Hôm nay,  

Song ngữ: Vô Ngã Là Niết Bàn / One who sees all dharmas as non-self is walking on the path to realizing Nirvana.

02/05/202309:54:00(Xem: 6242)


blank

 

Song ngữ: Vô Ngã Là Niết Bàn /

One who sees all dharmas as non-self

is walking on the path to realizing Nirvana.

 

Thích Thiện Siêu

 

Translated by Nguyên Giác

 

 

Mặc dù biết Phật pháp mênh mông, cũng không ngoài một vị giải thoát cho nên dù chỉ học một câu kinh, tu hành một pháp môn cho thấu đáo cũng có thể hưởng được hương vị giải thoát mà không cần uống hết cả biển giáo lý. Nhưng điều cốt yếu là phải thực hành chứ không phải nói suông mà hiểu đạo được.

 

Đạo là con đường, nhưng đi trên con đường đạo không như đi trên đường cái. Đường cái dễ đi, dễ đến, có khoảng cách rõ rệt, bao nhiêu cây số là bấy nhiêu thời gian tương ứng, có điểm khởi hành, có điểm đến hẳn hoi. Nhưng đường đạo thì không như thế. Khi bắt đầu tu gọi là khởi điểm, mà khởi điểm này cũng ở tại Tâm. Tu hành gọi là đi, cũng chỉ trong một Tâm ấy mà khi đạt đến đích giác ngộ, thì cũng ở một Tâm ấy chứ đâu khác.

 

Thế mà tại sao đi mãi vẫn không đến? Đó chính là vì cái Ta (Ngã) cứ ngăn chận làm cho trễ nãi, biếng nhác, sa ngã, bước được một bước thì bị lục căn lục trần xen vào kéo lui ba bước. Muốn tinh tấn tu hành nhưng cái ngã nó xen vào và bảo: Để ta ăn cái đã, để ta ngủ cái đã, để ta coi cái đã, để ta nghe cái đã. Cái ngã chấp đó càng bành trướng càng gây tai họa. Ngã chấp của ta càng to càng dễ gây đụng chạm với cái ngã của người khác. Người khác cũng bồi bổ cái ngã của họ nên lại va chạm với ta. Ví như có một ngôi nhà rộng thênh thang mười người ở không khắp, thế mà một khi những người ở trong đó để cái Ta nổi lên thì sẽ va chạm nhau đến nỗi rốt cuộc mỗi người đi mỗi ngả, khi còn một người mà vẫn thấy chật. Đó là vì ngã chấp. Tôi lấy ví dụ để minh họa vấn đề ngã chấp này:

 

Ngày xưa có một linh hồn sau nhiều kiếp tu luyện, đến thiên đàng gõ cửa Thượng Đế, Thượng Đế hỏi:

 

-- Ai đó?

 

-- Tôi, Linh hồn đáp.

 

Thượng Đế hỏi:

 

-- Tôi là ai?

 

-- Tôi là tôi.

 

Thượng Đế bảo:

 

-- Ở đây không đủ chỗ cho ta và ngươi cùng ở. Ngươi hãy đi nơi khác.

 

Linh hồn ấy trở lui về trần gian tu luyện thêm một ngàn năm nữa, sau đó lên trời gõ cửa lại.

 

Thượng Đế hỏi: -- Ai đó?

 

Đáp: -- Tôi.

 

-- Tôi là ai?

 

-- Tôi là Ngài, Linh hồn đáp.

 

Khi ấy Thượng Đế liền mở cổng cho vào.

 

Thí dụ trên cho ta thấy, một ngàn năm trước tôi là tôi - còn ngã chấp, thì không vào thiên đàng được. Một ngàn năm sau, tôi là Ngài, mới vào được, vì hết ngã chấp. Vì ta với mình tuy hai mà một. Niết bàn là cái tuyệt đối không dung ngã. Niết bàn không có hạn lượng, không có nơi chốn, vì Niết bàn vô tướng - vô tướng nên rất khó vào. Muốn vào Niết bàn, ta cũng phải vô tướng như Niết bàn. Cửa Niết bàn rất hẹp, chỉ bằng tơ tóc nên ta không thể mang theo một hành lý nào mà hy vọng vào Niết bàn được cả. Cái thân đã không mang theo được, mà cái ý niệm về tôi, về ta, cũng không thể mang theo vào được. Cái ta càng to thì càng xa Niết bàn. Nên biết hễ hữu ngã thì luân hồi mà vô ngã là Niết bàn chứ không phải đòi hỏi có cái ta để vào Niết bàn.

