Hôm nay,  

Song ngữ: Did the Buddha preach the Dharma, or did he not preach the Dharma? / Đức Phật có thuyết pháp hay không thuyết pháp

22/12/202317:31:00(Xem: 13080)
blank

Đức Phật có thuyết pháp hay không thuyết pháp

 

Tâm Diệu

 

Trong các thuật ngữ của đạo Phật, có lẽ không có từ ngữ nào mà người học Phật cần phải hiểu và cần phải phân biệt rõ ràng, nếu như muốn hiểu giáo lý thâm diệu của đạo Phật như hai thuật ngữ "Chân Đế" và "Tục Đế".

 

Thật vậy, Đức Phật, vì muốn độ chúng sinh thoát khỏi sinh tử luân hồi nên mới nương vào thế giới Tục đế mà nói pháp, nhằm chỉ bày cho chúng sinh thấy được cái bản chất chân thật tự nhiên của Tâm vốn sẵn có, để chúng sinh, tự nỗ lực tu hành giải thoát khỏi khổ đau sinh tử, lìa khỏi thế giới Tục đế, đến thế giới Chân đế.

 

Cũng vì thế mà Ngài Long Thọ Bồ tát nói rằng: "... Các Đức Phật vì chúng sinh, y vào Nhị đế mà nói pháp, thứ nhất là Thế tục đế và thứ hai là Đệ nhất nghĩa đế. Nếu người nào không nhận thức được hai chân lý này, thì đối với Phật pháp sâu xa, không thể hiểu được chân nghĩa. Nếu không nương tựa vào tục đế, thì không thể thấy được chân lý; nếu không thấy được chân lý, thì không thể ngộ được Niết bàn..." [1]

 

Tục đế là một hợp từ: "tục" nghĩa là thế tục, thế gian hay phàm tục, "đế" nghĩa là chân lý. Tục đế có nghĩa là những cái gì mà người thế tục đồng ý với nhau, gọi là chân lý quy ước hay còn gọi là chân lý tương đối, hoặc còn gọi là chân lý thế tục hoặc thực tại tương đối. Nó là tất cả những hiện tượng do duyên khởi tức là pháp sinh diệt trong thế gian nầy.

 

Còn Chân đế, cũng là một hợp từ, có nghĩa là chân lý chân thật không hư vọng, là chân lý tuyệt đối, là chân lý tối thượng, cũng còn gọi là Đệ nhất nghĩa đế, là chân tâm, là giác tánh, là chân như...

 

Chân lý tuyệt đối là gì? Không ai biết được ngoại trừ chính chư Phật và chư Tổ đã giác ngộ. Các Ngài cũng không thể nói cho chúng ta biết được. Toàn bộ giáo điển của chư Phật là pháp phương tiện, Ngài "dùng pháp thế gian, (tức thế tục đế) để giảng nói cho chúng sinh" [2], cốt để chúng sinh ngộ được cái chân lý tuyệt đối như Ngài vì Ngài thấy Tâm Phật và Tâm chúng sinh vốn không khác, vốn tự đầy đủ mênh mông khắp không gian và thời gian.

 

Thật vậy, xuyên qua lời dạy của Phật và chư Tổ, sở dĩ có sự sai khác là vì tâm chúng sinh bị mê mờ ô nhiễm. Cái Tâm bị bao vây bởi tham sân si, bởi vọng tưởng điên đảo, bởi tham nhiễm các pháp có không. Ngài Sogyal Rinpoche, một đại sư Tây tạng, ví Tâm chúng ta bị vây kín trong một cái bình mà "khoảng không trong bình cũng giống như khoảng không bên ngoài. Khi chúng ta giác ngộ, thì cũng như cái bình vỡ tan thành mảnh vụn... Ngay lúc đó và tại chỗ đó, chúng ta trực nhận được rằng chúng chưa từng bao giờ có sự ngăn cách hay sai khác..." [3]

 

