Hôm nay,  

Song ngữ: Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng // Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

06/01/202508:53:00(Xem: 5977)
blank
 
Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng

Nguyên Giác

Bài này sẽ viết trong tinh thần đối chiếu Kinh Pháp Cú với Thiền Tông. Để nói lên một phương pháp của Thiền rằng, trong khi thiền tập, hễ tin Phật hay nghi Phật đều sẽ hỏng, đều rơi vào bất thiện pháp, sẽ không thấy được pháp Vô Vi.

Muốn vào đạo Phật, trước tiên phải tin và phải quy y Phật, Pháp, và Tăng. Người tu theo lời Phật dạy phải tin vào Tứ Thánh Đế, tức là  Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Trong khi tu tập, người tu phải  thành tựu tín, giới, văn, thí, huệ mới có thể đoạn trừ bất thiện pháp. Như vậy, người không có lòng tin chắc thật vào Đức Phật sẽ không đi được con đường dài như thế để thành tựu giải thoát.

Lòng tin là cửa đầu tiên để vào đạo, để thực hành pháp. Tại sao có thiền sư nào nói rằng tin Phật sẽ hỏng? Thậm chí có vị còn nói là gặp Phật thì hãy giết Phật. Nhưng cần phải thấy rõ, hễ nghi Phật là tự mình cắt đứt lối vào, là vi phạm ba lời quy y. Trong Thiền Tông, nhiều vị thầy nói rằng người tu phải từ cửa nghi để hiểu đạo, và để vào đạo. Bởi vì đại nghi mới đại ngộ. Sao lại có chuyện như thế? Vấn đề là ngôn ngữ không mô tả được các trạng thái tâm thức cần thiết. Bởi vì, khi các thiền sư nói cần sự nghi ngờ, thì nhiều thiền sư đó cũng đã có lòng tin sâu dày nơi Đức Phật và có nhiều thập niên giữ khối tin và cả nghi trong tâm.

Nên thấy rằng, cái nghi mà một thiền sư Trung Hoa hay Việt Nam nói, không phải là sự nghi ngờ đơn giản về Đức Phật. Chúng ta có thể dẫn Kinh Pháp Cú, tích truyện 97 ra để ghi nhận rằng, trong tích này, 30 vị sư đã nói rằng ngài Sariputta có sự nghi ngờ Đức Phật, không đủ lòng tin Đức Phật. Điều này xảy ra trong khi ngài Sariputta đã thành tựu giải thoát, và là một trong hai đại đệ tử hàng đầu của Đức Phật.

Chúng ta khảo sát trường hợp này, để sẽ thấy rằng đối với người tu thiền, thì ngay trong khi thiền tập, hễ khởi lòng tin Phật hay khởi lòng nghi Phật đều hỏng. Bởi vì tâm của người tu lúc thiền tập phải lìa bất kỳ tiến trình lý luận nào có thể dẫn tới một kết luận rằng phải thế này hay phải thế kia. Chỉ có luận sư mới đi theo tiến trình lý luận để tới kết luận rằng phải tin Phật hay nghi Phật. Thiền sư chân thực sẽ không rơi vào kết luận nào hết, do vậy không dính vào tin Phật hay nghi Phật.

Chỉ đơn giản là, khi ngài Sariputta hướng dẫn 30 vị sư kia thiền tập về các căn, ngài không đặt vấn đề là tin hay nghi. Thiền về các căn, có nghĩa là về những gì được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được tư lường. Nơi sáu căn, các sư phải thấy vô thường, khổ, vô ngã. Trong khi các Thiền sư Trung Hoa và Việt Nam nói rằng phải nhìn vào khối nghi, tức là nhìn vào cái được tư lường, tức là nhìn vào tự tâm, sẽ thấy trận gió vô thường đang cuốn trôi tất cả các pháp trong tâm.

Câu chuyện trong Pháp Cú tóm tắt như sau. Khi cư trú tại tu viện Jetavana, Đức Phật đã nói Bài kệ 97 của Kinh Pháp Cú. Ba mươi nhà sư từ một ngôi làng đã đến tu viện Jetavana để tỏ lòng tôn kính Đức Phật. Đức Phật biết rằng thời điểm đã chín muồi để các vị sư này đạt được quả vị A-la-hán. Vì vậy, ngài đã cho gọi Sariputta đến, và trước sự hiện diện của những vị sư đó, Đức Phật đã hỏi, "Này Sariputta, con có chấp nhận sự thật rằng bằng cách thiền định về các căn, người ta có thể chứng ngộ Niết bàn không?"