 

Một hôm có người đến hỏi Thiền sư Duy Khoang: "Đạo ở đâu?" Sư đáp: "Đạo ở trước mắt" - "Sao tôi không thấy?", người ấy hỏi. Ngài đáp: "Vì ngươi đang bận nghĩ tới mình ta cho nên không thấy" -" còn Hòa Thượng có thấy không?", người ấy hỏi. Ngài đáp: "Hễ còn bận nghĩ tới ta, ngươi thì đều không thấy" - "Khi không còn bận nghĩ tới ta, ngươi nữa thì có thấy không?", người ấy hỏi. Ngài đáp: "Khi không còn có tâm phân biệt bận nghĩ tới ta, ngươi, thì bấy giờ ai hỏi đạo ở tại đâu?"

 

Giả sử lúc đó người ấy hỏi ngài Niết bàn ở tại đâu thì chắc Ngài cũng đáp tương tự như thế, và câu đáp cuối cùng hẵn là: "Khi không còn có tâm phân biệt bận nghĩ tơi ta, ngươi thì bây giờ ai hỏi Niết bàn ở tại đâu? Sao tôi không vào được? Vì đã không còn tâm phân biệt bận nghĩ tới ta, ngươi thì tức lúc ấy tâm thanh tịnh không còn vọng tưởng tham ái, tức là Niết bàn đó rồi, chứ có phải ở đâu xa mà phải tìm kiếm?"

 

Vậy cho nên cần phải biết: Niết bàn chính là từ bỏ ba độc tham, sân, si do ngã chấp gây nên. Vô ngã là Niết bàn. Giờ phút nào cởi bỏ được ba độc, giờ phút đó là Niết bàn. Cho nên chúng ta thấy Niết bàn vừa là cái chung, vừa là cái riêng. Cái chung là ai cũng tu được, vào được. Cái riêng là chỉ ai tu người ấy đắc. Đức Phật, Ngài không bưng Niết bàn đến cho ta ngồi lên. Ngài chỉ dạy cho ta con đường tu chứng Niết bàn mà thôi. Ngài dạy:

 

"Ai còn tham luyến (tức còn ngã ái chấp đây là của tôi, ngã mạn chấp đây là tôi, ngã kiến chấp đây là tự ngã của tôi), thời có dao động. Ai không tham luyến, thời không dao động. Ai không dao động, thời được khinh an. Ai được khinh an thời không thiên chấp (nati). Ai không thiên chấp, thời không có đến và đi. Ai không có đến và đi, thời không có diệt và sanh. Ai không có diệt và sanh, thời không có đời này đời sau, không có giữa hai đời. Đây là sự đoạn tận khổ đau". (Niết bàn - Tương Ưng Bộ Kinh 4/65, 1982)

 

Vậy thì nói Phật độ chúng sanh là gì? Ở đây chúng ta cần phân biệt chữ "độ" và chữ "cứu rỗi". Chữ "cứu rỗi" thì chỉ cần đức tin, tin có một đấng tối cao, đấng ấy sẽ rước ta vào cõi phúc lạc của Ngài ở một nơi nào đó, nếu ta đầy đủ lòng tin. Trái lại chữ "độ", nghĩa là vượt qua, có nghĩa là làm cho chúng sanh thấy rõ rằng: chính vì bản ngã mà nổi chìm trong biển phiền não sanh tử. Vậy chỉ cần trừ cái ngã chấp thì phiền não không còn đất đứng. Khi phiền não đã trừ thì kiến hoặc, tư hoặc, vô minh hoặc cũng dứt mà vượt qua bờ giác. Khi phiền não chấm dứt thì dù bất cứ đang ở đâu, bất cứ giờ phút nào cũng là Niết bàn, không cần phải cất bước đi đến một nơi nào cả để tìm cõi Niết bàn. Bởi thế đức Phật dạy luôn luôn quán vô ngã, bốn đại, năm uẩn tạo nên thân này đều là những thứ do duyên ở ngoài kết hợp lại mà thành chứ cái thân "đồng nhứt" với cái ngã thì không thực có.