Vì tâm sinh diệt của chúng sinh luôn luôn dính mắc vào các pháp "có không" nơi thế giới hiện tượng tức thế giới tục đế, nên Đức Phật thấy thật là khó nói về cái mà Ngài đã chứng ngộ, chẳng hạn như nói về Phật tánh, chân tâm, vốn không hình tướng, không số lượng. Nếu nói chúng sinh có Phật tánh là chấp trước, nói không có Phật tánh là hư vọng, nói Phật tánh cũng có cũng không là nói trái ngược nhau, nói Phật tánh chẳng có chẳng không là hý luận. Nên Phật mới dùng các pháp thế gian phương tiện, "giả lập kệ pháp, giả lập danh tự, vốn chẳng phải Phật, nói với họ là Phật, vốn chẳng phải Bồ Đề, Niết Bàn, giải thoát, nói với họ là Bồ Đề, Niết Bàn, giải thoát, ... Biết họ gánh trăm tạ chẳng nổi, tạm cho họ gánh một lon, một chén, biết họ khó tin giáo liễu nghĩa, tạm nói với họ giáo bất liễu nghĩa, tạm được pháp lành lưu hành còn hơn là pháp ác..." [4].

 

Cũng chính vì chân lý tuyệt đối này rất khó hiểu, khó nhận, khó nói nên đôi khi Ngài phải dùng những thí dụ bằng lời nói, như trong Kinh Pháp Hoa, Phật dùng bảy thí dụ, trong đó có hai thí dụ là cái nhà lửa và câu chuyện đứa con cùng tử mà ai cũng biết. Ngoài ra còn nhiều kinh khác như Bách Dụ Kinh, Tạp Thí Dụ Kinh, Bồ Tát Bổn Sanh Kinh, ... Các thí dụ Ngài nói trong kinh thường dùng phương thức ngụ ngôn, hàm chứa những ý nghĩa thâm thúy, ám thị lý tuyệt đối mà chân lý tuyệt đối này không thể dùng lời trực tiếp mà giảng giải vì lời chỉ là khí cụ diễn đạt cái tư tưởng tương đối, cái có hình, có tướng trong thế giới nhị nguyên.

 

Chư Tổ chứng ngộ cũng vậy, không thể nói cho chúng ta biết được chân lý tuyệt đối là gì, mà quý Ngài chỉ dùng những câu chuyện ngụ ngôn, như câu chuyện con rùa và con cá để làm thí dụ mà thôi. Rằng con rùa từ dưới nước bò lên mặt đất, đi một vòng rồi trở về nước, bơi cạnh con cá, kể chuyện đất liền cho nó nghe. Nhưng con cá, vì chưa bao giờ rời khỏi nước, không thể tưởng tượng nổi lại có một môi trường có thể sống được mà không có nước, không bơi lội. Cho nên con rùa đành chịu mang tiếng là nói chuyện viển vông hoang đường, không có trong thực tế. [5]

 

Cảnh giới tuyệt đối, chân tâm, giác tánh, chân như, mà Phật đã giác ngộ không thể nói cho người chưa chứng ngộ biết được. Vì lẽ đó mà người đời đôi khi cũng phê bình: "Đạo Phật cao siêu quá, không có trong thực tế". Nhưng chính đó mới là cốt tủy của Phật Giáo.

 

Kinh Kim Cang là kinh liễu nghĩa, nói về cốt tủy của đạo Phật, về chân lý tuyệt đối, cho nên không có pháp gì để nói. Những lời Phật dạy trong kinh chỉ giúp chúng sinh phá bỏ những hiểu biết tương đối, phá bỏ những kiến chấp sai lầm cố hữu, những vướng mắc lâu đời vốn là nhân kiên cố của vòng xích luân hồi, đã lôi kéo chúng sinh vào vòng trầm luân muôn vạn kiếp. Ngài phá bỏ không còn một kiến chấp nào và Ngài cũng tuyên bố luôn là Ngài không thuyết pháp:

 

"- Tu Bồ Đề! Ông chớ cho Như Lai có nghĩ rằng: "Ta có nói pháp". Ông chớ nghĩ như vậy. Bởi vì sao?

- Vì nếu người nào nói rằng: Như Lai có nói pháp, tức là chê Phật, không hiểu được lời của ta nói.

- Tu Bồ Đề! Nói pháp, là không có pháp gì nói được, ấy gọi là nói pháp." (6)

 

Có nghĩa là Phật không nói về cái chân lý tuyệt đối, về cái chân tâm, Phật tánh, Chân Như, vì chân lý tuyệt đối vốn chẳng thể dùng ngôn ngữ tương đối thế tục để biểu thị. Ngài chỉ dùng ngôn ngữ thế gian tức chân lý thế tục để chỉ bảo chúng sinh, mà ngôn ngữ thế tục, là pháp tương đối thì không có tự tánh, chỉ do nhân duyên hòa hợp, và do nhân duyên hòa hợp nên không có thật.

