Hôm nay,  

Tình Yêu Bất Diệt

01/09/202412:34:00(Xem: 3919)

blankHình trên: Phó Tế Nguyễn Mạnh San, Tuyên Úy Trại Tù Liên Bang & Tiểu Bang Oklahoma đến ủy lạo và cố vấn vấn đề pháp lý cho anh chị em tù nhân trong trại tù vào ngày 24-08-2024 tại Oklahoma City, Oklahoma.
  

TÌNH YÊU BẤT DIỆT
  

Phó Tế Nguyễn Mạnh San
  

Có nhiều người tự hỏi là tại sao sang đến xứ tự do tạm dung này lại có những chuyện buồn như thế xảy ra cho người đàn ông, thay vì chỉ thường thấy xảy ra cho người đàn bà khi chúng ta còn ở quê nhà. Chắc rất nhiều người trong chúng ta, nhất là phái nam, đều hiểu rõ có nhiều nguyên nhân rất sâu xa, tế nhị, phức tạp, không tiện nêu ra ở đây, nhưng câu chuyện tình buồn được kể lại sau đây là một trong những trường hợp điển hình, có thể tiêu biểu cho một số cuộc tình tan vỡ của những người đang sinh sống tại Hoa Kỳ.

Mỗi khi chúng ta nói đến tình yêu chung thủy là đa số thường chỉ nghĩ đến giới phụ nữ. Như người tình phái nữ chung thủy hay người vợ chung thủy, chứ ít ai nghĩ đến người tình phái nam chung thủy hay người chồng chung thủy. Bởi vì những vụ tự tử bị thất tình, bị người yêu bỏ rơi hay bị người chồng phản bội tình yêu chung thủy của mình, mà trước kia thường thấy xảy ra tại quê nhà, thì đa số nạn nhân là giới phụ nữ. Nhưng kể từ ngày chúng ta phải rời bỏ quê hương yêu dấu, để sinh sống trên phần đất tạm dung tự do này, thì có khá nhiều nạn nhân lại là phái nam. Chẳng hạn như người yêu phái nữ bỏ rơi người tình hiện tại của mình, để sánh vai với người tình mới hoặc người vợ bỏ chồng và đôi khi còn nhẫn tâm bỏ cả đàn con thơ dại để đi theo tiếng gọi của tình yêu mới. Chỉ có một điều khác biệt là trong những trường hợp như vậy, nếu nạn nhân là phái nữ thì họ thường đi tìm quên lãng trong trong sự chết, còn nạn nhân nếu là phái nam thì họ thường đi tìm sự quên lãng trong men rượu, hoặc họ bị đưa vào nhà thương tâm thần hay đôi khi họ cũng tìm sự chết bằng cách giết người tình, giết vợ, giết con, cuối cùng tự giết mình.

Cách đây gần 22 năm, anh A tình cờ gặp chị B tại một trại tỵ nạn ở Nam Dương. Sau một thời gian quen biết nhau khá dài, gần 2 năm ở chung cùng một trại, rồi càng ngày hai người cảm thấy thương yêu nhau thắm thiết nên trước ngày rời khỏi trại, hai người đã thề hứa với nhau, là sau này nếu hai người có phải xa cách nhau hàng nghìn trùng dặm, mỗi người phải định cư ở bất cứ một quốc gia tự do nào trên thế giới, thì bằng mọi cách họ sẽ phải tìm đến nhau để sống trọn đời bên nhau. Thật là Chúa luôn chúc phúc cho những kẻ chân thành yêu nhau thắm thiết, như trường hợp anh A và chị B, nên lời thề hứa của hai người đã được Chúa chúc phúc. Vì sau ngày thề hứa, cả hai người được phép định cư tại Hoa Kỳ. Chị B được xuất trại trước anh A để đến sống chung với gia đình người Mỹ bảo trợ tại tiểu bang California, còn anh A, bốn tháng sau cũng được xuất trại để đến định cư tại tiểu bang Massachusetts, do một gia đình người Mỹ Công Giáo, đại diện cho một giáo xứ Mỹ đứng ra bảo trợ anh.

Không đầy một tháng sau ngày anh A đặt chân trên đất Hoa Kỳ, anh kể lại câu chuyện tình yêu của anh với chị B khi còn ở trong trại và những lời thề hứa của hai người cho Cha Mỹ chánh Xứ nghe. Thế là Cha Chánh Xứ tức khắc liền sẵn lòng bỏ tiền mua vé máy bay để đón chị B từ California về đoàn tụ với anh tại tiểu bang này. Sau đó, gia đình người bảo trợ chị B cùng hợp tác với gia đình người bảo trợ anh A, đứng ra tổ chức Lễ Thành Hôn cho hai người rất trang nghiêm tại Nhà Thờ và mọi phí tổn cho bữa tiệc cưới linh đình của Cô Dâu và Chú Rể cũng do hai gia đình bảo trợ đài thọ, để khoản đãi các quan khách Mỹ của xứ đạo, theo nghi thức cổ truyền của Việt Nam tại một nhà hàng Trung Hoa khá sang trọng; trường hợp của Cô Dâu Chú Rể này, thật đúng như câu mà người đời thường nói: “Chuột sa hũ nếp”.