Ngài Sariputta trả lời, "Bạch Thế Tôn, trong việc chứng ngộ Niết bàn bằng cách thiền định về các căn, không phải là con chấp nhận điều đó vì con có đức tin vào Ngài; chỉ những người chưa đích thân chứng ngộ mới chấp nhận sự kiện đó từ lời người khác."

Câu trả lời của Sariputta không được 30 nhà sư hiểu đúng. Họ nghĩ rằng, "Sariputta vẫn chưa từ bỏ tà kiến. Ngay cả bây giờ, Sariputta vẫn chưa có đức tin vào Đức Phật."

Sau đó, Đức Phật giải thích cho họ ý nghĩa thực sự của câu trả lời của Sariputta. "Các sư, câu trả lời của Sariputta chỉ đơn giản như thế này; Sariputta chấp nhận sự thật rằng Niết bàn được chứng ngộ thông qua thiền định về các căn, nhưng sự chấp nhận của Sariputta là do sự chứng ngộ của chính Sariputta chứ không chỉ vì ta đã nói điều đó hoặc ai đó đã nói điều đó. Sariputta có đức tin vào ta; Sariputta cũng có niềm tin vào hậu quả của những việc làm tốt và xấu."

Sau đó, Đức Phật nói bằng bài kệ như sau, theo tổng hợp các bản dịch của Thầy Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, Bhante Suddhāso:

Bài kệ 97Người đã vượt qua đức tin, đã chứng ngộ Vô Vi, đã cắt đứt mọi ràng buộc tái sinh, đã loại bỏ các hậu quả của những việc làm tốt và xấu, đã rời bỏ ham muốn, chắc chắn là người tối thượng.

Khi Đức Phật nói xong, tất cả các vị sư đó đã đạt được quả vị A la hán. Như thế, Đức Phật nói rằng người tu phải vượt qua đức tin đơn giản, và phải  chứng ngộ pháp Vô Vi.

Chữ Vô Vi này có nghĩa là xa lìa các duyên, và là không hề được tạo ra. Bạn có thể tới rất gần với Vô Vi, nếu bạn nhìn vào tâm bạn, và liên tục nhìn thấy cái tâm biết cái-không-biết. Nghĩa là, bạn biết rằng bạn đang nhìn vào cái tâm của sự không biết. Bởi vì như thế là tâm bạn là bầu trời rỗng rang, không hạn cuộc, không rơi vào bất kỳ kết luận nào. Lúc đó, bạn sẽ không rơi vào một kết luận nào, không mơ tưởng nào, không ước muốn nào.

Trong cái tâm không biết này, không có tham sân si. Bạn liên tục nhìn vào tâm không biết này, bạn thấy sẽ không có niệm nào khởi lên, vì nơi đây là dòng sông vô thường trôi chảy, cuốn sạch hết những gì khởi lên. Nhiều vị thiền sư gọi cái thấy vô thường trôi chảy trong tâm đó là nghi tâm. Chữ “nghi” là một cách mô tả không chính xác, chỉ nên nói rằng tâm này là tâm đã xa lìa mọi kết luận.

Ngay khi bạn thấy rằng “không hề có cái tôi nào đang tin hay đang nghi” thì lúc đó bạn sẽ thấy không có cái “tôi là” và cũng không có cái “tôi không là”... Lúc đó, bạn không thấy trong tâm hiện lên cả tín tâm và nghi tâm.  Bạn xa lìa cả cái có và không, chỉ bằng cách nhìn vào tâm lúc đó. Đó là tại sao 30 vị sư kia sau khi nghe Đức Phật nói, họ thấy rằng họ xa lìa niềm tin, họ ngó vào tâm thấy cái Vô Vi, cái không hề do bất cứ gì kiến tạo lên. Đó là tâm giải thoát.