 

Đức Phật khi giảng pháp, Ngài luôn luôn nói sự thật. Có khi Ngài nói về sự thật tương đối và có khi Ngài nói về sự thật tuyệt đốị Nếu không hiểu điều đó, chúng ta thấy nhiều điều Ngài nói trái ngược nhau và sẽ làm cho chúng ta bối rối, hiểu mập mờ, hỗn độn (confuse). Thí dụ như trong kinh Đại Bát Niết Bàn đức Phật nói:

 

Chư hành vô thường,

Thị sinh diệt pháp.

Sinh diệt diệt dĩ,

Tịch diệt vi lạc.

 

Tạm dịch là:

 

Các hành vô thường

Là pháp sinh diệt

Sinh diệt hết rồi

Tịch diệt là vui.

 

Hai câu đầu có nghĩa là tất cả các pháp trong thế giới hiện tượng đều vô thường, chúng đều là những pháp sinh diệt. Hai câu sau có nghĩa là khi sinh và diệt không còn sinh diệt nữa thì còn là niềm an lạc. Trong thế giới này, tức thế giới tương đối có sinh và có diệt, còn thế giới kia tức thế giới tuyệt đối thì không sinh không diệt. Nếu chúng ta không hiểu rõ tục đế và chân đế thì cho rằng đức Phật nói trái ngược nhau. Sự thật Ngài luôn luôn nói đúng sự thật. Hai câu đầu là tục đế tức thuộc thế giới hiện tượng tương đối, có sanh và có tử. Hai câu sau thuộc lãnh vực tuyệt đối tức chân đế, không có sinh và không có diệt, là thế giới của pháp tánh hay thế giới của bản thể.

 

Đến đây, chúng ta trở lại bài kệ của Bồ Tát Long Thọ đã nêu trên phần mở đầu. Bồ Tát dạy chúng ta rằng nếu chúng ta không phân biệt được chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối, tức thế tục đế và chân đế, thì chúng ta không thể hiểu được đạo Phật. Do sự không hiểu và không phân biệt rõ này, chúng ta lại nhập nhằng đem lời Đức Phật nói "Không thể nói pháp Tuyệt Đối", mà cho là Đức Phật nói "Không nói pháp Tương Đối" là chúng ta vô tình vướng mắc vào sự hủy báng kinh, chứa đựng những lời tâm huyết của Đức Phật. Ngài đã dùng ngôn ngữ và chân lý thế tục để dạy người thế tục biết cách mà tiến dần trên con đường từ bỏ thế tục, trở về bản thể tuyệt đối. Nếu chúng ta không hiểu được điều đó, mà tưởng rằng Đức Phật không nói pháp, thì chúng ta sẽ mất niềm tin nơi kinh, sẽ mất cơ hội có bản đồ chính xác để tìm đường trở lại bản thể chân tâm tuyệt đối.

 

 ----

 

Ghi Chú

 

 

 

(1).Thích Tâm Thiện, Lịch Sử Tư Tưởng và Triết Học Tánh Không, Nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh 1999.

 

(2). Kinh Đại Bát Nhã, Cuốn 2, Trang 275

 

(3). Sogyal Rinpoche -Thích Nữ Trí Hải dịch, Tinh Chất Cam Lồ, , TP HCM Việt Nam 1969

 

(4). Bá Trượng Ngữ Lục, Thích Duy Lực, Từ ân Thiền Đường xuất bản, 1999 trang 29-30

 

(5). Narada Maha Thera, Đức Phật và Phật Pháp, Phạm Kim Khánh Việt dịch, Đại Nam xuất bản 1987, trang 458-459

 

(6). Thích Huệ Hưng dịch, Kinh Kim Cang Giảng Lục, Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản 1983, trang 82.

 

 

(Trích từ sách Phật Pháp Trong Đời Sống, Nhà xuất bản Hồng Đức 2014)

 

Nguồn:

https://thuvienhoasen.org/p22a21709/15-duc-phat-co-thuyet-phap-hay-khong-thuyet-phap

 

.... o ....

 

Did the Buddha preach the Dharma, or did he not preach the Dharma?