 

Đức Phật được tôn xưng là đấng Pháp vương vì Ngài tự tại với tất cả các pháp, vào tất cả thời, xứ. Dù ở đâu Ngài cũng không bị dính mắc vào sáu trần, không bị chúng lôi kéo. Nên chúng ta phải biết, nếu chúng ta đối với một việc gì trong một thời gian nào đó mà được tự tại, không bị nó lôi kéo, chi phối, thì ta cũng đáng được gọi là vua của pháp đó, nhưng chỉ đối với một việc đó, trong một thời gian đó mà thôi, còn ở giờ khác, đối với việc khác, thì ta lại bị ràng buộc, cho nên ta không được như Phật xưng là Đấng Pháp Vương đối với toàn diện các pháp và tất cả các thời, xứ.

 

Muốn được như Phật phải quán vô ngã luôn luôn. Quán vô ngã thì tất cả cái gọi là: phải, trái, được, thua ở đời đều là một cái duyên cho ta tu, hoặc trở thành bình thường không có gì bận tâm cả. Quán vô ngã cũng như người võ sĩ luyện thân thể cho rắn chắc. Khi chưa rắc chắc thì dễ bị quật ngã trước một tác động bên ngoài. Người tu vô ngã cũng vậy, khi chưa thuần thục còn nhiều ngã chấp thì dễ đau khổ trước một lời nói độc. Nếu khi ngã chấp tiêu bớt, thì chỉ còn thấy đau khổ sơ sơ và cuối cùng thì không còn ngã chấp thì cũng không còn chút đau khổ nữa. Nên kinh Pháp Cú nói:

 

Như ngọn núi kiên cố

 

Không gió nào lay động

 

Cũng vậy giữa khen chê

 

Người trí không giao động. (Pháp Cú câu 81)

 

Kết luận: Cái Trí ở đây chính là cái trí thấy lý vô ngã vậy.

 

---- o ----

 

 

One who sees all dharmas as non-self

is walking on the path to realizing Nirvana.

 

By Thích Thiện Siêu

 

Translated by Nguyên Giác

 

 

Giới thiệu của Nguyên Giác. Rất khó để dịch nhóm năm chữ "Vô ngã là Niết bàn" sang tiếng Anh mà không gây ngộ nhận. Niết bàn là lìa khổ, là pháp vô vi. Chúng ta không thể dùng bất kỳ ngôn ngữ nào trong thế giới hữu vi này để nói về Niết bàn. Nơi đây sẽ mượn cách dịch sát theo Kinh Phật. Trong Kinh AN 6.100 Sutta, Đức Phật nói, theo bản dịch Sujato: "Hoàn toàn có thể cho một tu sĩ xem tất cả các pháp đều là vô ngã sẽ chấp nhận cái nhìn tương hợp với giáo pháp." Do vậy, sẽ dịch theo ý Kinh này là: Ai thấy các pháp là vô ngã là đang đi trên con đường chứng ngộ Niết Bàn.

 

Introduction by Nguyên Giác: It is very difficult to translate the five-word group "Vô ngã là Niết bàn" into English without causing confusion. Nirvana is the cessation of suffering, the dharma of the unconditioned. We cannot use any language in this conditioned world to say about Nirvana. The translation here will adapt closely from the Buddhist Scriptures. In the AN 6.100 Sutta, the Buddha said, according to the Sujato translation: "It’s totally possible for a mendicant who regards all things as not-self to accept views that agree with the teaching." Therefore, it will be translated according to the style of that Sutta: One who sees all dharmas as non-self is walking on the path to realizing Nirvana.

