Chương Phân Tích Giới Tỳ Khưu, nơi Điều Học Về Người Kém Hai Mươi Tuổi, bản Việt dịch của ngài Bhikkhu Indacanda ghi rằng, trích:

 

Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, trong thành Rājagaha có nhóm mười bảy thiếu niên là bạn bè. Thiếu niên Upāli là thủ lãnh của chúng. Khi ấy, cha mẹ của Upāli đã khởi ý điều này: “Có phương cách gì để sau khi chúng ta từ trần, Upāli có thể sống thoải mái và không bị cực nhọc?” Rồi cha mẹ của Upāli đã khởi ý điều này: “Nếu Upāli có thể học chữ viết, như thế sau khi chúng ta từ trần Upāli có thể sống thoải mái và không bị cực nhọc.” Rồi cha mẹ của Upāli đã khởi ý điều này: “Nếu Upāli học chữ viết thì các ngón tay sẽ bị đau.” Rồi cha mẹ của Upāli đã khởi ý điều này: “Nếu Upāli có thể học tính toán, như thế sau khi chúng ta từ trần Upāli có thể sống thoải mái và không bị cực nhọc.” (9)

 

Như thế, do quyết định của Đức Phật, Kinh phải được học thuộc lòng để thành một văn hệ truyền khẩu. Thời đó chưa có giấy, chưa có máy in, số người biết chữ lại ít. Đặc biệt là do địa phương rộng lớn, nhiều phương ngữ dị biệt trong ngôn ngữ các bộ tộc. Rồi tới nhiều thế kỷ sau, Kinh mới được chép xuống thành chữ. Tuy nhiên, theo ngài Sujato, người đã dịch hầu hết Tạng Pali sang tiếng Anh, có thấy một luận thư Pali chú giải Kinh MN 140 ghi rằng có một số văn bản được viết thành chữ trong thời Đức Phật sinh tiền, nhưng không có chứng cớ nào cho thấy như thế, dù là có thể như thế, và cổ thư đó nói rằng lúc đó Kinh viết lên các tấm vàng để lưu trữ lâu bền (They were said to be inscribed on gold plates (suvaṇṇapaṭṭa), so barring the accidents of history, they could even survive.) (10)

 

Tới thời chúng ta, có khi tụng đọc lớn tiếng không thích hợp, nếu đang sống trong các ký túc xá sinh viên, hay trong các khu nhà công nhân, hay trong các xóm chợ ồn ào, nơi nhiều người theo nhiều tôn giáo khác nhau cùng cư ngụ. Hay khi đang tu định (vì nhị Thiền là tịch lặng âm thanh, là im lặng bậc thánh). Nhưng thông điệp của Đức Phật là, hãy học thuộc lòng một số Kinh cốt tủy để tu học thực tiễn, như lời dạy rằng, “Pháp được Thế Tôn khéo nói, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu…” Và pháp đó khi chúng ta kinh nghiệm ngay nơi thân tâm của mình, thường trực, sáng trưa chiều tối, mới đúng là đang tụng đọc Kinh.

  

GHI CHÚ:

(1) Kinh AN 7.53: https://suttacentral.net/an7.53/vi/minh_chau

(2) Qua Bờ Bên Kia: https://thuvienhoasen.org/p15a30611/pham-qua-bo-ben-kia-cac-bai-ke-gioi-thieu

(3) Giới thiệu Kinh Châu Báu: https://accesstoinsight.org/ati/tipitaka/kn/khp/khp.1-9x.piya.html#khp-6

Kinh Châu Báu: https://thuvienhoasen.org/a21766/kinh-chau-bau

(4) Kinh DN 33: https://suttacentral.net/dn33/vi/minh_chau

(5) Kinh Pháp Cú, Kệ 241: https://thuvienhoasen.org/p15a7962/pham-11-20

(6) Đường Xưa Mây Trắng: https://thuvienhoasen.org/p97a13790/quyen-mot-phan-2

(7) A Young People's Life of the Buddha: https://www.accesstoinsight.org/lib/authors/silacara/youngpeoples.html

(8) Kinh Ud 3.9: https://suttacentral.net/ud3.9/en/sujato

(9) Điều Học Về Người Kém Hai Mươi Tuổi: https://suttacentral.net/pli-tv-bu-vb-pc65/vi/indacanda

(10) Kinh viết lên vàng: https://discourse.suttacentral.net/t/first-written-buddhist-canon/5388/9

 

 

 

 

 

 

 