Sau ngày cưới, qua sự giới thiệu của người bảo trợ, anh A được thâu nhận vào làm nhân công cho một trong những hãng thầu xây cất nhà cửa lớn nhất tại tiểu bang này. Nhờ sự cần cù làm việc chăm chỉ, tính tình vui vẻ hòa nhã và trí thông minh bén nhậy của anh, anh A đã dễ dàng chinh phục được cảm tình của tất cả mọi nhân công trong hãng, từ cấp trên xuống dưới, kể cả những người làm việc về hành chánh ở trong văn phòng của hãng. Chỉ hơn một năm sau, anh được ông chủ hãng cân nhắc lên chức vụ Cai Thầu, dưới sự chỉ huy trực tiếp của anh, có hơn một trăm công nhân, 50% là người Mỹ, còn lại là những người thiểu số thuộc các quốc gia khác nhau như: Đại Hàn, Phi Luật Tân, Mễ Tây Cơ .v.v… và đặt biệt chỉ có mình anh là người Việt Nam duy nhất làm việc trong hãng này. Anh làm việc ít nhất 12 tiếng mỗi ngày, nên tiền lương hàng tháng của anh kiếm hơn gấp hai lần tiền lương hàng tháng của một kỹ sư chuyên nghiệp mới ra trường. Nhờ vậy vợ anh không cần phải đi làm, chỉ ở nhà săn sóc con cái cho anh và cứ cách 2 hoặc 3 năm, chị lại mến tặng cho anh thêm một tí nhau kháu khỉnh nữa, làm cho anh phấn khởi tinh thần, anh lại càng hăng say trong công việc để làm thêm nhiều giờ mỗi ngày, kiếm được nhiều tiền hơn trước.

Sau 6 năm liên tục làm việc chăm chỉ cực nhọc, làm nhiều giờ mỗi ngày, anh đã để dành dụm ra được một số tiền khá lớn và học được nhiều kinh nghiệm trong ngành xây cất và sửa chữa nhà cũ, nên anh thấy đã đến lúc anh phải mở một hãng thầu xây cất nho nhỏ, do chính anh làm chủ, thì mới hy vọng mau trở nên nhà triệu phú được và anh đã xin nghĩ việc với hãng thầu từ đó. Đúng như lòng ước vọng và sự dự đoán của anh, chỉ 3 năm sau khi tự mình đã làm chủ hãng, tiền anh kiếm được mỗi năm vào như nước chảy. Anh xây cất căn nhà mới toanh cho gia đình anh ở, trị giá hơn năm trăm ngàn và mua sắm 2 chiếc xe hơi Mercedes mới tinh, một chiếc cho vợ lái và một chiếc cho anh. Cuộc sống vương giả, đầy thơ mộng hạnh phúc của gia đình anh mới kéo dài chưa đủ một năm, thì một ngày đẹp trời, vợ anh nhỏ nhẹ tỏ bày cho anh biết chị không thể tiếp tục cuộc sống trên nhung lụa với anh được nữa, vì ban ngày cũng như ban đêm, lúc nào trong lòng chị cũng cảm thấy hết sức cô đơn và buồn chán, nên chị quyết định phải ra đi đến một tiểu bang xa khác để lập lại cuộc đời của chị. Chị yêu cầu anh hãy ký vào giấy tờ ly dị do luật sư của chị đã làm sẵn và hãy bằng lòng để cho chị được phép nuôi 2 đứa con nhỏ, còn 2 đứa lớn thì để lại cho anh nuôi. Những lời của vợ anh nói ra chẳng khác nào như những mũi tên nhọn đâm xuyên thủng con tim của anh. Nhưng anh vẫn cố gắng nén nổi xúc động, bình tĩnh, yên lặng để nghe cho hết những lời nói của vợ và tới giờ phút này anh mới hiểu rằng vợ anh đã hết thương yêu anh, để đi theo tiếng gọi của tình yêu mới, mà anh chưa biết được người yêu mới của vợ mình là ai? Tuy nhiên cho dù vợ mình là kẻ bạc tình, bạc nghĩa đối với anh, nhưng lòng anh vẫn còn thương yêu vợ như ngày đầu anh gặp chị ở trong trại tỵ nạn và cộng với tình thương yêu con cái, nên anh sẵn lòng ký tên vào giấy ly dị, để thỏa mãn tất cả những điều kiện đòi hỏi của vợ đã dược luật sư của chị ghi sẵn trong giấy tờ.

