Hôm nay,  

Kinh SN 22.63: Khi bám víu là sẽ bị Ma trói buộc

08/12/202410:25:00(Xem: 8715)
Kinh SN 22.63: Khi bám víu là sẽ bị Ma trói buộc

Kinh Kim Cang và Bát Nhã Tâm kinh viết rằng không có gì để chúng ta phải bám víu, bởi vì không hề có cái gì có tự ngã, và bởi vì thực tướng của tất cả các pháp là Không. Một cách cụ thể, Đức Phật đã  dạy trong Kinh SN 22.63 rằng khi hễ ai khởi tâm bám víu là sẽ bị Ma trói buộc. Bài viết này sẽ dựa theo các bản dịch trên Sutta Central.

Một lần, một nhà sư tới gặp Đức Phật, đảnh lễ, và thưa rằng, xin Đức Phật dạy một pháp ngắn gọn, để sau khi nghe xong vị sư này sẽ tìm một nơi ẩn dật, sống một mình và tu theo lời dạy ngắn gọn đó để giải thoát.

Đức Phật dạy rằng nếu ngươi bám víu vào bất cứ điều gì, ngươi sẽ bị Ma vương trói buộc; và nếu không bám víu, ngươi sẽ thoát khỏi Ma vương.

Nhà sư đáp rằng đã hiểu ý Đức Phật.

Đức Phật hỏi rằng nhà sư hiểu như thế nào về lời dạy ngắn gọn đó.

Nhà sư đáp rằng khi một người bám víu vào sắc, thì sẽ bị Ma vương trói buộc. Nghĩa là, khi một người bám víu vào cái được thấy, cái được nghe, cái được ngửi, cái được nếm, cái được chạm xúc, và cái được tư lường, thì người đó sẽ bị Ma vương trói buộc. Tương tự, khi một người bám víu vào thọ, tưởng, hành, thức, thì người đó sẽ bị Ma vương trói buộc. Nhà sư nói, do vậy, không bám víu vào bất cứ điều gì, người đó được giải thoát khỏi Ác ma.

Đức Phật khen ngợi nhà sư đã hiểu chi tiết ý nghĩa lời dạy ngắn gọn của Đức Phật.

Nhà sư hoan hỷ, đảnh lễ Đức Phật, lùi ra, tìm một nơi ẩn dật để sống một mình, nhiệt tâm tu hành, tự mình chứng ngộ với trí tuệ trực tiếp, trở thành một trong những vị A-la-hán.

Video dài 2:08 phút:

https://youtu.be/ReVkB6TT6QM
 
.... o ....


SN 22.63 Sutta: When one clings, one is bound by Mara

The Diamond Sutra and the Heart Sutra emphasize that one should not cling to anything, as nothing possesses a permanent self, and the true nature of all phenomena is emptiness. Specifically, the Buddha taught in the SN 22.63 Sutta that clinging to anything binds one to Mara. This article will be based on the translations available on Sutta Central.
 
Once, a monk approached the Buddha, paid his respects, and requested a brief teaching. He hoped that after hearing it, he could find a secluded place to live alone and practice according to that teaching in order to attain liberation.

The Buddha taught that if one clings to anything, one will be bound by Mara; however, if one does not cling, one will be free from Mara.

The monk replied that he understood the teachings of the Buddha.

The Buddha asked the monk how he interpreted that brief teaching.

The monk replied that when one clings to form, one is bound by Mara. Specifically, when one clings to what is seen, heard, smelled, tasted, touched, and thought, one is ensnared by Mara. Similarly, when one clings to feelings, perceptions, mental formations, and consciousness, one remains bound by Mara. Therefore, the monk stated that by relinquishing attachment to anything, one can attain freedom from Mara.

The Buddha praised the monk for comprehensively understanding the meaning of his brief teaching.

The monk was filled with joy, paid homage to the Buddha, withdrew to a secluded place to live in solitude, practiced diligently, attained direct wisdom, and became one of the Arahants.