 

----

 

The Buddhadharma is vast, but there is only one same taste of liberation. You don't need to drink the whole sea of teachings. If you study a sutra verse deeply or practice a method thoroughly, you can still appreciate the taste for liberation. But the most important thing is to practice, not simply to speak or understand the Way.

 

The Dharma is the path, but walking on the path is different from walking on a boulevard. It is easy to walk along a boulevard that has a clear distance with a clear timetable to finish, which has a starting point and a destination. When you start practicing, it's called the starting point, but this starting point is also in the mind. Practicing is called walking, just in that one Mind, but when reaching the goal of enlightenment, it is also in that same Mind, nowhere else.

 

So why go and still not come? That's because the self-grasping keeps preventing, delaying, lazing, and stumbling. When you forward one step, the six senses and the six sense objects push you back three steps. When you wish to practice diligently, the ego comes in and says: Let me eat first, let me sleep first, let me see first, and let me hear first. The more that ego expands, the more disaster it causes. The bigger our ego, the easier it is to collide with the ego of others. Other people also nourish their egos, so they collide with us again. For example, there is a large and spacious house where ten people can live comfortably, but once the people in it let their egos emerge, they will collide and go their separate ways. While one person stays, the house is still felt tight. It is because of clinging to the ego. I use an example to illustrate this problem of self-grasping.

 

"Once upon a time, there was a spirit who, after many lives of cultivation, came to heaven and knocked on God's door. God asked: Who is it?

This is 'I', replied the spirit.

God asked: Who is 'I'?

'I' is 'I'.

God said: There is not enough room for you and me to live together; go somewhere else.

That spirit returned to earth to practice for another thousand years, then went to heaven to knock on the door again.

God asked: Who is it?

This is 'I', replied the spirit.

God asked: Who is 'I'?

I am You, replied the spirit.

Then God opened the gate and let him in."

 

.

The example above shows us, a thousand years ago I was - with ego-grasping, I was unable to enter heaven. One thousand years later, I am Him and I can come in because the ego is gone. Because I and others are two but one. Nirvana is the absolute that does not contain any self. Nirvana has no limit, no place, and no shape. Because it is unseen, it is very difficult for anyone to enter. To enter Nirvana, we must also be unseen like Nirvana. The gate of Nirvana is very narrow, just like a strand of hair, so we cannot carry any luggage and hope to enter Nirvana. The body could not be carried in, and the idea of a "me" or any self also could not be carried in. The bigger the self-grasping, the further away from Nirvana. When you see any self, you are seeing samsara. When you see no self, you are seeing Nirvana. Because there is no self to enter Nirvana, don't think that there must have a self to enter Nirvana.

  

One day someone asked Zen master Duy Khoang: "Where is the Way?"

The Master replied, "The Way is before your eyes."

"Why can't I see it?" he asked.

The Master replied, "Because you are busy thinking about yourself and about others, you do not see the Way."

"Dear Venerable Master, do you see it?" he asked.

The Master replied, "As long as someone is busy thinking of self or others, he does not see it."

"When one is no longer thinking about self or others, does he see it?" he asked.

The Master replied: "When someone no longer has a discriminating mind to think about self or others, then who asks where is the Way?"

  

If that person were to ask him where Nirvana is at that time, he would probably give the same answer. The final answer must be: "When there is no longer a discriminating mind to think about self or others, who will ask where Nirvana is? Why can't I enter? When there are no longer any discriminating thoughts about one's self or that of others, the mind will then be pure, free from delusions and cravings. It's already Nirvana, not far away, and you have nothing to look for."

  

Therefore, it is necessary to know: Nirvana is the abandonment of the three poisons of greed, hatred, and delusion caused by self-grasping. No-self is Nirvana. At any moment when the three poisons are removed, that moment is Nirvana. So we see that Nirvana is both general and particular. The common thing is that anyone can practice and enter. The unique thing is that only those who cultivate will gain it. The Buddha did not bring Nirvana for us to sit on. He only taught us the way to attain Nirvana.