Ngài Sariputta nói hãy xa lìa niềm tin để thiền định về các căn, nơi đó sẽ có pháp vô vi được nhận ra. Tương tự, các thiền sư Trung Hoa và Việt Nam cũng nói rằng hãy xa lìa niềm tin, mà chúng ta đôi khi gọi là hãy nghi, nhưng chính xác là hãy dùng chữ “thấy tâm không biết” thì sẽ có pháp vô vi nhận ra. Trong cái tâm này, không gọi là tin và cũng không gọi là nghi. Tất cả ngôn ngữ đều tịch lặng, vì chữ không còn hiện ra trong tâm này nữa.

.... o ....

Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

Written and translated by Nguyên Giác

 
This article aims to compare the Dhammapada with Zen Buddhism. It will explore the idea that during meditation, both belief in the Buddha and doubt about the Buddha can lead practitioners astray, resulting in unwholesome dharmas and an inability to perceive the Dharma of Unconditioned.

To enter Buddhism, one must first believe in and take refuge in the Buddha, the Dharma, and the Sangha. Practitioners of the Buddha's teachings must embrace the Four Noble Truths: Suffering, Origin, Extinction, and the Path. In the course of practice, individuals must cultivate faith, morality, knowledge, generosity, and wisdom to eliminate unwholesome dharmas. Therefore, those who lack genuine faith in the Buddha will find it challenging to embark on the long journey toward liberation.

Faith is the first step on the path to practicing the Dharma. Why do Zen masters claim that believing in the Buddha can be detrimental? Some even assert that if you encounter the Buddha, you should kill the Buddha. However, it is essential to recognize that doubting the Buddha is akin to closing off your own entrance and violating the three refuges. In Zen, many masters emphasize that practitioners must navigate through the door of doubt to truly understand and enter the path, as profound doubt can lead to profound enlightenment. Why is this the case? The challenge lies in the fact that language often fails to convey the necessary states of mind. When Zen masters advocate for doubt, many of them have already cultivated a deep faith in the Buddha and have maintained a balance of both faith and doubt in their minds for decades.

It's crucial to realize that the doubt a Chinese or Vietnamese Zen master mentioned wasn't just about the Buddha himself. The Dhammapada, specifically story 97, records thirty monks claiming Sariputta harbored doubts about the Buddha and lacked sufficient faith in him. This assertion is particularly striking considering that Sariputta had already attained liberation and was one of the Buddha's two foremost disciples.

We examine this case to illustrate that for a practitioner, even during meditation, harboring faith in the Buddha or experiencing doubts about the Buddha constitutes a failure. The practitioner's mind during meditation must be free from any reasoning processes that could lead to conclusions, whether affirming or negating. Only a master of reasoning would engage in such processes to arrive at the conclusion that one must either believe in or doubt the Buddha. A true Zen master transcends all conclusions and, therefore, remains uninvolved in faith or doubt regarding the Buddha.

Simply put, when Venerable Sariputta instructed the other thirty monks to meditate on the senses, he did not address the concepts of belief or doubt. Meditating on the senses involves focusing on what is seen, heard, smelled, tasted, touched, and thought about. Through the six senses, the monks must recognize impermanence, suffering, and non-self. While Chinese and Vietnamese Zen masters emphasize the importance of examining the mass of doubt—essentially, reflecting on one's thoughts and the mind itself—this introspection reveals the winds of impermanence sweeping away all the dharmas within the mind.

The story in the Dhammapada is summarized as follows: While residing at the Jetavana Monastery, the Buddha spoke Verse 97 of the Dhammapada. Thirty monks from a nearby village came to Jetavana to pay homage to the Buddha. The Buddha recognized that the time was ripe for these monks to attain arahantship. Therefore, he summoned Sariputta, and in the presence of those monks, the Buddha asked, "Sariputta, do you accept the truth that by meditating on the senses, one can realize Nibbana?"

Venerable Sariputta replied, "Venerable, sir, in realizing Nibbana through the meditation on the senses, I do not accept it solely based on my faith in you; rather, it is only those who have not personally experienced it who accept that truth from the words of others."

Sariputta's response was misunderstood by the thirty monks. They believed, "Sariputta has not yet relinquished his erroneous views. Even now, Sariputta still lacks faith in the Buddha."