Kể từ khi vợ anh mang theo 2 đứa con nhỏ để cùng chung sống với người yêu mới tại một tiểu bang xa xôi khác, anh vẫn tiếp tục hăng say trong công việc cũ và mỗi sáng lái xe đưa con đến trường học, chiều đến đón con về nhà. Tối đi làm về, anh tự tay săn sóc, nấu ăn cho 2 con ăn, rồi kèm bài vở của nhà trường cho chúng trước khi chúng lên giường đi ngủ. Bất ngờ vào một buổi tối, anh nhận cú điện thoại gọi từ ngoài tiểu bang và tiếng nói ở đầu đường dây bên kia là đứa con trai áp út, 7 tuổi của anh vừa khóc vừa kể cho anh nghe, là hai anh em chúng nó bị bố ghẻ đánh đập chúng nó mỗi ngày. Nghe thấy thế, tức tốc ngày hôm sau anh mua vé máy bay, tìm đến người vợ cũ để hỏi đầu đuôi câu chuyện này xem ra sao. Lẽ dĩ nhiên chị B bênh vực người chồng mới của mình, nói rằng chúng bịa chuyện, nói láo với anh, chứ thật tình chồng chị không hề đánh chúng nó bao giờ. Không tin lời chị nói và vì cảm thấy quá đau xót cho hai đứa con của anh bị đánh đập, nên ngày hôm sau, anh cố tìm đến trường học của hai đứa nhỏ, để gặp chúng sau giờ tan trường và không cần suy nghĩ về hành động của anh sắp làm có hợp pháp hay bất hợp hợp pháp, anh liền chở chúng nó lên phi trường, mua vé máy bay, định đưa chúng nó về nhà ở với anh ngay buổi chiều hôm ấy.

Khi máy bay vừa hạ cánh đáp xuống phi trường nơi anh ở, anh và hai con vừa bước ra khỏi cửa máy bay, anh chưa kịp nói lời nào với hai con, thì đã thấy hai người đàn ông tiến lại gần anh, một người đưa thẻ hình sự cho anh xem và còng hai tay anh lại, dẫn anh đi ngay, còn người đàn ông kia thì nắm tay hai đứa con của anh, dẫn chúng đi theo hướng khác. Đồng thời trước khoảng 1 tiếng đồng hồ máy bay của anh hạ cánh xuống phi trường, thì cũng có hai nhân viên chính quyền đến nhà của anh dẫn 2 đứa con đi ra khỏi nhà, đứa lớn nhất mới 14 tuổi, đứa thứ nhì 11 tuổi. Vừa tới trại giam, anh được người ta cho biết là anh bị cáo buộc 3 trọng tội: Tội thứ nhất là bắt cóc con nít, tội thứ hai là xâm nhập gia cư bất hợp pháp và tội thứ ba là hành hung đối phương với vũ khí nguy hiểm. Còn 4 người con của anh thì đã được đưa đến một nơi trú ẩn an toàn, do nhân viên bộ xã hội chăm sóc, anh không cần phải lo lắng gì về chúng cả.
   

Sau một tháng bị giam giữ, luật sư của anh vào trại giam cho biết nếu anh chịu chấp nhận tội bắt cóc con anh, thì vị luật sư bên Công Tố Viện sẽ miễn truy tố anh về 2 tội kia và Tòa sẽ chỉ phạt nhẹ anh 15 năm tù, thay vì anh sẽ phải lãnh nhận án phạt 3 trọng tội là 30 năm tù. Anh cương quyết không chấp nhận một tội trạng nào hết, vì anh nghĩ rằng anh hành động như vậy là vì anh quá đau xót cho con mình bị bố ghẻ đánh đập nên anh đã hấp tấp đưa chúng nó đi theo anh, mà đáng nhẽ anh phải nhờ luật sư đưa nội vụ ra Tòa quyết định xem có cho phép anh đưa chúng nó đi hay không. Nhưng anh cho biết là hai cô giáo dạy học con anh ở trường, sẵn sàng ra Tòa làm nhân chứng, là vì hai em có nói cho cô giáo biết từ lâu là hai em đã bị bố ghẻ đánh đập nhiều lần, nhưng vì không nhìn thấy rõ vết tích ở trên thân thể của hai em, nên hai cô giáo giữ im lặng. Còn tội thứ hai thì chính người vợ cũ của anh và người chồng mới của chị đã vui vẻ mời anh vào phòng khách trong nhà của họ để ngồi nói chuyện, và cả ba người đã trao đổi cho nhau những câu hỏi và những câu trả lời trong tinh thần hòa nhã, không có một điều gì to tiếng hay bất nhã xảy ra cả. Vậy làm gì có vấn đề xâm nhập gia cư bất hợp pháp và hành động hành hung như tội thứ ba đã gán buộc cho anh. Anh tin tưởng rằng Quan Tòa sẽ sáng suốt thông cảm cho nổi lòng đau khổ của anh, vì quá thương con nên anh mới có hành động thiếu suy xét như vậy và anh hy vọng Tòa sẽ tha bổng anh để anh về nhà sum hợp với 4 đứa con yêu quý của anh.
   