 

The Buddha said: "For those who still have attachments (i.e., the self that clings to this is mine, the conceit that holds this is me, the ego that holds this is my self), there is fluctuation. For those who have no attachments, there is no fluctuation. For those who have no fluctuation, there is tranquility. For those who have tranquility, there is no insisting on anything. For those who have no insisting on anything, there is no coming and going. For those who have no coming and going, there is no death and birth. For those who have no death and birth, there is no this life and the next life, and there is no the "in-between" existence. This is the cessation of suffering." (Nibbana Sutta, Collections of Linked Discourses)

  

What does it mean when we say the Buddha helps sentient beings to cross to the other shore? We need to distinguish between "helping to cross to the other shore" and "salvation." The word "salvation" is used for those who believe in a supreme being who will take them to His blessed realm somewhere, if they have enough faith. Such faith is contrary to the Buddha's teaching about the meaning of helping to cross the river of birth and death. It means to make sentient beings see clearly that: it is because of self-grasping that they float and sink in the sea of afflictions of birth and death. So, just wipe out the self-grasping, then the affliction has no ground to stand. When the defilements have been eliminated, all the delusive views, misleading thoughts, and ignorance also cease. It is said that the shore of Enlightenment has been reached.

  

When defilement ends, no matter where you are, any moment is the moment of Nirvana; there is no need to go anywhere to find Nirvana. That's why the Buddha taught us to always contemplate that no-self, that the four elements, that the five aggregates that make up this body are all things brought together by external conditions. And the body identified with the so-called self is not real.

 

The Buddha was called the Dharma King because he was free from all dharmas, at all times and places. Wherever he was, he was not attached to the six sense objects, not drawn by them. So we must know, if we can be free from something for a certain period of time and not be manipulated or dominated by it, then we are also worthy to be called the king of those dharmas. In that case, we are free only for those things, and for that period of time. However, we are bound in another hour and for the other things. So we cannot be like the Buddha who is called the Dharma King for all dharmas and at all times and all places.

  

If you want to be like the Buddha, you must contemplate no-self all the time. When you contemplate no-self, all the so-called right, left, gain, and loss in life become all predestined conditions for you to practice, or to see as normal, nothing to worry about. Contemplation of no-self is like a martial artist who trains his body to be firm and strong. When the body is not firm and strong, it is easy to be knocked down by an external impact. The same is true of practitioners contemplating not-self, when they are still immature and self-grasping, they will easily suffer from poisonous words. When ego-clinging is fading, practitioners will feel less suffering. When ego-clinging is gone,  there will be no more suffering.

 

Thus, Verse 81 from the Dhammapada says:

Just as a solid mountain is unmoved by the wind,

So the wise are unmoved by praise and criticism.

 

Conclusion: The Wisdom here is the mind that sees no-self.

 

.

 

 