The Buddha then explained to them the true meaning of Sariputta's response. "Monks, Sariputta's answer is simply this: he acknowledges that Nibbana is attained through meditation on the senses. However, Sariputta's acceptance stems from his own realization, not merely because I said so or someone else did. Sariputta has faith in me, and he also believes in the consequences of good and bad deeds."

Then the Buddha spoke in verse as follows, according to the translations by Venerable Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, and Bhante Suddhāso.

Verse 97: He who is not credulous, who has realized the Unconditioned (Nibbana), who has cut off the links of the round of rebirths, who has destroyed all consequences of good and bad deeds, who has discarded all craving, is indeed the noblest of all men (i.e., an arahat). (Translated by Daw Mya Tin)

After listening to the Buddha, all the monks attained the fruit of Arhatship. Therefore, the Buddha emphasized that practitioners must transcend mere faith and truly understand the Dharma of Unconditioned.

The term Unconditioned -- or Unmade or Uncreated -- refers to a state that is free from conditions and is not the result of creation. You can approach Unconditioned by examining your mind and consistently observing the awareness of unknowing. In this state, you recognize that you are contemplating the thought of not knowing.  Consequently, your mind becomes like an empty sky—limitless and free from any conclusions. In this way, you will avoid falling into conclusions, dreams, or desires.

In a mind that embraces not-knowing, there is no greed, anger, or delusion. When you continuously observe this state of not knowing, you will notice that no thoughts arise, for it is akin to a flowing river of impermanence, washing away everything that comes into being. Many Zen masters refer to this fluid perspective of impermanence in the mind as the mind of doubt. However, the term “doubt” is a misleading characterization; it would be more accurate to describe this mind as one that has relinquished all conclusions.

As soon as you see that there is no self that is believing or doubting, then you will see that there is no “I am” and there is no “I am not." At that moment, you will transcend the duality of belief and doubt. By examining the mind at that time, you will find yourself distanced from both existence and non-existence. After listening to the Buddha, the thirty monks discovered their detachment from belief, turned their attention inward, and perceived the Unconditioned, which is not created by anything. This realization leads to a liberated mind.

Venerable Sariputta instructed the monks to relinquish faith and meditate on the senses, where the Unconditioned can be realized. Similarly, Chinese and Vietnamese Zen masters have also advised abandoning faith, which we sometimes refer to as doubt. However, to be precise, it is about perceiving the mind of not knowing; in doing so, the Unconditioned will be realized. In this state of mind, there is neither faith nor doubt. All language becomes silent, as words no longer manifest in this mind.