Bị nằm trong tù đã hơn 8 tháng để chờ đợi phiên Tòa xét xử, đã cho anh những ngày giờ kéo dài lê thê như hằng thế kỷ và tạo cho anh sự yên lặng trong tâm hồn, để anh có nhiều thì giờ suy nghĩ lại từng sự việc đau buồn đã xảy đến cho cuộc đời anh, giúp anh hiểu rằng, không nhiều thì ít, anh đã có lỗi một phần lớn trực tiếp hay gián tiếp, và trách nhiệm trong vấn đề để vợ anh bỏ anh, mang theo 2 đứa con nhỏ để đi theo tiếng gọi của tình yêu mới. Vì anh cứ tưởng rằng có tiền là có tất cả mọi sự trên đời, này như câu châm ngôn mà người ta thường nói “Có tiền mua tiên cũng được”, nên anh đã say sưa trong biển tiền, làm việc ngày cũng như đêm, như những con thiêu thân, cứ lao đầu vào chỗ chết trước ánh đèn sáng, để anh kiếm được thật nhiều tiền, đưa về cho vợ và các con hưởng thụ cuộc sống xa hoa phú quý… Nhưng bây giờ anh mới thấy là anh đã lầm to thì quá muộn. Vì đồng tiền có thể dễ dàng mua được nhiều thứ xa hoa phú quý thật đấy, nhưng chưa chắc đã mua được tình yêu và hạnh phúc, điển hình ngay trước mắt là trường hợp vợ anh bỏ anh trong lúc nàng đang sống trong cảnh giàu sang phú quý. Thật vậy, anh nghĩ cũng tại lỗi anh, anh đã vô tình không ý thức rằng người vợ trẻ của mình đang tràn đầy sinh lực, nhưng nàng phải sống đơn côi qua nhiều ngày, tháng, năm dài, tâm hồn nàng mỗi ngày mỗi trở nên lạnh lẽo, buồn thiu như mùa đông băng giá, tuyết rơi bao phủ cỏ cây trắng xóa ngoài trời, để rồi hằng đêm thanh vắng, con cái đã lên giường đi ngủ, nàng ngồi thui thủi một mình trên chiếc ghế với đôi mắt đăm chiêu, nhìn qua khung cửa sổ, trông ngóng bóng chồng đi làm về khuya để mở cửa đón anh. Những hình ảnh này lúc nào cũng hiện lên trong trí óc anh, làm anh cảm thấy anh có lỗi nhiều với vợ và càng cảm thấy thương yêu vợ mình nhiều hơn. Đến giờ phút này, anh chỉ ước ao một điều duy nhất là nếu anh có thể làm được một điều gì cho vợ, dù có phải hy sinh đến tính mạng đi chăng nữa thì anh cũng vẫn làm.

  
Rồi bất chợt một hôm, vị luật sư của anh vào thăm anh để báo cho anh biết, là người vợ cũ của anh đã bị bắt vô tù cách đây 1 tuần, về tội cất giấu một số lượng cần sa ở trong xe hơi để đem đi bán. Vị luật sư thuộc Công Tố Viện nói với luật sư của anh, nếu anh chịu bằng lòng ký tên, chấp nhận tội như lời đề nghị trước đây của họ, thì vợ anh sẽ được đề nghị lãnh bản án tù treo 5 năm và sẽ được trả về nhà sớm. Ngoài ra, chị còn được phép tiếp tục nuôi dưỡng 4 đứa con, thay vì trước kia chị chỉ được quyền nuôi 2 đứa con nhỏ tuổi mà thôi. Vừa nghe luật sư nói xong, anh liền cho ông ta biết là 15 năm tù hay phải lãnh án tử hình, thì anh cũng hoàn toàn bằng lòng ký tên ngay tức khắc, vì đó là điều ước vọng thầm kín của anh như đã trình bày ở trên. Anh mong sao cho người mà anh yêu suốt đời, là người vợ cũ của anh, được mau chóng thả ra khỏi tù và 4 đứa con anh sớm được đoàn tụ với mẹ của chúng, là anh cảm thấy sung sướng và toại nguyện lắm rồi, không còn dám ao ước thêm một điều gì khác nữa. Đúng 2 tuần lễ sau khi nói chuyện với luật sư của anh, anh được áp giải đến trước mặt Quan Tòa để ký tên vào bản án nhận tội và trước ngày anh rời trại tạm giam (Jail) lên đường đến một trại tù để thi hành bản án, anh đã vui mừng, tâm sự với tôi như sau:
    

