Hôm nay,  

Điểm Sách: Phật Giáo Chưa Bao Giờ Biến Mất Khỏi Ấn Độ

21/01/202510:31:00(Xem: 5865)
blankBìa sách "Casting the Buddha: A Monumental History of Buddhism in India" (Đón Nhận Đức Phật: Một Lịch Sử Hùng Vĩ của Phật Giáo tại Ấn Độ) của tác giả Shashank Shekhar Sinha.
  
Điểm Sách: Phật Giáo Chưa Bao Giờ Biến Mất Khỏi Ấn Độ

Tạp chí Eurasia Review, ngày 20/1/2025
Tác giả: P. K. Balachandran
Dịch giả: Nguyên Giác
 
(Lời giới thiệu của Nguyên Giác: Phật Giáo chưa bao giờ biến mất khỏi Ấn Độ. Phật Giáo chỉ tàng hình, hội nhập vào văn hóa Ấn Độ. Bài viết nhan đề "Theory That Buddhism Vanished From Its Birthplace, India, Is Being Challenged" [Lý Thuyết Nói Rằng Phật Giáo Biến Mất Khỏi Nơi Xuất Phát, Ấn Độ, Đang Bị Thách Thức] là của P. K. Balachandran, một nhà báo Ấn Độ kỳ cựu làm việc tại Sri Lanka cho các cơ quan truyền thông địa phương và quốc tế và đã viết về các vấn đề Nam Á trong 21 năm qua.  Bài này trên tạp chí Eurasia Review, nhận định về sách "Casting the Buddha: A Monumental History of Buddhism in India" [Đón Nhận Đức Phật: Một Lịch Sử Hùng Vĩ của Phật Giáo tại Ấn Độ) của tác giả Shashank Shekhar Sinha]. Sau đây là bản Việt dịch.)
   
Sử gia Ấn Độ Shashank Shekhar Sinha đã thách thức lý thuyết được chấp nhận rộng rãi rằng Phật giáo đã biến mất từ thế kỷ 13 ra khỏi Ấn Độ, nơi Phật giáo ra đời. Trong cuốn sách mới nhất của ông, nhan đề "Casting the Buddha: A Monumental History of Buddhism in India" (NXB Macmillan, New Delhi, 2024), Sinha chỉ ra rằng người Ấn Độ đã có những cuộc tranh luận về giáo lý của Phật giáo và đã đón nhận nhiều giáo lý trong số đó trong nhiều thế kỷ sau khi Phật giáo bị tuyên bố là "đã chết" ở Ấn Độ.
 
Phật giáo chắc chắn đã suy yếu, một phần là do những người cai trị Hồi giáo Ấn Độ bài trừ thần tượng hồi thế kỷ 13, và một phần là do sự tái xuất hiện đồng thời về mặt ý thức hệ của Ấn Độ giáo “Vệ Đà” do các Bà la môn lãnh đạo. Nhưng Phật pháp vẫn là chủ đề chính của cuộc thảo luận ở Ấn Độ và nhiều tín lý của Phật giáo đã được hội nhập vào Ấn Độ giáo. Hiện tượng sau đã đi đến mức mô tả Đức Phật như một tái sinh hoặc hóa thân của Vishnu, và do đó, Đức Phật bị xem như một vị thần Ấn Độ Giáo.
 
Sinha cũng chỉ ra rằng thông qua vai trò của mình trong sự giải phóng xã hội và các phong trào chính trị, Phật giáo đã trở lại vị trí trung tâm trong tư tưởng, chính trị và quan hệ quốc tế của Ấn Độ, đặc biệt là trong thế kỷ 19 và thế kỷ 20.
 
Sách "Casting the Buddha: A Monumental History of Buddhism in India" chủ yếu nói về các tượng đài Phật giáo và di tích khảo cổ ở Ấn Độ và mối quan hệ của chúng với các văn bản Phật giáo đương thời. Sinha khẳng định rằng các sinh viên học Phật phải đối chiếu những gì họ đọc trong các văn bản với những gì có thể thấy trong các tượng đài di tích và phát hiện khảo cổ, để hiểu rõ và mô tả chính xác các tín ngưỡng, tập tục và văn hóa thịnh hành trong “thời đại Phật giáo” ở Ấn Độ (khi Phật giáo còn thống trị vùng đất rộng lớn).
 