 

Author: Tâm Diệu

Translated by Nguyên Giác

 

 To comprehend the profound teachings of Buddhism, students of Buddhism must understand and clearly distinguish between the two terms "Ultimate Truth" and "Conventional Truth."

  

The Buddha relied on worldly truth to speak Dharma in order to save sentient beings from the cycle of birth and death. His aim was to reveal the true nature of the existing mind to sentient beings, so that they could make their own efforts to practice and liberate themselves from the suffering of birth and death. This would enable them to leave the world of conventional truths and reach the world of ultimate truth.

 

That's why Nagarjuna Bodhisattva said, "For the sake of sentient beings, the Buddhas speak the Dharma based on the Two Truths: the first is the conventional truth, and the second is the ultimate truth. Anyone who is unaware of these two truths cannot understand the profound meaning of the Dharma. If one does not rely on conventional truths, one cannot see the truth; if one cannot see the truth, one cannot realize Nirvana."

 

The conventional truth, also known as secular truth, is a compound word: "secular" refers to worldly, and "truth" denotes truth. Conventional truth refers to the consensus among secular individuals, also known as relative truth or secular reality. All phenomena arise due to conditions, known as dharmas, and they arise and pass away in this world.

 

As for the ultimate truth, it is a compound word signifying genuine truth, not falsehood. It represents the absolute truth, the supreme truth, the truth of highest significance, the true mind, the nature of awareness, or suchness.

 

What is the absolute truth? No one knows, except the enlightened Buddhas and Patriarchs. They also cannot inform us. The entire teachings of the Buddhas are expedient methods. The Buddha utilized worldly dharma, the conventional truth, to teach living beings so that they could comprehend the absolute truth, just as he did, perceiving no distinction between the mind of Buddha and the mind of any worldly being. The same mind is inherently self-sufficient and vast across space and time.

 

Indeed, the teachings of the Buddha and the Patriarchs are often misinterpreted due to the confusion and pollution of the reader's mind. When the mind is consumed by greed, anger, and ignorance, as well as contradictory delusions, and by clinging to attachments of existence or non-existence, that is the moment of turmoil. Sogyal Rinpoche, a renowned Tibetan master, compares our mind to being enclosed in a vase, stating that "the space inside the vase is the same as the space outside. When the practitioner achieves enlightenment, it is akin to seeing a vase shattered into pieces. Right then and there, the practitioner directly perceives that space has never had any separation or difference."

 

Because the minds of sentient beings are constantly arising and passing away, always attached to the existence or non-existence of the phenomenal world (i.e., the worldly truth), the Buddha found it difficult to articulate the Dharma that he realized, such as Buddha nature or the true mind, which has no form or quantity. If we assert that sentient beings possess Buddha nature, we embrace the mistaken concept of existence. If we deny the existence of Buddha nature, we are holding onto an illusion. If we assert that Buddha nature both exists and does not exist, it leads to a contradiction. If we assert that Buddha nature is neither existent nor nonexistent, it becomes nonsensical. That's why Buddha used the concept of worldly dharma, which refers to half-truths in verses, names, and words. Where there was no Buddha, he still claimed that there was a Buddha. Similarly, even in the absence of Bodhi, Nirvana, or liberation, the Buddha still informed the audience that it was Bodhi, Nirvana, or liberation. Understanding that the listeners were unable to carry a load of hundreds of kilograms, the Buddha temporarily allowed them to carry either one vase or one cup. The Buddha understood that his listeners struggled to believe in teachings with ultimate meanings. Therefore, he temporarily shared teachings that did not have ultimate meanings, allowing beneficial worldly teachings to circulate temporarily, rather than allowing harmful beliefs to arise.

 

Because this absolute truth is very difficult to understand, live with, and interpret, the Buddha sometimes had to use similes. As in the Lotus Sutra, Buddha used seven examples, two of which are well-known: the house on fire and the story of the wandering son. There are also numerous other sutras, including the Sutra of One Hundred Similes (Bách Dụ Kinh), the Sutra of Multiple Similes (Tạp Thí Dụ Kinh), the Jataka Tales (Bồ Tát Bổn Sanh Kinh), and more. In numerous sutras, the Buddha employed metaphors with profound meanings to illustrate the absolute truth, which cannot be directly conveyed in words because words can only express worldly ideas that have shape and form in the realm of duality.