“Thưa Thầy, câu chuyện không may này đưa con vào vùng tù tội kể như đã được tạm thời giải quyết xong theo ý nguyện của con, và câu chuyện tình buồn của con mà con cứ tưởng nó sẽ làm con đau khổ suốt đời như Thầy đã rõ thì cũng kể từ nay sự đau khổ này cũng đã chấm dứt trong tâm hồn con. Vì những điều gì con thầm cầu nguyện Chúa cho người con yêu và cho con cái của con đã được Chúa ban xuống cho con đúng theo ước vọng của con. Người yêu của con sẽ được thả ra khỏi tù trong một ngày gần đây và 4 đứa con yêu dấu của con sẽ được đoàn tụ với mẹ của chúng. Riêng mình con sẽ tiếp tục sống trong lao tù nhưng trái lại, lòng con sẽ không còn cảm thấy cô đơn và đau khổ như những ngày đầu con mới bước chân vào trại giam. Sự đoàn tụ các con của con với người con yêu thương suốt đời và sự nhận tội của con để cho người con yêu được mau thoát khỏi vòng tù tội là niềm hạnh phúc vô biên cho những ngày tháng năm dài còn lại của cuộc đời con ở trong tù. Duy chỉ có một điều làm con rất hối hận là trước ngày con vào tù con đã không đến Nhà Thờ để dự các Lễ buộc và hoàn toàn con quên Chúa mọi nơi mọi lúc, trong khi con là một kitô hữu đã được rửa tội tại Nhà Thờ. Vì suốt nhiều năm mải mê làm việc để kiếm tiền vào như nước, con đã không bao giờ nhớ đến Ngài và chỉ nhớ đến tiền bạc, đến vợ đẹp con khôn của con đang chờ ở nhà. Con cũng không hề biết chia sẻ một phần nhỏ bé nào về tiền bạc, tài năng hay công sức mà Chúa đã ban cho riêng con với bất cứ ai khác. Thế rồi mãi cho đến những ngày đầu tiên bị nhốt trong xà lim để xin Ngài trước hết hãy thứ tha cho sự quên lãng Ngài của con và đời sống đầy ích kỷ của con đối với tha nhân và tha thiết xin Ngài đoái thương, ban cho con những điều con thầm khấn nguyện thì nay Ngài đã đáp lại lời cầu nguyện của con, làm cho tâm hồn con cảm thấy sung sướng và toại nguyện. Vậy con xin hứa với Chúa, những ngày tháng năm sắp tới đây của con ở trong tù sẽ là thời gian để cho con được dịp hồi tỉnh, tu luyện lại đức tin, đức cậy, đức mến của con đối với Chúa, với lòng thật ăn năn, sám hối những lỗi lầm của con đối với Chúa và lòng ích kỷ của con đối với tha nhân từ trước đây. Trước giờ phút lên đường đến một trại tù mới, con có 2 tấm hình, một tấm con chụp chung với vợ và một tấm chụp chung cùng vợ với các con của con mà con luôn mang theo trong người con, nay con xin gửi Thầy cất giữ kỹ 2 tấm hình này trong một thời gian ngắn dùm con. Xin thầy đừng làm mất 2 tấm hình này vì nó là kỷ vật vô giá của đời con và khi nào con có địa chỉ mới chắc chắn nơi con ở tù thì con sẽ biên thư cho Thầy để Thầy gửi trả lại con 2 tấm hình này.”
   

Thái độ và hành động của anh A đối với chị B đã thể hiện một cách cụ thể trong câu Kinh Thánh, được trích trong Phúc Âm theo Thánh Gioan là: “Không ai có tình yêu cao quý hơn mối tình của người thí mạng mình vì bạn hữu…”. Vì anh chỉ biết cho người anh yêu tất cả những gì mà anh có, từ vật chất đến tinh thần và hiến dâng cả sự tự do của đời mình để đổi lấy sự tự do cho người anh yêu nên anh đã nhận tội để chấp nhận ngồi tù bởi chính sự phụ bạc và lời tố cáo gian của người anh yêu mà anh vẫn tha thứ cho nàng, không một lời oán trách, không mong đợi người anh yêu phải đáp trả lại anh một điều gì.
    

Đã có khá nhiều trường hợp tình yêu tan vỡ bởi nguyên nhân tương tự như trường hợp của anh A xảy ra kể từ khi có những người Việt chúng ta đến sinh sống trên mảnh đất tự do tạm dung này. Người ta vẫn thường nghĩ rằng tình yêu giữa đôi trai gái hay tình vợ chồng có bền chặt hay ly tan đều do số mệnh mà ra cả; nhưng trên thực tế, chắc chắn không phải tất cả trường hợp nào tan vỡ cũng đều do tại số mệnh. Theo ý kiến của đa số người cho rằng, nó còn tùy thuộc vào từng hoàn cảnh, từng trường hợp và từng cá tính của mỗi người. Vì nếu người ta nhận biết được những điều mình đã làm và đang làm và những điều đã nói và sẽ nói, là những nguyên nhân đã hoặc sẽ đưa đến sự đổ vỡ cho hai người trong tương lai thì biết đâu người ta sẽ tránh được điều đó như trường hợp xảy ra của anh A và chị B. Lúc đó đâu còn gọi là số mệnh an bài hay là do Thánh Ý Chúa muốn nữa. Dầu sao sự đại lượng và lòng tha thứ của anh A dành cho chị B trong câu chuyện tình buồn này đúng là một trong những mối tình bất diệt trên đời mà một ca khúc tình tứ lãng mạn, nổi tiếng khắp trên thế giới vừa về những lời ca ngợi tình yêu cao đẹp thắm thiết lẫn âm điệu trầm bỗng thánh thót của những nốt nhạc kỳ diệu, dẫn đưa những ai có tâm hồn nghệ sĩ khi nghe ca khúc này, có cảm tưởng như tâm hồn mình đang bay bổng trên các tầng trời xanh tươi bao la với tràn đầy niềm hạnh phúc, đó là bản nhạc có tựa đề và câu hát mở đầu đều giống nhau: Tình Yêu là vật đẹp muôn màu (Love is a Many Splendid Thing).
 

.... o ....
 

PHẦN BỔ TÚC ĐOẠN KẾT CỦA CÂU CHUYỆN “TÌNH YÊU BẤT DIỆT”
 

Trong suốt thời gian chịu án tù, anh A đã chuyên cần trau dồi kiến thức để học xong phần Tú Tài rồi tiếp tục để lấy được văn bằng chuyên môn về kỹ sư cơ khí.
 