Để tới chủ đề của bài viết này, một sự hồi sinh của Phật giáo đã hiển lộ rõ ràng. Theo những cách quan trọng, Phật giáo đã chiếm vị trí trung tâm trong chính trị Ấn Độ, đặc biệt là trong việc huy động các giai cấp bị áp bức hoặc bị thiệt thòi. Sau đó, trong thời đại Nehruvian (Nehru: Thủ tướng đầu tiên của nước Ấn Độ độc lập), nó đã trở thành một công cụ quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ với các quốc gia Phật giáo ở Nam Á, Đông Nam Á và Đông Á.
 
Nhờ Nehru, các biểu tượng quốc gia của Ấn Độ thực sự là Phật giáo – chẳng hạn như bánh xe Chuyển Pháp Luân và Lion Capital (Tượng đài Sư tử của Vua A Dục) được tìm thấy ở Sarnath. Bánh xe ở trung tâm của lá cờ Ấn Độ, được gọi là Ashoka Chakra (Pháp Luân), đại diện cho Dharmachakra, luật của Pháp, hoặc bánh xe vĩnh cửu của sự công chính. Nó tượng trưng cho quan niệm của Phật giáo về công lý trong xã hội và các nguyên tắc đạo đức nên hướng dẫn các hành động. Pháp Luân cũng đại diện cho cam kết của Ấn Độ trong việc duy trì luật pháp, hòa bình và công lý như một phần bản sắc dân tộc của mình. Một biểu tượng Phật giáo hiện là hiện thân của tầm nhìn về Ấn Độ như một Nhà nước công chính.
 
Các chính phủ Ấn Độ kế tiếp kể từ Nehru đã sử dụng quá khứ Phật giáo của Ấn Độ để thiết lập mối liên kết cộng sinh hoặc văn minh với nhiều quốc gia ở Đông Á, Đông Nam Á và Nam Á bao gồm Sri Lanka và Myanmar.
 
Đóng góp của phương Tây
Sinha dành nhiều lời khen ngợi cho người phương Tây, chủ yếu là người châu Âu, những người đã tái khám phá Phật giáo và giúp truyền bá nhận thức về Phật giáo trên toàn thế giới. Nhưng ông thách thức quan điểm cho rằng nếu không có người phương Tây, người Ấn Độ sẽ tiếp tục nghĩ rằng Phật giáo đã chết ở đất nước họ hồi thế kỷ 13.
 
Tác phẩm Light of Asia (1879) của Edwin Arnold khẳng định rằng Phật giáo đã được người phương Tây tái khám phá vào thế kỷ 19. Nhưng Sinha lập luận rằng Ấn Độ đã có truyền thống đối thoại với Phật giáo vào thời kỳ tiền Thuộc địa và đầu Thuộc địa. Một văn bản Phật giáo thế kỷ thứ nhất CN bằng tiếng Phạn có tên là Vajrasuchi (Diamond Cutter), được cho là của một Ashwaghosha, chống lại chủ nghĩa giai cấp Bà la môn. Lần đầu tiên nó được xuất bản vào thời hiện đại vào năm 1839, bốn mươi năm trước khi cuốn sách của Edwin Arnold được xuất bản. (1)
 
Sinha cho biết bản dịch tiếng Anh của Vajrasuchi đã gây tiếng vang khắp Ấn Độ và châu Âu trong số những nhà cải cách xã hội và các nhà truyền giáo Cơ đốc giáo. Nó đã được dịch sang tiếng Hindi, tiếng Bengal, tiếng Tamil và tiếng Nepal.
 
Nhờ sự mở rộng của thương mại, vào thế kỷ 12 và 13, phương Tây bắt đầu nghe nói về Phật giáo ở Ấn Độ. Marco Polo (1254–1324) đã đưa ra một báo cáo về nó. Nhưng trọng tâm của người phương Tây là Đông Nam Á hơn là Ấn Độ.
 
Những lữ khách châu Âu và thương gia lưu động đã nhìn thấy các bảo tháp và tu viện, nhưng chúng ở trong tình trạng rất đổ nát và không có mối liên hệ rõ ràng nào với Phật giáo. Ví dụ, ngài Huyền Trang (Xuanzang) đã tìm thấy hình ảnh của Đức Phật trong các ngôi đền Hindu và kết luận rằng Ấn Độ giáo đã hấp thụ Phật giáo. Nhưng thực tế, Bà la môn giáo đã phản đối gay gắt việc pha trộn Phật giáo vào với Ấn Độ giáo. Nhưng dù vậy, việc tiếp nhận các ý tưởng và hình thức thờ cúng của Phật giáo của tín đồ Hindu vẫn tiếp tục.
 