 

Similarly, the Enlightened Patriarchs are unable to provide us with the absolute truth; instead, they rely on parables, such as the story of the turtle and the fish, to illustrate their points. The turtle emerged from the water, moved around on land, and then returned to the water. It swam alongside the fish and shared stories about the land. The fish, having never left the water, cannot imagine an environment where it can survive without water and without swimming. Consequently, the turtle had to bear the reputation of speaking about wild nonsense that had no basis in reality.

 

The absolute realm to which the Buddha was enlightened—such as the true mind, nature of awareness, and suchness—cannot be explained to ignorant people. For that reason, people sometimes criticize Buddhism as being too sublime, too abstract, and disconnected from reality. But that is the essence of Buddhism.

 

The Diamond Sutra is one of the most profound sutras, delving into the essence of Buddhism and the absolute truth, asserting that there is truly no dharma to speak of. The Buddha's teachings in this sutra assist sentient beings in overcoming their relative understandings, inherent wrong views, and long-standing entanglements that are significant causes of the cycle of reincarnation. These factors have led sentient beings into an almost eternal cycle of birth and death.

 

The Buddha rejected all attachment to views and stated that he never claimed to preach the Dharma. The Diamond Sutra states: "Subhuti! Do not let the Tathagata think that the Buddha taught the Dharma. Please do not think like that. Why? If anyone claims that the Tathagata spoke the Dharma, it implies that this person is criticizing the Buddha and does not understand my teachings. Subhuti! To speak the Dharma is to say that there is no Dharma to say; that is called speaking the Dharma."

 

Buddha does not discuss the absolute truth, the true mind, Buddha nature, or True Suchness, as these concepts cannot be expressed in the relative language of the world. He only employs mundane language, or the secular truth, to guide sentient beings. However, mundane language, which is conditioned dharma, is inherently empty. It appears through the combination of causes and conditions and therefore cannot indicate the unconditioned truth.

 

When preaching the Dharma, the Buddha always spoke the truth. Sometimes the Buddha discussed conventional truth, and at other times, he discussed absolute truth. If we fail to comprehend this, we may perceive many of the Buddha's teachings as contradictory, leading to misunderstanding or confusion.

 

For example, in the Mahaparinirvana Sutra, the Buddha said,

 

"All formations are impermanent;

they are the phenomena of birth and death.

When birth and death come to an end,

cessation is bliss."

 

The first two lines indicate that all phenomena in the secular world are impermanent; they are all subject to birth and death. The last two lines imply that once birth and death cease to exist, what will remain is blissful peace. This world is a realm of relative birth and death. As for the world on the other shore, the absolute world, there will be no birth and no death. If we do not have a clear understanding of the conventional truth and the ultimate truth, we may mistakenly believe that the Buddha made contradictory statements. In fact, Buddha always spoke the truth. The first two lines express the conventional truth, which pertains to the realm of relative phenomena, where birth and death occur. The last two lines pertain to the absolute realm, which represents the ultimate truth. In this realm, there is no birth or death; it is the world of dharma nature, or the world of inherent essence.

 

At this point, we return to the verse of Bodhisattva Nagarjuna mentioned in the opening of this article. Bodhisattva teaches us that if we cannot distinguish between relative truth and absolute truth, that is, worldly truth and ultimate truth, then we cannot fully comprehend Buddhism. Due to this lack of understanding and lack of distinction, we ambiguously interpret the Buddha's words to mean that the Absolute Dharma cannot be conveyed, and mistakenly believe that the Buddha did not speak about the Relative Dharma. This unintentionally leads to slandering the sutras, which contain the essential words of the Buddha. He employed everyday language and conventional truths to instruct ordinary people on how to gradually advance on the path of renouncing the phenomenal world in order to reconnect with their essential nature. If we fail to comprehend this and believe that the Buddha did not teach the Dharma, we may lose faith in the sutras and miss the chance to possess an accurate guide to rediscover the true nature of the absolute mind.

 

(Excerpted from the book Live The Buddhist Teachings, Hồng Đức Publishing House, 2014)

 

.... o ....




Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Có vẻ như con người thời nay càng lúc càng trở nên lười biếng, thụ động; nhất là từ khi nhân loại bước vào kỷ nguyên tin học, truyền thông liên mạng. Tin học đã đem con người khắp hành tinh gần lại với nhau, nhưng chỉ trong khoảng thời gian ngắn, chính nó bị con người lạm dụng để bóp méo, biến dạng sự thực cho những mục tiêu bất chính của cá nhân, bè phái.
New York, New Jersey và Connecticut đã ban hành một khuyến cáo đi lại vào Thứ Tư, 24 tháng 6 năm 2020, yêu cầu những người đến từ các tiểu bang có tỷ lệ vi khuẩn corona cao phải cách ly trong 14 ngày, theo bản tin của CNN cho biết. Thống Đốc New York Andrew Cuomo, Thống Đốc New Jersey Phil Murphy và Thống Đốc Connecticut Ned Lamont cho biết lời khuyên đi lại áp dụng cho bất kỳ ai đến từ một tiểu bang có tỷ lệ thử nghiệm dương tính cao hơn 10 trên 100,000 cư dân trên trung bình 7 ngày hoặc một trạng thái với tỷ lệ dương tính 10% hoặc cao hơn so với trung bình 7 ngày. “Chúng tôi phải đảm bảo vi khuẩn không xuất hiện trên máy bay,” Cuomo nói. “Chúng tôi đã làm việc rất chăm chỉ để giảm tốc độ truyền nhiễm vi khuẩn và chúng tôi không muốn thấy nó tăng lên,” theo ông nói thêm.
Quân đội Mỹ đang triển khai những con số “chưa từng có” tới khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, làm tăng nguy cơ xảy ra đụng độ với hải quân Trung Quốc, theo một quan chức cấp cao của Trung Quốc cho biết hôm Thứ Ba, 23 tháng 6. Các căng thẳng giữa hai siêu cường đã tăng vọt trên nhiều mặt trận kể từ khi Tổng Thống Donald Trump nhậm chức năm 2017, với cả hai nước nắn gân ngoại giao và quân sự. Các hoạt động “tự do hàng hải” thường xuyên của Hoa Kỳ ở Biển Đông - nơi Trung Quốc và các nước láng giềng có tranh chấp – làm tức giận Bắc Kinh, và hải quân Trung Quốc thường cảnh báo tàu Mỹ.
Bất chấp các viên chức y tế công cộng hàng đầu của quốc gia mâu thuẫn với ông, Tổng Thống Donald Trump vẫn tiếp tục khẳng định vi khuẩn corona “đang biến mất” - khi ông tiếp tục thúc đẩy các tiểu bang mở lại nền kinh tế của họ và đẩy mạnh vận động tái tranh cử của ông. Ngay cả khi chuyên gia hàng đầu của chính phủ về bệnh truyền nhiễm, Bác Sĩ Anthony Fauci cảnh báo các nhà lập pháp hôm Thứ Ba về sự cần thiết phải tiếp tục hoặc tăng các biện pháp phòng ngừa mạnh mẽ để ngăn chặn cái mà ông gọi là “sự gia tăng đáng lo ngại,” Trump, phát biểu tại một nhà thờ lớn ở tiểu bang nóng Arizona có rất nhiều người ủng hộ không đeo mặt nạ, bác bỏ những lo ngại về COVID-19. “Nó đang đi khỏi,” ông Trump nói thế, gọi vi khuẩn corona “tai họa” và lập đi lập lại rằng sự gia tăng các trường hợp lây nhiễm vi khuẩn corona tại Hoa Kỳ có thể là do gia tăng thử nghiệm.
Trong khi thế giới vật lộn với đại dịch COVID-19 đang diễn ra, một nghiên cứu mới cho thấy các kháng thể - protein được tạo ra bởi hệ thống miễn nhiễm có thể bảo vệ chống tái nhiễm trùng - có thể mờ dần ít nhất 2 tháng sau khi bị nhiễm ở một số người đã bình phục từ vi khuẩn. Nghiên cứu được thực hiện tại TQ và được phổ biến trên tạp chí Nature Medicine. Đặc biệt, các tác giả của nghiên cứu phát hiện ra rằng những người bị lây Covid-19 mà chưa bao giờ phát triển các triệu chứng thì có thể thấy kháng thể của họ mờ nhạt nhanh hơn những người đã thử nghiệm dương tính đối với vi khuẩn và cũng giảm theo các triệu chứng của nó.