Bức thư sau đây, (tác giả gửi đến anh A khi anh đã mãn hạn tù ở 8 năm nhưng vẫn còn bị cơ quan INS tạm giam) được đăng lại nguyên văn (trừ những tên người đã được đổi hoặc viết tắt) để độc giả có thể hiểu thêm những khía cạnh pháp lý trong trường hợp trên cũng như tình cảnh anh A hiện nay.
   

July 23, 2007
 

Cháu A thân mến,

Chiều thứ bảy vừa qua, Thầy đến thăm cháu và được cháu tâm sự cho biết là kể từ khi cháu hoàn tất bản án 8 năm tù ở và đã được thả về nhưng đã bị INS tạm giam giữ cho đến ngày hôm nay đã được hơn 3 tháng kể như con số zero, không được tính theo quy luật của Sở Di Trú là sau 3 tháng bị giam giữ lại bởi INS, thì phải trả tự do cho người đã thi hành xong bản án, và nếu tội trạng của người thụ án đã thi hành xong nhưng nếu INS có một bằng chứng mới khác, là nếu thả tội nhân này ra sẽ làm nguy hiểm đến an ninh xã hội, thì có thể phạm nhân sẽ bị giam giữ lại đến 6 tháng hoặc lâu hơn nữa. Truờng hợp của cháu cho Thầy biết là hơn 3 tháng nay cháu bị tạm giam lại kể như là con số zero là vì INS chỉ tính kể từ ngày cháu đã được trình diện phiên tòa của Sở Di Trú xét xử. Nhưng cho đến giờ phút này, thì cháu vẫn chưa được đưa đến trình diện vị Quan Tòa Di Trú xét xử. Trong khi cháu đã có đầy đủ giấy tờ bảo trợ nơi ăn chốn ở và công ăn việc làm tại Tucson thuộc tiểu bang Arizona.
  

Trên đường từ trại trở về nhà, Thầy suy ngẫm nhận thấy trường hợp của cháu bị đối xử một cách bất công, vừa mất vợ lại vừa mất cả 4 đứa con, không có họ hàng thân thuộc để nhờ cậy, trong khi phải chịu đựng 8 năm ngồi tù và nay được thả ra với số điểm hạnh kiểm tối đa tốt nhất mà rất ít tù nhân nào được điểm tối đa như cháu. Vậy giờ đây cháu lại bị tạm giam đã hơn 3 tháng rồi mà vẫn chưa được INS cứu xét, làm cho lương tâm của Thầy phải suy nghĩ kỹ tìm ra một lối thoát, để có thể giúp cháu trong phạm vi khả năng và phương tiện sẵn có của Thầy. Đúng thế, Thầy bất chợt nhớ ra cách đây khoảng hơn 5 năm, Thầy đã yêu cầu và hợp tác chặt chẽ với một Luật Sư Công Liên Bang (Federal Public Defender) tên là E, ông này và Thầy đã đi tới một trại tạm giam (Detainees Center), nơi đây đã giam giữ gần 200 cựu tù nhân người Việt tại Quận Hạt Jefferson County, cách Oklahoma City gần 1 tiếng rưỡi đồng hồ lái xe, để tiếp xúc trực tiếp và lấy tên tuổi các cựu tù nhân người Việt nào không có những điều kiện để được thả ra về sớm, thì chính ông luật sư công này đã trình sự việc sự việc lên vị Quan Tòa Liên Bang để giúp họ được thả ra về mà không cần phải đóng tiền thế chân và hiện nay trại tạm giam này đã bị đóng cửa. Vì 95% cựu tù nhân ở đây đã được trả tự do, chỉ còn lại 5% bị coi là nguy hiểm vào thời gian đó nên đã được di chuyển đến các trại tù Liên Bang, nhưng Thầy tin chắc rằng cho đến giờ này, con số 5% đó đã được trả tự do hết cả rồi.
 
Vậy sáng nay, thứ Hai, Thầy đã đi gặp ngay ông Luật Sư Công Liên Bang E để nhờ ông ta giúp đỡ cháu để can thiệp với INS sớm cứu xét trả tự do cho cháu để giúp cháu kịp thời giờ ổn định công ăn việc làm của cháu và sau đó cháu sẽ đi tìm kiếm 4 đứa con của cháu như lời ước nguyện của cháu nói với Thầy. Ông Luật Sư E đã hứa với Thầy là “I will do my best to help him by your request”. Tuy nhiên Thầy cần lưu ý với cháu là cháu cần phải rất thận trọng trong công việc đi kiếm 4 đứa con vì nếu không cháu lại có thể bị lôi thôi đến pháp luật và có thể bị ngồi tù lại một lần nữa. Vậy ngay sau khi cháu được trả tự do, Thầy sẽ đưa cháu đến Tòa Án Liên Bang để dàn xếp việc trả góp hàng tháng án phí Tòa là $900 sau khi cháu đã có việc làm và xem xét lại hồ sơ của cháu về vấn đề vợ cháu là người được quyền custody con cái và cháu có quyền được thăm nuôi đối với những đứa con dưới tuổi vị thành niên hay không? Còn đứa nào đã trên tuổi vị thành niên thì không thành vấn đề.
  