Trong những lần tương tác đầu tiên với Ấn Độ, các học giả và người nhiệt tâm châu Âu đã tranh luận liệu Đức Phật có phải là một nhân vật huyền thoại hay một nhân vật có thật, một "nhân vật lịch sử" như Chúa Jesus hay Mohammad. Một câu hỏi khác là liệu Đức Phật có sinh ra ở Ấn Độ hay Ba Tư (Persia) hay Mông Cổ (Mongolia) không.
 
Các văn bản mà người phương Tây có thể tiếp cận vào thời điểm đó là tiếng Bắc Phạn (Sanskrit) chứ không phải tiếng Pali, ngôn ngữ mà Đức Phật sử dụng. (2) Và tài liệu liên quan đến trường phái Phật giáo Đại thừa. Nhưng việc nghiên cứu Phật giáo ở nhiều nơi khác nhau tại Đông Nam Á và Ấn Độ dần dần thuyết phục các nhà nghiên cứu rằng tất cả chúng đều là một phần hoặc là các biến thể của một tôn giáo - Phật giáo và nguồn gốc của nó là ở Ấn Độ.
 
Eugene Burnauf (1801-1852) là người châu Âu đầu tiên viết một cuốn sách về “Phật giáo Ấn Độ” hay Phật giáo như được thực hành ở Ấn Độ. Cuốn sách dựa trên các bản thảo tiếng Bắc Phạn (Sanskrit) từ Nepal. Sau đó, người ta phát hiện ra rằng các văn bản từ Tây Tạng và Trung Quốc thực chất là bản dịch các văn bản Ấn Độ.
 
Vào cuối thế kỷ 19, các văn bản tiếng Pali đã được khám phá và dịch. Thomas William Rhys-Davids đã thành lập Hội Văn bản tiếng Pali (Pali Text Society) vào năm 1881 để thu thập, dịch và xuất bản ra.
 
Một nghiên cứu sâu về các văn bản tiếng Pali cho thấy Đức Phật là một nhà cải cách xã hội, thách thức sự thống trị của người Bà la môn và sự nắm giữ các nghi lễ và lễ hiến tế của Vệ Đà. Các học giả cũng cảm nhận được rằng có sự khác biệt giữa những lời dạy ban đầu của Đức Phật và các đệ tử trực tiếp của ngài, cũng như các lời kể và nội dung thêm vào sau này.

 
Khám phá các di tích
Trong khi các học giả đắm chìm trong các bản thảo của họ, các bức tranh về các địa điểm ở Ấn Độ, một số có liên quan đến Phật giáo, đã xuất hiện trên các ấn phẩm của châu Âu. William Daniel đã xuất bản các bản khắc (engravings) của mình vào năm 1830. Các bản in thạch bản (lithographs) của Charles D'Oyly xuất hiện vào năm 1838.
 
Sự ra đời của ngành khảo cổ học ở Ấn Độ vào thế kỷ 19 đã góp phần làm tăng thêm kiến thức về Phật giáo ở Ấn Độ. Nhưng đợt khai quật khảo cổ đầu tiên không phải do các chuyên gia thực hiện mà do các viên chức Anh thực hiện vì tò mò. Một người nghiệp dư, Colin Mackenzie, đã tìm thấy tàn tích của một bảo tháp ở Amaravati ở Andhra Pradesh vào năm 1798. Năm 1800, một bác sĩ đã khai quật một bảo tháp ở Vaishali ở Bihar. Năm 1905, trong quá trình khai quật khác ở Sarnath ở Uttar Pradesh, người ta đã phát hiện ra Tượng đài Sư tử của Vua Ashoka.
 
Các bảo tháp ở Sanchi ở Madhya Pradesh được Tướng Taylor phát hiện vào năm 1818. Sikh Maharaja Ranjit Singh của Punjab đã tiến hành khai quật ở Manikyala ở Tây Bắc Ấn Độ vào năm 1830, và sau đó là các cuộc khai quật tiếp theo ở khu vực Gandhara (nay thuộc Pakistan) của Alexander Burns và Charles Masson. Vì Burns và Massons tìm thấy tiền xu Hy Lạp (Greek coins) trong các bảo tháp, họ nghĩ rằng các bảo tháp là lăng mộ của các vị vua Hy Lạp.
 
Từ năm 1834 đến năm 1837, James Prinsep, một chuyên gia thử nghiệm (một viên chức được bổ nhiệm để thử trọng lượng và độ mịn của kim loại quý) đã có thể giải mã các chữ viết Brahmi và Kharoshthi trên tiền xu và bảo tháp. Điều này là do Prinsep có mối quan hệ ở Phật giáo Ceylon (Tích Lan) như công chức George Turnour và các nhà sư Phật giáo mà Turnour biết trong thời gian ông được bổ nhiệm ở quận Sabragamuwa.
 