Video 2:04 minutes long:

https://youtu.be/7wJm5e9qbn8

.
SN 22.63 Sutta:
- Thầy Minh Châu: https://suttacentral.net/sn22.63/vi/minh_chau
- Bhikkhu Bodhi: https://suttacentral.net/sn22.63/en/bodhi
- Bhikkhu Sujato: https://suttacentral.net/sn22.63/en/sujato




Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Các cơ sở bị khó khăn và các nhà điều dưỡng giống nhau là đã và đang chật vật, với khối công nhân áp đảo cố gắng xác nhận, cách ly và điều trị các bệnh nhân mắc bệnh đè nặng lên thêm công việc đòi hỏi đã có của họ. Trong khi đó, các biện pháp nhằm bảo vệ cư dân khỏi bị lây lan bệnh đã khiến cho họ dễ bị tổn thương hơn và đóng cửa từ công chúng.
Vinh danh cộng đồng A100 và AAPI trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, vì biểu cảm chống người Á châu đã dâng trào sau đại dịch COVID-19. Dừng AAPI Hate, một dự án theo dõi các sự cố thù ghét đối với người Mỹ gốc Á, đã nhận được hơn 1.135 báo cáo chỉ trong hai tuần. Crisis Text Line (Văn Bản Khủng Hoảng) báo cáo rằng AAPIs, đại diện cho khoảng 6% dân số Hoa Kỳ, chiếm 16% trong tất cả các văn bản khủng hoảng liên quan đến coronavirus. Đây chỉ là một vài trong số những con số được báo cáo mà cộng đồng AAPI đã phải đối mặt trong những tuần gần đây - một cộng đồng liên tục chịu sự chênh lệch giàu nghèo lớn nhất của bất kỳ nhóm chủng tộc nào, và ít có khả năng được thăng chức lên quản lý, tìm kiếm các dịch vụ sức khỏe tâm thần hoặc được tính trong cuộc Tổng Kiểm Tra Dân Số.
Hàng triệu người Mỹ đã nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp vào tuần trước, cho thấy việc sa thải đang lan sang nhiều ngành nghề ban đầu không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi việc đóng cửa và gián đoạn kinh doanh liên quan đến vi khuẩn corona. Phúc trình đơn khai thất nghiệp hàng tuần của Bộ Lao Động Hoa Kỳ hôm Thứ Năm, 30 tháng 4 theo sau các tin hôm Thứ Tư nói rằng kinh tế trong quý đầu đã bị thiệt hại nặng nề kể từ thời kỳ Đại Suy Thoái.
Hôm Thứ Năm, 30 tháng 4, Tổng Thống Trump nói rằng ông đã thấy bằng chứng để chứng minh rằng đại dịch vi khuẩn corona truyền nhiễm từ một phỏng thí nghiệm tại Vũ Hán, Trung Quốc, nhưng ông đã không đưa ra chi tiết cái gì là bằng chứng. “Tôi không được phép nói với bạn điều đó,” theo ông cho biết tại cuộc họp báo ở Bạch Ốc nơi mà ông đã nhiều lần cáo buộc chính quyền TQ về việc làm ngơ trong trách nhiệm của họ đối với vi khuẩn, trong khi bỏ ngỏ khả năng nó lây lan một cách cố ý.
Newsom nói rằng các bãi biển tại miền nam California, gồm các bãi biển tại Quận Cam, Los Angeles và San Diego, đã reo chuông báo động, gồm các hình ảnh người tụ tập ở đó và không tuân theo các hướng dẫn giữ khoảng cách xã hội. Ông cho biết tiểu bang muốn làm việc sát cánh với các viên chức địa phương, và nếu họ có thể đưa ra các hướng dẫn tốt hơn, thì các bãi biển có thể “tái mở cửa rất rất nhanh.”
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Hơn một chục người biểu tình, một số trong đó có vũ khí, đã tụ tập hôm Thứ Năm, 30 tháng 4 bên trong tòa nhà Quốc Hội của Michigan để lên tiếng phản đối lệnh cho người dân phải ở trong nhà của Thống Đốc Gretchen Whitmer, với căng thẳng lên cao khi các nhà lập pháp sẵn sàng tranh luận về sự gia hạn của tuyên bố này.