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Thượng Nghị Sĩ Thomas J. Umberg gửi đến cộng đồng lời thông điệp ngắn nhằm tưởng niệm 76 năm ngày lịch sử trong Thế Chiến thứ Hai, đánh dấu ngày định mệnh 6 tháng Sáu năm 1944 trên bãi biển France Norm Normandy, khi quân đội Đồng minh chuyển hướng Thế chiến II và tiếp tục đánh bại chủ nghĩa phát xít ở châu Âu. Đây là một trong những chiến công đáng chú ý nhất trong lịch sử quân sự.
Bảy người bị giết chết trong vụ thảm sát tập thể tại một căn nhà tại Quận Morgan, thuộc tiểu bang Alabama, vào cuối ngày Thứ Năm, 4 tháng 6. Vụ nổ súng xảy ra tại một căn nhà trên khúc đường có số nhà 500 của đường Talucah Road tại Valhermoso Springs gần Somerville vào lúc trước 11 giờ rưỡi tối, theo văn phòng Cảnh Sát Quận Morgan cho biết. Hiện trường cách thành phố Huntsville chừng 10 đến 12 phút lái xe.
Trong chị Thanh chỉ có một tấm lòng, chứ tuyệt nhiên không có “những bức tường lòng” phân cách Bắc/Trung/Nam – như rất nhiều người Việt khác. Tình cảm của chị tinh khiết, trong veo, và tươi mát tựa như dòng nước của một con suối nhỏ – róc rách, len lách – khắp mọi miền của tổ quốc thân yêu. Bởi thế, dù không biết chính xác chị được chôn cất nơi nao tôi vẫn tin rằng ở bất cứ đâu thì đất nước này cũng đều hân hoan ấp ủ hình hài của người thơ đa cảm, tài hoa, và chuân truyên nhất của dân tộc. Vĩnh biệt Nguyễn Thị Hoài Thanh. Em mong chị mãi mãi được an nghỉ trong an lành và thanh thản!
Đằng sau các cuộc biểu tình chống đối sự kỳ thị trong cái chết của George Floyd là các cuộc đập phá, phóng hoả, cướp và hôi của. Tại sao nó luôn xảy ra trong các cuộc bạo loạn. Đó là một câu hỏi nhức nhối và đau đớn đã làm phiền lòng không những người có mặt trong cuộc biểu tình mà của cả những người ngoài cuộc. Thấy được những cửa hàng thương mại, nhà thuốc, siêu thị, hệ thống bán lẻ bị đốt phá, cướp bóc tan hoang ai cũng đau lòng và phẫn uất, nhất là các chủ tiệm. Những bài phỏng vấn các tiểu thương cùng nhiều video Clip ghi lại những hình ảnh đập phá thu được ở các cửa tiệm thương mại đã làm tôi không ngăn được dòng nước mắt thương cảm cho họ. Các tiểu bang mới được mở cửa mấy ngày sau cơn đại dịch. Giới tiểu thương phải gánh chịu sự mất mát kinh tế trong vòng nửa năm qua, giờ họ lại bị phá sản bởi bao nhiêu vốn liếng tiêu tan trong phút giây. Họ khóc, con cái, gia đình họ khóc, họ chia sẻ nỗi uất hận tai bay hoạ gởi, rồi lại phải nai lưng ra quét dọn, gom góp những tan hoang đổ đi.
Hướng dẫn mới về lợi tức cho các chương trình trợ giúp trả hóa đơn cho phép thêm nhiều khách hàng của SCE đủ điều kiện hưởng mức giá năng lượng thấp hơn.
Qua 7 lần xét nghiệm trung bình từ 8.00 giờ sáng đến 15.00 giờ chiều, PVNF đã thử trên 1,700 người. Qua các cuộc xét nghiệm, mặc dù nghiên cứu cho cộng đồng VN tại Little Saigon, PVNF cũng đã thử cho một số người ngoài cộng đồng như anh cảnh sát (LAPD) đi từ Los Angeles (LA) xuống Little Saigon thử vì LA thiếu test.
Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn đang sơn một thông thiệp bằng chữ màu vàng rất lớn trên mặt đường Thủ Đô bận rộn trước một cuộc biểu tình dự định vào cuối tuần này: SINH MẠNG CỦA NGƯỜI DA ĐEN LÀ VẤN ĐỀ, theo bản tin của CNN cho biết hôm Thứ Sáu, 5 tháng 6 năm 2020. Dự án giống như một tấm biểu ngữ vĩ đại kéo dài 2 khúc đường của Đường 16th Street, một trục lộ giao thông chính dẫn thẳng vào hướng nam tới Tòa Bạch Ốc. Mỗi chữ trong 16 chữ tô đậm màu vàng chiều cao 2 lane đường, tạo ra một hình ảnh không thể nhầm lẫn dễ dàng được ghi nhận bởi các máy ảnh trên không và hầu như bất kỳ ai trong một vài khúc đường cũng thấy.