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ít nhất 233 nhân viên y tế tại hai bệnh viện ở San Francisco đã có kết quả xét nghiệm dương tính với COVID-19, với đa số họ đã được chích ngừa đầy đủ nhưng lại bị nhiễm biến thể Delta. Hơn 50 trường hợp xảy ra trong các nhân viên tại Bệnh viện Zuckerberg San Francisco General Hospital, theo lời BS Lukejohn Day, Y Sĩ Trưởng của bệnh viện, nói với báo New York Times hôm thứ Bảy. Trong những người xét nghiệm dương tính, khoảng 75 đến 80% đã được chích ngừa đầy đủ.
Giận dữ và thất vọng lên cao khi Tổng Thống Joe Biden cho thấy không có dấu hiệu của việc làm sống lại các kế hoạch cho phép lệnh cấm đuổi khỏi nhà trên toàn quốc sẽ hết hạn vào giữa đêm Thứ Bảy, 31 tháng 7 năm 2021 – một nhà lập pháp Dân Chủ cắm trại bên ngoài Tòa Nhà Quốc Hội để phản đối trong khi hàng triệu người Mỹ sắp bị buộc ra khỏi nhà, theo bản tin của AP tường thuật hôm Thứ Bảy.
Florida đã báo cáo 21,683 trường hợp mới bị lây nhiễm Covid-19, tổng số một ngày cao nhất của tiểu bang kể từ bắt đầu đại dịch tới giờ, theo tài liệu sức khỏe liên bang công bố hôm Thứ Bảy, 31 tháng 7 năm 2021, trong khi các khu giải trí nơi công viên đã bắt đầu yêu cầu khách đeo khẩu trang bên trong, theo bản tin của AP tường thuật hôm Thứ Bảy. Tiểu bang Florida đã trở thành trung tâm mới trên toàn quốc đối với vi khuẩn, chiếm khoảng 1/5 tổng số trường hợp mới lây nhiễm tại Hoa Kỳ.
Lúc nào người csVN cũng sống với căm thù cho nên chưa bao giờ người csVN hiểu được “tinh thần mã thượng” của người Tây Phương. Đa số người Tây Phương đánh nhau “chí chóe”, xong, thì thôi, bắt tay nhau. Còn người csVN, đưa tay ra nhận sự yểm trợ của Mỹ rồi quay lại ra lệnh cho dư luận viên lên án, kết tội Hoa Kỳ!
Một phi cơ chiến đấu đa năng Sukhoi Su-35 của Nga đã rớt xuống Biển Okhotsk, theo lời Lực lượng Quốc Phòng vệ Không Gian Nga cho biết hôm thứ Bảy. Thông cáo báo chí của cơ quan này giải thích rằng phi cơ này lúc đó đang thực hiện chuyến bay huấn luyện, lý do bị rơi là do hỏng động cơ.
Nhiều người Việt ở Mỹ tiếc ngẩn ngơ khi nghe tin hàng trăm ngàn liều vaccine ở những tiểu bang Cộng Hòa có nguy cơ phải bỏ đi vì hết hạn sử dụng, lý do là vì nhiều người dân ở đây không muốn chích ngừa covid-19...
Một văn bản lưu hành nội bộ của CEC nói rằng biến thể, lần đầu được phát hiện tại Ấn Độ và hiện khống chế trên toàn cầu, là lây nhiễm như bệnh trái rạ và lây nhiễm xa hơn cảm cúm bình thường. Nó có thể được truyền nhiễm ngay bởi những người đã chích ngừa, và có thể gây ra bệnh nghiêm trọng hơn các chủng vi khuẩn corona lúc đầu. Tài liều, có tên “Cải thiện thông tin chung quanh việc đột phá thuốc chích ngừa và hiệu quả của thuốc chích ngừa,” nói rằng biến thể đòi hỏi một biện pháp mới để giúp công chúng hiểu sự nguy hiểm – gồm việc làm rõ rằng những người không chích ngừa có 10 lần trở thành bệnh trầm trọng hay chết hơn những người đã chích ngừa.
Một người phát biểu tự xác nhận là Tyler Durden, một vai trong phim Fight Club, chỉ trích các chính sách cách ly Covid của Việt Nam và nói với ông Đỗ: “Ông đến đất nước của tôi, và ông hành động giống như một trong những ký sinh trùng cộng sản. Tôi yêu cầu ông trở về lại Việt Nam [chửi thề lời tục tĩu]!” Đỗ là một người tị nạn mà gia đình ông đã chạy thoát khỏi chế độ cộng sản tại Việt nam và đã sống ở Hoa Kỳ 46 năm. Một người phát biểu khác nói: “Ông có gan đến đây và cố biến đất nước của chúng tôi, hỡi Andrew Do, thành nước cộng sản. Xấu hổ ông quá!” “Ông đã nói về việc chạy thoát cộng sản sáng nay,” theo một người phát biểu khác. “Tại sao ông mang theo cộng sản tới Quận Cam? Chúng tôi muốn tự do. Chúng tôi là người Mỹ, chúng tôi có tự do.”