Các nhà hoạt động tại VN gồm Cấn Thị Thiêu và 2 người con trai là Trịnh Bá Phương và Trịnh Bá Tư, bà Nguyễn Thị Tâm, Trịnh Cẩm Thúy đã bị công an CSVN bắt tại nhiều nơi khác nhau ở VN hôm 24 tháng 6 năm 2020, theo bản tin của Đài Á Châu Tự Do (RFA) cho biết hôm Thứ Tư.
Sau 95 năm gào cùng một giọng nền Báo chí gọi là “cách mạng” của đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) vẫn trơn tru uốn lưỡi phóng ra câu giả dối rằng:”Tự do ngôn luận, tự do báo chí là những quyền cơ bản của con người đã được Việt Nam cam kết thực hiện theo những nguyên tắc chung của Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền.” (báo Quân đội Nhân dân (QĐND), ngày 15/6/2020). Điều không thật này đã được Ban Tuyên giáo, tổ chức tuyên truyền và chỉ huy báo chí-truyền thông sử dụng từ lâu, nay được lập lại để kỷ niệm 95 năm ngày gọi là “Báo chí cách mạng Việt Nam” (21/6/1925-21/6/2020).
Khi các tường trình đưa ra về cách Tổng Thống Trump đã “xin” Chủ Tịch Tập của Trung Quốc giúp đỡ trong việc cạnh tranh tái đắc cử của Trump, báo cáo mới từ báo Wall Street Journal cho thấy chồng của bà Michelle Steel, ứng cử viên Quốc Hội của Quận Cam, là trung tâm của vụ tai tiếng đối với việc làm của ông để mở ra cánh cửa cho những người có quốc tịch Trung Quốc đưa hàng trăm ngàn đóng góp chính trị cho các nỗ lực tái tranh cử của Trump và Ủy Ban Quốc Gia Đảng Cộng Hòa (RNC). Theo báo Journal, ra ngày 23 tháng 6 năm 2020, hàng trăm ngàn đóng góp chính trị đến từ những người ngoại quốc có quốc tịch TQ là những người đã có mối quan hệ chặt chẽ với bộ máy an ninh quốc gia và chính quyền trung ương TQ. Những đóng góp này cũng nằm trong số lớn nhất đối với việc tái đắc cử của Trump năm 2017 và được thực hiện vào thời điểm Chính Phủ Trump đang có kế hoạch cho chính sách đối với TQ.
Cố vấn y tế của Bạch Ốc là Bác Sĩ Anthony Fauci hôm Thứ Ba, 23 tháng 6 nói rằng nhiều vùng của nước Mỹ đang chứng kiến “sự gia tăng mạnh” trong truyền nhiễm vi khuẩn corona. Trong khi tiểu bang New York đang thấy sự sút giảm của các trường hợp bị lây Covid-19, các tiểu bang khác đang chứng kiến sự gia tăng các trường hợp mà “phản ánh sự gia tăng trong lây lan cộng đồng,” theo BS Fauci, giám đốc Viện Dị Ứng Và Bệnh Truyền Nhiễm Quốc Gia, đã nói trong phiên điều trần trước Ủy Ban Năng Lượng Và Thương Mại Hạ Viện. “Đó là điều mà tôi thực sự rất quan tâm.” Vi khuẩn corona, đã làm hơn 2.4 triệu người Mỹ mắc bệnh, tiếp tục lây lan nhanh chóng trên khắp Hoa Kỳ. Tính đến Thứ Hai, trung bình 7 ngày của Hoa Kỳ về các trường hợp lây nhiễm mới đã tăng hơn 30% so với một tuần trước, theo phân tích của CNBC đối với dữ liệu của Đại Học Johns Hopkins. Các trường hợp đang tăng từ 5% trở lên ở 26 tiểu bang, bao gồm Arizona, Texas, Florida và Oklahoma. Số người vào bệnh viện vì vi khuẩn corona cũng