.... o ....
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tôi đã đọc thơ Nguyễn Quốc Thái từ hơn một thập niên. Và nhiều người đã đọc thơ anh hơn một nửa thế kỷ. Hình như, tôi chưa thấy dòng thơ nào vui của anh. Và ngay cả những dòng thơ có thể được suy đoán là vui, cũng vẫn có một nỗi buồn thần bí trong đó – nơi đây, đành nói là thần bí, vì không giải thích minh bạch được. Cũng có thể vì tôi thấy nét mặt anh lúc nào cũng buồn. Đó là những lần tôi được gặp anh, khi anh có dịp thăm Quận Cam. Cũng có thể vì Nguyễn Quốc Thái là một nhà thơ ra đời trước tôi khoảng một thập niên, thuộc một thế hệ có nhiều chia ly hơn là gặp gỡ, nhiều tan vỡ hơn là hàn gắn. Cũng có thể vì một vài câu thơ của Nguyễn Quốc Thái, tôi đã đọc qua, và chợt nhớ một vài ý trong đó. Như bài thơ có nhan đề Todo Passa. Anh làm bài thơ này từ Sài Gòn, vào tháng 12 năm 2017. Trích năm dòng đầu như sau. / Một mình tôi với những câu thơ đau đớn mới/ Lời vỗ về an ủi như tiếng gió lùa qua bến bờ lau sậy / Tôi ngã xuống như một hẹn ước dở dang ...
Biến cố Nga xâm lược đã gây ra không phải chỉ một, mà là ba trận chiến, chiến tranh võ trang, chiến tranh thông tin và chiến tranh kinh tế. Cuộc chiến này đã bước vô tháng thứ hai, Nga tuy là một cường quốc nhưng đã không dành được thắng lợi nhanh chóng như ý muốn, phần lớn là do ảnh hưởng lợi hại của chính cuộc chiến tranh thông tin, mà trong đó, bộ trưởng trẻ tuổi Mychailov Fedorov của Ukraine đóng góp phần chủ chốt.
Chiến tranh bao giờ cũng khủng khiếp và ngay cả những người chỉ biết tự vệ cũng sẽ làm những điều khủng khiếp. Tin đồn hiện đang lan truyền trên các kênh thân Nga về những gì có thể là tội ác chiến tranh của Ukraine. Phần lớn chắc chắn chỉ là tuyên truyền thuần túy nhằm chuyển hướng sự chú ý khỏi các tội ác chiến tranh của Nga, nhưng nếu có bằng chứng, thủ phạm tất nhiên phải bị truy tố. Nhưng ngay cả điều đo cũng không ảnh hưởng đến quyền tự vệ của Ukraine trong lúc này.
Người dân Hoa Kỳ từ 50 tuổi trở lên có thể tiêm vắc xin COVID-19 mũi thứ 4 nếu đã tiêm mũi thứ 3 được ít nhất 4 tháng, theo APnews đưa tin ngày Thứ Ba, 29 tháng 3 năm 2022./ Ủy Ban Đặc Biệt Hạ Viện điều tra vụ bạo loạn Điện Capitol vào ngày 6 tháng 1 năm 2021 đã xác định được hồ sơ chính thức về các cuộc điện thoại của Tổng thống Donald Trump khi vụ bạo loạn xảy ra bị thiếu mất 8 tiếng đồng hồ, theo APnews đưa tin ngày Thứ Ba, 29 tháng 3 năm 2022./ TNS Joe Manchin đã nhanh chóng bác bỏ kế hoạch của Tổng thống Biden nhằm tăng 360 tỷ đô la doanh thu bằng cách áp mức thuế mới tối thiểu 20% đối với các đại tỷ phú và tỷ phú, theo TheHill đưa tin ngày Thứ Ba, 29 tháng 3 năm 2022.
(Robert Mullins International) Ngày 15 tháng 3, 2022 sau khi Lưỡng viện Quốc Hội thông qua luật chi tiêu bao gồm gói Omnibus, Tổng thống Biden đã ký ban hành luật cải tổ dài hạn chương trình EB-5 và tái ủy quyền chương trình Trung tâm vùng đến 30/09/2027. Các nhà đầu tư Việt Nam đã bày tỏ mừng vui trong sự ngạc nhiên. Nhiều nhà đầu tư liên lạc với văn phòng chúng tôi để tìm hiểu thêm những thông tin cải tổ. Hiện nay sở di trú chưa phổ biến chi tiết liên quan đến những quy định mới của chương trình EB-5. Theo giới chuyên môn và những nhà phân tích trong lãnh vực EB-5 cho biết, trong lúc chờ đợi sở di trú công bố những quy định về chương trình EB-5 mới, các nhà đầu tư vẫn có thể nộp hồ sơ EB-5 trực tiếp kinh doanh, hoặc qua trung tâm vùng với vốn đầu tư mới, $800,000 cho vùng việc làm trọng điểm (TEA) và $1,050,000 cho vùng đã phát triển (non-TEA).