Năm 1861, với việc thành lập Cục Khảo cổ học Ấn Độ (ASI: Archaeological Survey of India) và việc bổ nhiệm Tướng Sir Alexander Cunningham làm Tổng giám đốc, các khám phá đã tăng lên gấp bội. Cunningham đã lần theo dấu vết các công trình kiến trúc được các nhà du hành Trung Quốc là Faxian (Pháp Hiển, thế kỷ thứ 4 và thứ 5 sau Công nguyên) và Xuanzang (thế kỷ thứ 7 sau Công nguyên) đề cập. Năm 1830, các tác phẩm của Faxian và Xuanzang đã được xuất bản, đầu tiên bằng tiếng Pháp trước, rồi sau đó là tiếng Anh.
 
Từ năm 1861 đến 1865, Cunningham đã xác định được 160 địa điểm Phật giáo ở Bắc Ấn Độ. Khu vực Gandhara (nay là Pakistan và Afghanistan) đã được khai quật và tượng Phật Bamiyan đã được phát hiện ở Afghanistan. Đến năm 1884, quần thể đền Mahabodhi ở Bodh Gaya ở Bihar đã được khôi phục. Nó đã trở thành một trong bốn địa điểm linh thiêng liên quan đến cuộc đời của Đức Phật, và đặc biệt là đến sự giác ngộ.
 
Quần thể Đền Mahabodhi được Hoàng đế Asoka xây dựng lần đầu tiên vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Ngôi đền hiện tại (sau đó được tân trang) được xây dựng vào thời kỳ Gupta (thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ thứ 6 sau Công nguyên). Đây là một trong những ngôi đền Phật giáo đầu tiên được xây dựng hoàn toàn bằng gạch, hiện vẫn còn tồn tại. Sinha cho biết ngôi đền này được coi là có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của kiến trúc gạch trong nhiều thế kỷ.
 
Tổng giám đốc tiếp theo của Khảo sát Khảo cổ học, Ngài John Marshall (1902-28), quan tâm nhiều hơn đến việc khám phá và phục hồi các bảo tháp và tu viện liên quan đến Hoàng đế Asoka.
 
“Những di tích của bảo tháp được liên hệ với nội dung trong các văn bản viết để có được bức tranh toàn cảnh về các ý tưởng và thực hành của Phật giáo ở nhiều nơi khác nhau. Các tác phẩm điêu khắc đã đưa ra bằng chứng về các thực hành của Phật giáo. Tiền xu, chữ khắc và hiện vật đã giúp kể câu chuyện chính xác hơn. Marshall đã có thể liên kết các địa điểm của Asoka với văn bản Phật giáo Divyavadana vào thế kỷ thứ 5,” theo Sinha chỉ ra.
 
Sự say mê với các tôn giáo thế giới là một đặc điểm của đời sống trí thức phương Tây vào nửa sau thế kỷ 19. Sự quan tâm đến Phật giáo, Ấn Độ giáo và các giáo phái cải cách ngày càng tăng. Tác phẩm The Light of Asia (1879) của Edwin Arnold là một tác phẩm chuyển thể từ văn bản Phật giáo Lalitavistara, một bài thơ tự sự về cuộc đời, thời đại và triết lý của Đức Phật. The Light of Asia đã được dịch sang nhiều ngôn ngữ Ấn Độ. Ngay sau đó, nó đã truyền cảm hứng cho các nhà lãnh đạo hàng đầu của Ấn Độ như B.R.Ambedkar, Jawaharlal Nehru và Rabindranath Tagore. Hội nghị "World Parliament of Religions" (Quốc hội thế giới về tôn giáo) được tổ chức tại Chicago vào năm 1893, nơi Anagarika Dharmapala của Ceylon đã có bài giảng về "Món nợ của thế giới đối với Phật giáo".
 
Các phong trào cải cách của đạo Hindu như Brahmo Samaj và Prarthana Samaj cũng góp phần tạo nên sự quan tâm đến Phật giáo. Các cộng đồng Phật giáo được thành lập ở nhiều nơi tại Ấn Độ và các cộng đồng này đã sản sinh ra nền văn học Phật giáo. Tagore đã đưa các chủ đề Phật giáo vào các tác phẩm nghệ thuật của mình.
 
Ngay cả Hindu Mahasabha cũng bảo trợ cho Phật giáo mặc dù họ cho rằng Phật giáo chỉ là "Ấn Độ giáo cải cách" chứ không phải là một tôn giáo riêng biệt. Sinha tiết lộ rằng các doanh nghiệp Hindu cũng ủng hộ và truyền bá Phật giáo.
 