‘Tổng thu nhập một tháng trên một khẩu của chúng tôi là 40.000 đồng …’ 40.000 đồng có giá trị như thế nào lúc này. Đó là giá của 2 bát phở, giá của 4 lít xăng, giá của hai xuất cơm trưa văn phòng, giá của một cuốc xe ôm trên đoạn đường 10km, giá của hơn một bao thuốc lá 555, giá của 3 ly cà phê… Tôi biết sẽ có rất nhiều người không thể tin rằng tổng thu nhập hàng tháng của một khẩu trong hầu hết những gia đình nông dân lại chỉ với một con số ‘kinh hoàng’ như thế.”
Các lãnh tụ của Đảng Cộng Hòa có thể tiếp tục than phiền về tình trạng kinh tế khó khăn và các chương trình của Biden có khuynh hướng xã hội, nhưng khi nhìn những thống kê về dư luận quần chúng thì rõ ràng quan điểm của Đảng Cộng Hòa không phản ảnh đúng với nhận thức của đa số dân Mỹ.
Nói tới thành tựu của nền văn học miền Nam Việt Nam, không thể không nói tới nhà văn, nhà thơ quân đội, những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vừa cầm súng vừa cầm bút. Người lính nghệ sĩ là chứng nhân của lịch sử miền Nam oai hùng, là những người có khuynh hướng cảm hứng trước cái đẹp của cuộc sống xã hội trong một đất nước loạn lạc. Dù ngày nay, sau 46 năm lưu đày ngay trên đất mẹ hay lưu lạc nơi đâu, người lính cũ Việt Nam Cộng Hòa vẫn bền gan đấu tranh trên mặt trận văn hóa, chính trị cũng như miệt mài, tận tụy với ngòi bút sáng tạo, duy trì và phát huy Văn Học Miền Nam.
Cơn dịch nguy hiểm chết người này là hiện tướng của vô thường, tác hại của nó khó mà tính nổi, mặc khác nó cũng cho chúng ta những bài học thiết thực, nó cũng là hiện thực chứng minh những lời Phật dạy, là cơ hội để quán xét và chiêm nghiệm.
Nhạc Sĩ Tô Hải và Cựu Đại Tá Bùi Tín là hai nhân vật đã có dịp theo dõi và tham gia cuộc sống trong thời gian hai biến cố kể trên xảy ra, đã phục vụ chính quyền Cộng Sản trong Quân Đội Nhân Dân, trong văn nghệ và báo chí, sau đó đã đổi thái độ. Ngày 11/8/ 2018, hơn một tuần lễ trước ngày có thể coi là mở đầu cho định mệnh của hai ông, hai ông cùng qua đời, cùng ở tuổi 91. Câu hỏi được đặt ra là hai ông đã nhận định ra sao về ngày 19/8/1945 này? Người viết xin vắn tắt ghi lại sau đây để người đọc tiện theo dõi và hiểu rõ hơn quan điểm của hai ông, đồng thời cũng xin ghi thêm một vai chi tiết liên quan tới ngày 19/8/1945 ít được mọi người biết tới hay chỉ biết mơ hồ, trong đó có chuyện tấm ảnh của Tướng Cọp Bay Chennault ký tặng Hồ Chí Minh, chuyện Việt Minh lấy đồ trong cung vua đem ra chợ bán, chuyện bốn tấn bạc người Nhật trả lại cho Chính Phủ Việt Nam, chuyện Việt Minh tịch thu của cải của nhà giầu...
Giai đoạn một ra mắt San Manuel với nhiều máy kéo nhất Miền Tây Hoa Kỳ, một phòng chơi bài đặt cược cao mới, nhiều trải nghiệm ẩm thực hơn, ba quầy rượu và ba cửa hàng bán lẻ sang trọng
Nay gần hai mươi tháng, dịch bịnh vẫn đang tái phát ở nhiều nơi trong lúc này như Úc châu, Việt Nam v.v… gây tử vong, lây nhiễm cho hàng triệu người khắp nơi trên toàn cầu. Trước khổ nạn bi thảm về cộng nghiệp của cộng đồng nhân loại như thế, chúng ta nên gia tâm cầu nguyện, khắc phục, sửa sai, chia sẻ… bằng thiện tâm của mình mong nhờ thần lực hóa giải ác nghiệp đang đe dọa cuộc sống chung quanh.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.