Ngày 24 tháng 3 là Ngày Lao Phổi Quốc Tế. Lao Phổi là một trong những bệnh truyền nhiễm gây tử vong hàng đầu trên thế giới. Có đến 13 triệu người tại Hoa Kỳ đang sống chung với nhiễm Lao tiềm ẩn. Nếu không được chữa trị, 5-10% sẽ tiến triển thành bệnh Lao Phổi. Tuy nhiên, nhiều người vẫn tưởng rằng Lao Phổi không còn là một vấn đề đáng quan tâm nữa.
Thiền Tịnh Đạo Tràng, do Ni Sư Thích Nữ Diệu Tánh, Tổng Vụ Phó Tổng Vụ Tài Chánh, Hội Đồng Điều Hành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ, Viện Chủ Thiền Tịnh Đạo Tràng đã trang nghiêm tổ chức lễ Tạ Ân Sư vào trưa ngày thứ Bảy, 26 tháng 3.
Sau 2 năm phải hoãn tổ chức vì dịch COVID-19, Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ đã tổ chức rất thành công Đại Nhạc Hội Kỷ Niệm 12 Năm Thành Lập vào ngày Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2022 lúc 5:00 pm tại nhà hàng Golden Sea với hơn 500 quan khách tham dự.
Trẻ em có nên đeo khẩu trang ở trường hay không vẫn là một chủ đề nóng bỏng, với nhiều ý kiến gay gắt của cả hai phía. Thêm vào cuộc trò chuyện này, là hướng dẫn đeo khẩu trang mới nhất của tiểu bang, có hiệu lực từ ngày 12 tháng 3. Các trường học không còn phải thực thi quy định bắt buộc đeo khẩu trang nữa, và thay vào đó là duy trì việc đeo khẩu trang như một đề nghị mạnh mẽ để giữ an toàn cho học sinh, giáo viên, và nhân viên nhà trường. Một số học khu, thậm chí đã chọn tiếp tục duy trì các yêu cầu về khẩu trang, và khẩu trang tiếp tục là yêu cầu bắt buộc ở một số trung tâm có nguy cơ cao, như trung tâm chăm sóc sức khỏe, và trên những phương tiện công cộng.
MARIUPOL – Các viên chức Nga và Ukraine đã đồng ý tạm thời ngừng bắn ở thành phố cảng phía nam Mariupol, với kế hoạch di tản vào thứ Sáu, 1 tháng 4 năm 2022, theo trang WashingtonPost đưa tin ngày Thứ Năm, 31 tháng 3 năm 2022.
WASHINGTON - Người dân Hoa Kỳ sẽ được phép chọn chữ “X” ở phần giới tính trong đơn xin hộ chiếu, thẻ An sinh Xã hội, giấy khai sinh hoặc các tài liệu chính thức khác, biện pháp mới từ chính quyền Biden nhằm hỗ trợ người chuyển giới Hoa Kỳ khi họ đang bị nhắm mục tiêu ở nhiều tiểu bang, theo Reuters đưa tin ngày Thứ Năm, 31 tháng 3 năm 2022.
WASHINGTON – Người ta biết rất rõ về những giờ phút đã làm rung chuyển nền dân chủ Hoa Kỳ từ tận cốt lõi. Bài phát biểu kích động của tổng thống, cuộc tuần hành của một đám đông giận dữ kéo đến Điện Capitol, đột nhập, đánh đập cảnh sát, đe dọa “treo cổ Mike Pence,” các nhà lập pháp tháo chạy, vụ bắn chết kẻ bạo loạn Ashli ​​Babbitt. Tất cả sự hỗn loạn đó diễn ra trong khoảng 8 tiếng đồng hồ ngày 6 tháng 1 năm 2021.
HOA KỲ – Tổng thống Biden đã tuyên bố Hoa Kỳ sẽ xuất tới 180 triệu thùng dầu từ kho dự trữ dầu chiến lược (Strategic Petroleum Reserve – SPR) để chống lại tác động kinh tế từ cuộc xâm lược Ukraine của Nga, theo trang NYTimes đưa tin ngày Thứ Năm, 31 tháng 3 năm 2022.
Những tia nắng Xuân đã ngập tràn khu vườn Thanh Tâm với hương hoa ngào ngạt của hai giàn Jasmine phủ rợp Trà Thất Ý Thảo, cộng với những cành lan Úc đang hé nụ đón xuân toả lan hương nhẹ khắp khu vườn. Tiếng nước chảy róc rách từ Hồ Tịnh Thuỷ, mùi trầm hương nhè nhẹ lan xa, một vài chú chim líu lo trên cành cây nắng sớm như tạo duyên cho buổi thiền tập và tu học của CLBTNT OC đã được phối hợp với anh chị Tuệ Quán tổ chức tại khu vuờn Thanh Tâm Viên tao nhã, thiền vị!
Tiếp tục loạt bài về trận đánh Điện Biên Phủ kết thúc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, nhà văn Trần Vũ phân tích chiến thuật chiến lược của đôi bên, Pháp và Việt Minh, từ mắt nhìn của một nhà quân sự. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.