Trong khi chờ đợi kết quả tốt đẹp của Luật Sư E thông báo cho Thầy, thì Thầy đã copy sẵn mẫu đơn khởi tố Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ (A Writ of Habeas Corpus) dành cho tù nhân, để đòi hỏi quyền xét xử lại một cách công bằng và bình đẳng của con người trước pháp luật mà cháu có quyền tự nạp, không cần nhờ đến luật sư, tại Tòa Án Liên Bang Hoa Kỳ, để xin tái cứu xét trả tự do cho cháu vì theo luật pháp cùng một tội, không được đem tội nhân ra xét xử 2 lần khác nhau (Double Jeopardy), có nghĩa là cháu đã thi hành xong bản án 8 năm tù ở rồi, bây giờ vẫn tội trạng cũ đó lại bị INS giam giữ cháu vô hạn định, mặc dù theo Luật Di Trú, cháu là thường trú nhân sẽ bị trục xuất trả về nguyên quán Việt Nam, nhưng Việt Nam không chấp nhận cựu tù nhân như cháu trở về quê quán, thì cháu cũng giống như hàng trăm các cựu tù nhân Việt Nam khác trước đây đã được trả tự do tạm để họ trở lại cuộc sống bình thường, tự mưu sinh lấy. Tiện đây Thầy cũng cho cháu hiểu rõ là Bác C rất tiếc không thể vào thăm cháu được như Bác đã nhiều lần đến thăm cháu trước đây. Vì cách đây ít năm Bác C có lý do riêng, không còn tiếp tục vào thăm tù nhân với Thầy nữa nên tấm Thẻ Hành Sự vào cửa dành riêng cho nhân viên của Bác bị mất hiệu lực, không thể vào thăm tù nhân như trước kia Bác C vẫn vào cùng với Thầy được nữa. Nhưng Bác C cho Thầy biết là khi cháu được thả ra về, nếu Bác C không đi out of town vào ngày đó, thì chắc chắn Bác C sẽ cùng Thầy đến đón cháu để tiễn cháu ra bến xe bus về Tucson.
  
Cuối tuần tới đây, Thầy sẽ vào thăm cháu để đưa các giấy tờ cho cháu điền như Thầy vừa mới nói ở phần trên, và nếu Thầy nhận được tin tức gì sớm hơn từ Luật Sư E báo cho Thầy biết thì Thầy sẽ vào thăm cháu ngay. Hằng đêm Thầy vẫn cầu nguyện riêng cho cháu sớm được trả tự do.
 
Thân mến
PT. Nguyễn Mạnh San
  
Bản sao kính gửi Bác Nguyễn Văn C
.