nhiều phó phẩm, nào là tuồng hát bội Kiều, tuồng chèo Kiều, thơ Vịnh Kiều, thơ Xử Án Kiều, Kim Vân Kiều Ca, Kim Vân Kiều Diễn Ca, Túy Kiều Phú… và hàng trăm bài thơ lẫy Kiều nhiều cách ngắn dài, kể cả có người viết lại toàn thể truyện Kiều
Tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, thành phố Westminster, miền Nam California vào lúc 9 giờ sáng Thư Năm ngày 30 tháng Tư năm 2020 lễ đặt vòng hoa và thắp nhang tưởng niệm 45 năm quốc hận 30 tháng Tư đã được long trọng tổ chức, vì tình hình bệnh dịch Covid-19 nên năm nay không được tổ chức đông đúc như những năm trước đây, mặc dù vậy một số các tổ chức cộng đồng, hội đoàn, đoàn thể cũng đã trang nghiêm tổ chức lễ đặt vòng hoa, thắp nhang tưởng niệm 250,000 Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa, 58,000 quân nhân Hoa Kỳ đã hy sinh trong trận chiến bảo vệ Miền Nam Việt Nam, cùng hàng triệu đồng bào đã bỏ mình trên đường vượt biên, vượt biển tìm tự do, hàng ngàn quân dân các chính VNCH đã bỏ mình trong các trại lao tù cộng sản.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Kể từ sau đệ Nhị Thế chiến, Việt Nam đã hai lần trễ chuyến tàu lịch sử để toàn dân xây dựng đất nước, chỉ vì những khúc quanh oan nghiệt do Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành. Cơ hội thứ ba đang tới, những người cộng sản đang cầm quyền tại Việt Nam có biết chủ động nắm lấy nhằm thoát Tàu và thoát Cộng để chuộc lại phần nào những nỗi oan khiên đã gây ra cho cả dân tộc suốt từ sau Thế chiến Hai đến nay hay không?
Nhìn chung, CSBV và MTGPMN có ba thắng lợi: một là toàn bộ binh sĩ Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam; hai là công nhận sự hiện diện của 140.000 quân của QĐNDVN ở miền Nam và chính phủ ”ma” MTGPMN; ba là quy chế khu phi quân sự sẽ không đuợc luật quốc tế công nhận và không ai sẽ can thiệp khi vi phạm. VNCH phải chịu thất bại nặng nề, vì không có tiếng nói chính thức trong hội nghị. Hai mục tiêu duy trì binh sĩ Hoa Kỳ để tiếp tục hỗ trợ QLVNCH chiến đấu và trục xuất binh sĩ CSBV ra khỏi miền Nam đều không có kết quả. Hoa Kỳ thắng lợi vì mang binh sĩ hồi hương, một lối thoát trong danh dự của Nixon mà Kennedy và Johnson không đạt được. Hà Nội phải công nhận VNCH là một thực thể chính trị để đối thoại, phải từ bỏ yêu sách một chính phủ liên hiệp không có chính quyền Thiệu tham gia.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Từ năm 75 đến thập niên 80 có lối trên một tiệu người Việt Nam liều chết vượt biển để tìm tự do và cuối cùng một số người may mắn đã đến được bến bờ tự do. Thống kê (2007 ?) cho biết có khoảng trên 35.000 người Việt Nam sinh sống tại thành phố Montréal. Họ được gọi là Les Vietnamiens de Montréal hay Les Viéto-Montréalais. Theo thời gian, cộng đồng người Việt Montréal dần dần lớn mạnh thêm, thích nghi và hội nhập một cách êm ái vào xã hội Québec.
Trong sự hỗn loạn của chiến tranh kéo dài nhiều năm, hầu như không có một gia đình người Việt nào trong thế kỷ 20 mà không bị bức hại và phải đào thoát. Chiến tranh Việt Nam đã tạo ra hàng triệu nạn nhân, với bao người tàn phế, cô nhi, chấn thương tâm lý và để lại một đất nước hoang tàn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.