Trong tinh thần đoàn kết, Hội sinh viên Việt Nam tại U.C. Berkeley (Cal VSA) xin được bày tỏ lòng thương tiếc đến với gia đình của những người quá cố: George Floyd, Breonna Taylor, Tony McDade, Ahmaud Arbery, Dreasjon Reed và vô số những nạn nhân Da Đen vô tội khác đã chết. Chúng tôi đòi công lý cho nạn nhân và lên án các hành vi bạo lực dưới mọi hình thức gây ra do sự tàn bạo của cảnh sát, do bởi những tội ác vì căm ghét sắc tộc và do sự kỳ thị chủng tộc có hệ thống. Cũng là người da mầu, nhưng không mang dòng máu Da Đen, chúng tôi có đặc quyền riêng và muốn lên tiếng ủng hộ cộng đồng người Da Đen vẫn đang tiếp tục đấu tranh cho những quyền căn bản của con người.
Thăm dò 2011/2012 của APPA (American Pet Products Association) cho biết trên 72.9 triệu gia đình ở Hoa Kỳ có nuôi thú cảnh pets (chó, mèo, chim, cá, rùa rắn v,v…). Số chó nuôi chiếm trên 78 triệu con và mèo bốn cẳng trên 86.4 triệu con. Ngoài ra còn những loại thú khác như chim (16.2 triệu con)… Năm 2011, Hoa Kỳ chi trên 50 tỉ $ cho kỹ nghệ thú cảnh.
Tuần qua, Diedre Thu-Hà Nguyễn, Nghị viên thành phố Garden Grove, cùng với Dân Biểu Tiểu Bang David Chiu (Dân Chủ - San Francisco), Chủ tịch Uỷ Ban Lập Pháp Châu Á Thái Bình Dương đã dẫn đầu một số nhà lập pháp và các lãnh đạo ngành nail trong buổi họp với văn phòng Thống Đốc Newsom để bàn thảo các quy định thi hành chuẩn bị cho việc tái mở cửa an toàn của các tiệm nail.
Cách đây không lâu, tôi được một anh bạn vong niên am tường Phật Giáo nhắc nhở: phaỉ coi chừng “những lời Phật dạy” đang được lan truyền đầy dẫy trên mạng. Rất nhiều trong số đó không phải là “hàng thiệt”! Giật mình, xem lại, thấy quả là có nhiều câu hơi “kỳ kỳ”, thấy “có vẻ” không giống lắm với những gì thầy mình dạy từ trong kinh điển.
Nhiều người trong các cộng đồng di dân ở Hoa Kỳ ở trong tình trạng bất định, lo âu và sợ hãi về những quy luật mới của Tòa Bạch Ốc, nơi đang có kế họach chống di dân, đặc biệt là những sắc dân không là da trắng. Sở di trú cần cẩn trọng nhìn lại chính mình. Cơ quan này sẽ thấy những lý do tại sao họ không giải quyết được.
Washington -- Bộ Trưởng Quốc Phòng Mark Esper đang làm rung rinh Bạch Ốc sau khi nói hôm Thứ Tư, 3 tháng 6 rằng ông không ủng hộ sử dụng các quân đội để dập tắt các cuộc biểu tình quy mô lớn trên khắp Hoa Kỳ do cái chết của George Floyd và những lực lượng đó chỉ nên được sử dụng trong một vai trò thực thi pháp luật như là một phương sách cuối cùng, theo CNN cho biết. Esper lưu ý rằng "hiện tại chúng ta không ở một trong những tình huống đó," tránh xa mối đe dọa gần đây của Tổng Thống Donald Trump để triển khai quân đội nhằm thực thi trật tự.
Khủng hoảng sức khỏe tâm thần gây ra bởi COVID-19 đang leo thang nhanh chóng. Một bằng chứng cụ thể là khi so với một thăm dò hồi năm 2018, những người lớn tuổi ở Hoa Kỳ hiện nay nhiều gấp 8 lần hơn để đáp ứng tiêu chuẩn đối với sự suy kiệt tâm thần nghiêm trọng. 1/3 người Mỹ báo cáo các triệu chứng đáng kể của mối lo sợ hay trầm cảm, theo dữ liệu của Phòng Thống Kê Dân Số được công bố vào cuối tháng 5 năm 2020 cho biết.
Mục Sư Al Sharpton đã tuyên bố hôm Thứ Năm, 4 tháng 6 rằng ông đang tổ chức một cuộc biểu tình rộng lớn tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn vào cuối tháng 8 để đánh dấu 57 năm ngày biểu tình lịch sử vì dân quyền trong khi những người biểu tình phản đối cái chết của George Floyd lan rộng khắp nước Mỹ, theo CNN tường thuật cho biết. Sharpton nói sự kiện này sẽ được dẫn đầu bởi các gia đình người da đen là những người đã chết trong tay các cảnh sát, gồm gia đình của Floyd. Sharpton đưa ra tuyên bố này trong lúc phát biểu tại lễ tưởng niệm Floyed hôm Thứ Năm. “Vào ngày 28 tháng 8, tưởng niệm năm thứ 57 của Cuộc Diễn Hành tại Washington, chúng ta sẽ trở lại Washington,” theo MS Sharpton cho biết khi ông đọc điếu văn cho Floyd, một người đàn ông da đen đã bị giết chết hồi tuần trước bởi cảnh sát da trắng tại Minneapolis, trong lễ tưởng niệm.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.