Hàng chục cựu viên chức an ninh quốc gia của Đảng Cộng Hòa tại Hoa Kỳ đang thành lập một nhóm sẽ ủng hộ ứng cử viên tổng thống của Đảng Dân Chủ Joe Biden, theo những người quen thuộc với nỗ lực này cho biết, trong một dấu hiệu nữa cho thấy Tổng Thống Donald Trump đã xa lánh một số thành viên trong đảng của mình, theo bản tin của Reuters cho biết hôm Thứ Ba, 23 tháng 6. Nhóm này sẽ công khai ủng hộ Biden trong những tuần tới và các thành viên của nhóm lên kế hoạch tranh cử cho cựu phó tổng thống đang thách thức ông Trump trong cuộc bầu cử ngày 3 tháng 11, theo các nguồn tin cho biết. Nhóm này bao gồm ít nhất hai chục viên chức phục vụ dưới thời Tổng Thống Cộng Hòa Ronald Reagan, George H.W. Bush và George W. Bush, với hàng chục người khác đang thảo luận để tham gia, theo các nguồn tin cho biết thêm.
Bờ biển phía nam Mexico đã bị rung chuyển bởi một trận động đất mạnh vào sáng Thứ Ba, 23 tháng 6 năm 2020, giết chết ít nhất 5 người và gây ra cảnh báo sóng thần cho bờ biển Thái Bình Dương dọc theo Trung Mỹ. Cơ Quan Thăm Dò Địa Chất Hoa Kỳ (USGS) cho biết trận động đất có cường độ ban đầu là 7.4 và xảy ra lúc 11 giờ 29 sáng miền đông, 7 dặm về phía tây Santa María Zapotitlán, Mexico. Trận động đất có độ sâu khoảng 20 dặm và đã được tập trung dọc theo bờ biển Thái Bình Dương của tiểu bang Oaxaca gần khu nghỉ mát của Huatulco. Trận động đất được cảm nhận tới Guatemala và qua tận miền nam và miền trung Mexico.
Facebooker có tên “Giáo Sư Hớt Tóc” đã bị tòa án tỉnh Hòa Bình, miền Bắc VN tuyên án 6 năm tù vì bị buộc tội “phát tán thông tin chống nhà nước,” theo bản tin của Đài Á Châu Tự Do (RFA) cho biết hôm 23 tháng 6 năm 2020.
Văn hóa nước Tàu đã ảnh hưởng Việt Nam từ nhiều năm xưa, cho nên nhiều người lớn tuổi đã đọc truyện kiếm hiệp Kim Dung hay truyện Tàu đều biết danh từ Thủ Cung Sa là gì. Đó là một cái chấm bằng hột đậu màu đỏ trên cườm tay người con gái để chứng tỏ còn trinh trắng. Theo truyền thuyết thì người ta dùng máu con thằn lằn trộn với chu sa màu đỏ rồi bôi lên một huyệt vị trên cườm tay tạo nên chấm đỏ ấy. Khi người con gái đã quan hệ tình dục rồi thì chấm đỏ ấy nhạt dần. Thời xưa phong kiến thì xã hội coi trọng trinh tiết cho nên những gia đình quyền quí, những ông vua, ông quan, những tổ chức tôn giáo bên Tàu áp dụngThủ Cung Sa. Thời đại này chuyện trinh tiết không còn là vấn đề quan trọng nữa cho nên Thủ Cung Sa trở thành chuyện xưa tích cũ, kể cho nhau nghe làm quà câu chuyện.
Ngày 19 tháng 6 là ngày QLVNCH để lại cho tôi rất nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Cộng đồng VN tị nạn Cộng Sản ở khắp nơi trên thế giới đều tổ chức kỷ niệm ngày QLVNC , vì dịch cúm Covid-19 càng ngày càng lây lan cho nên đồng bào tổ chức kỷ niệm trong sự hạn chế của chánh phủ không tổ chức rần rần rộ rộ như mấy chục năm về trước. Tuy nhiên ban tổ chức cũng tổ chức theo nghi lễ, chào cờ, một phút mặc niệm để tưởng nhớ anh hùng tử sĩ đã hy sinh vì tổ quốc.
“Muốn chỉ một cá nhân nào đó, tùy theo giai cấp, tín ngưỡng, tùy theo lúc sống hay chết, tùy theo già hay trẻ, người Việt Nam có rất nhiều tên để gọi. Ngôn ngữ Việt có những từ sau đây chỉ các loại tên: bí danh, bút hiệu, nhũ danh, nghệ danh, pháp danh, pháp tự, pháp hiệu, tên, tên cái, tên đệm, tên họ, tên gọi, tên chữ, tên cúng cơm, tên hèm, tên hiệu, tên húy, tên riêng, tên thánh, tên thụy, tên tục, tên tự, thương hiệu.” (Ngưng trích: Nguyễn Long Thao- DANH XƯNG ĐẶC BIỆT CỦA THƯỜNG DÂN VIỆT NAM)
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.