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Bắt đầu từ sau giữa tháng Ba 2020, hầu hết các doanh nghiệp không thiết yếu trên khắp Hoa Kỳ đều đã lần lượt được lệnh phải đóng cửa để ngân chận sự lây lan của Coronavirus, trong đó có hàng chục ngàn tiệm Nail của người gốc Việt. Vì buộc phải đóng cửa một cách bất ngờ và cũng bởi chưa đến ngày trả lương theo định kỳ, nhiều chủ tiệm Nail đã không kịp thanh toán cho nhân viên khoản tiền lương của những ngày đã làm việc từ sau lần lãnh lương trước đó cho đến ngày ngưng làm việc vì Coronavirus. Ngoài ra, vì nghĩ rằng sẽ không bị buộc phải đóng cửa quá lâu, nhiều chủ tiệm Nail dự tính sẽ trả đủ tiền lương ngay khi nhân viên trở lại làm việc. Tuy nhiên, rất ít chủ doanh nghiệp hiểu rằng không thanh toán tiền lương theo đúng quy định cho nhân viên sau khi nghỉ việc, sẽ là nguyên nhân dẫn đến vô số rắc rối về pháp lý.
Những người có khuynh hướng cực đoan trong chính kiến, dù hữu khuynh hay tả khuynh, đều có những đặc điểm giống nhau và rất khác người ôn hoà. Bài viết này tóm lược một nghiên cứu tâm lý học đăng trên Sage Journals tháng Giêng 2019. Hy vọng nó sẽ giúp ta hiểu thêm về hiện tượng tâm lý chính trị cực đoan để tránh bị khích động, đồng thời giúp ta tìm ra cách hoá giải. Xin lưu ý “hữu khuynh”và “tả khuynh” trong bài được dùng theo định nghĩa thông thường và hoàn toàn không hàm ý tốt hay xấu. Trong chính trị học, cộng đồng con người thường được chia làm ba nhóm: cấp tiến (liberal), trung hoà (moderate) và bảo thủ (conservative). Sự phân cách này phần lớn xuất phát một cách tự nhiên, nhưng nó cũng có thể được nhào nặn thêm bởi giáo dục, truyền thống, truyền thông, xã hội v.v.
nhà báo kỳ cựu Don Oberdorfer trên tờ Washington Post ngày 3/3/1987 nhấn mạnh lời tuyên bố của trưởng đoàn IRAC: “Chúng tôi (người tị nạn) vẫn bị coi là một vấn đề cần giải quyết. Nay chúng tôi nhất định sẽ góp phần vào giải pháp.”
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Chết phải là một chuyến du lịch tuyệt vời vì chưa có một ai đã trở về!(“La mort doit être un beau voyage puisque personne n'en est revenue”). Thông thường trong những dịp Tết, người đời thường chúc tụng lẫn nhau sống thọ đến trăm tuổi. Không phải ai muốn chết lúc nào là chết được đâu. Phải tới số mới chết. Trời kêu ai nấy dạ mà Sống quá thọ có tốt, có cần thiết không? Không có ai nghĩ giống ai hết. Đặt câu hỏi như trên có thể làm nhiều người cảm thấy khó chịu, nhưng đó là sự thật. Tuổi thọ (longévité) trong điều kiện sức khoẻ bình thường, không ngừng gia tăng thêm lên mãi tại các quốc gia kỹ nghệ giàu có... Sự gia tăng nầy thật ra phải được xem như là một sự kéo dài của tuổi trẻ (jeunesse) hơn là một sự kéo dài của…tuổi già (vieillesse). Tại sao chúng ta già? Tuổi thọ đến lúc nào sẽ dừng lại? Nhân loại đã đạt được đến mức nầy hay chưa?
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Vào lúc 5:00 giờ chiều Chủ Nhật 26/04/2020, Hòa Thượng Thích Phước Tịnh đã có buổi nói chuyện trên mạng lần thứ hai với nhóm Phật tử Giớ Trẻ Mây Từ, với chủ đề những điều Phật tử nên làm trong mùa đại dịch COVID-19 đang tiếp tục hoành hành.
New York bị thiệt hại nặng nề hơn bất cứ khu vực nào tại Hoa Kỳ bởi đại dịch vi khuẩn corona tính đến nay, 26 tháng 4, và ác mộng của tiểu bang vẫn còn chưa hết. Hôm Thứ Bảy, 25 tháng 4, có 5,902 người đã thử nghiệm dương tính với vi khuẩn corona, và trong khi đó là sự sút giảm từ cao điểm của tiểu bang (khi một ngày chứng kiến hơn 10,000 người thử nghiệm dương tính), tiểu bang này vẫn còn nhiều trường hợp bị lây mới hơn 25 tiểu bang đã bị trong tổng số hơn 3 tháng kể từ vụ lây lan của vi khuẩn vào Mỹ bắt đầu.
Nam Hàn tiếp tục đổ nước vào suy đoán gia tăng về sức khỏe của lãnh đạo Bắc Hàn Kim Jong Un, nói với CNN rằng ông ấy “còn sống và khỏe.” “Lập trường của chính phủ chúng tôi là vững vàng,” theo Moon Chung-in, cố vấn hàng đầu về chính sách đối ngoại cho Tổng Thống Nam Hàn Moon Jae-in, nói với CNN. “Kim Jong Un còn sống và khỏe. Ông ấy đã và đang ở tại khu vực Wonsan kể từ ngày 13 tháng 4. Không có biến đổi gì đáng nghi ngờ tính đến nay được phát hiện cả.”
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Hiện nay đã có 10 nước trong đó có Hoa Kỳ, Anh Quốc, Úc Châu, và Canada đang bàn tính đưa đơn kiện Trung Cộng phải chịu trách nhiệm về những hành động xấu xa của họ (Chinese government to pay for their malign actions). Việc đòi bồi thường nay thực ra chỉ là con số tượng trưng vì thực tế chưa có một thống kê nào liệt ra được tổn thất về kinh tế, tài chánh, đời sống tinh thần vật chất của 210 nước đang có người bị nhiễm bệnh này lên đến bao nhiêu ngàn ngàn tỷ USD. Đó là chưa kể đến thiệt hại về nhân mạng đã trên 2 triệu 200 ngàn người đang bị bệnh và gần 200 ngàn tử vong trên thế giới. Bởi vì sự thiệt hại nhân mạng quá lớn này, không thể ước tính số tiền như thế nào mới đền bù lại được những đau thương của người thân mất người thân trong suốt hơn bốn tháng qua.
Nước Mỹ hiện nay đã có chừng 50 ngàn người chết vì đại dịch Covid-19. Dịch đến trễ hơn nhiều nơi khác, nhưng Mỹ đã nhanh chóng trở thành quốc gia với số người bị nhiễm cũng như tử vong cao nhất thế giới. Phản ứng của chính phủ Mỹ thay đổi theo đà tăng của đại dịch. Trong khoảng hai tháng, Tổng thống Trump tỏ ra lạc quan và không cho đây là nguy cơ. Đột nhiên, khi dịch đã gia tăng đến mức không chối cãi được nữa, chính phủ vội vã phản ứng. Người ta khám phá là nước Mỹ khắp nơi bị thiếu thốn trầm trọng phương tiện để chống dịch, và số người chết tăng vọt.
Hôm Thứ Bảy, nhiều người ra biển chơi, bất kể lệnh cách ly. Carrie Braun, phát ngôn nhân Ty Cảnh Sát Quận Cam, nói chỉ đóng cửa các sân đậu xe bên bãi biển, nhưng không đóng cửa các bãi biển.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.