Hindu Birlas bảo trợ cho Phật giáo. Jugal Kishore Birla (1883-1967) đã tài trợ cho 15 ngôi chùa Phật giáo lớn. Ông đã tài trợ cho bản dịch tiếng Hindi của các văn bản tiếng Pali. J.K.Birla được hỗ trợ bởi những người theo chủ nghĩa cánh tả và chủ nghĩa Marx như D.N.Kosambi và Rahul Sankritayayan.
 
Do đó, không có tranh chấp nào về việc các ý tưởng và tín ngưỡng Phật giáo vẫn tồn tại, mặc dù nằm ở rìa của tư tưởng tôn giáo ở tiểu lục địa Ấn Độ. Theo diễn tiến đó, không thể nói chỉ nhờ công lao của châu Âu trong việc khám phá hoặc phục hưng Phật giáo ở Ấn Độ, theo Sinha lý luận.
 
Phật giáo cũng truyền cảm hứng cho các phong trào chống giai cấp và các nỗ lực xây dựng một xã hội bình đẳng thông qua Hiến pháp của Ấn Độ độc lập. Sau khi Ấn Độ giành được độc lập, Phật giáo đã được đưa vào nghệ thuật cầm quyền, xây dựng quốc gia và quan hệ quốc tế.
 
Các chính trị gia sử dụng Phật giáo để thúc đẩy các ý tưởng bình đẳng. Ngay cả những người theo đạo Ấn Độ chính thống về giai cấp cũng đang lợi dụng Phật giáo để giải thích Ấn Độ giáo Bà la môn như chứa đựng trong chính nó đã có ý tưởng Phật giáo về một xã hội không có giai cấp. Họ nói Đức Phật là hóa thân thứ 9 của Thần Vishnu của Ấn Độ giáo.
 
Ấn Độ đang sử dụng quá khứ Phật giáo của mình để thiết lập các mối liên kết “văn minh” với các quốc gia Phật giáo và đang quảng bá các di tích Phật giáo của mình để thu hút khách hành hương và khách du lịch từ Châu Á. Thật vậy, như Sinha nói: “Đức Phật đã lại chiếm giữ sân khấu trung tâm lần nữa”.
.
NGUỒN: https://www.eurasiareview.com/20012025-theory-that-buddhism-vanished-from-its-birthplace-india-is-being-challenged-book-review/
.
Ghi chú của Nguyên Giác:
(1) Vajrasuchi là tác phẩm thuộc hệ Upanishad (Áo nghĩa thư) của Ấn Độ Giáo lại mang tư tưởng Phật giáo, chống tư tưởng giai cấp của Ấn Độ Giáo, vì nói rằng mọi người ở cả bốn giai cấp đều bình đẳng, đều có khả năng giác ngộ. Ashwaghosha là những người chịu ảnh hưởng của Thiền sư Phật giáo Mã Minh [Aśvaghoṣa]. Lịch sử chỗ này không minh bạch, đầy những giả thuyết. Nhưng văn bản đó hiển nhiên là có ảnh hưởng từ Phật giáo.
(2) Điểm này rất khả vấn. Theo truyền thống Phật giáo Thượng Tọa Bộ (Theravada), tiếng Pali được coi là ngôn ngữ mà Đức Phật đã sử dụng, vì nó liên quan đến "Magadhi", ngôn ngữ được nói ở vương quốc nơi Đức Phật sống; tuy nhiên, các nhà ngôn ngữ học vẫn tranh luận liệu tiếng Pali có chính xác là ngôn ngữ mà Đức Phật nói hay không, vì kinh văn kể  Đức Phật sử dụng nhiều ngôn ngữ có liên quan chặt chẽ hơn với các ngôn ngữ Prakrit khác ở Tây Ấn Độ.

California luôn đi đầu trong việc quan tâm đến đời sống của những cư dân có thu nhập thấp, đặc biệt trong các cộng đồng thiểu số và di dân. Trong vấn đề nhà ở, trước những lo ngại về chi phí nhà ở tăng vọt, vẫn có điểm sáng cho những người mua nhà lần đầu ở Tiểu Bang Vàng. Cơ quan Tài chính Nhà ở California (CalHFA) đang thực hiện Chương trình California Dream For All Shared Appreciation Loan dành cho những cư dân California hội đủ điều kiện, giúp người mua nhà lần đầu đủ khả năng trả tiền đặt cọc. Thời hạn ghi danh tham gia chương trình năm nay được mở từ ngày 24 tháng 2 đến ngày 16 tháng 3 năm 2026. Dự kiến sẽ có khoảng 1,500-2,000 người sẽ được hưởng lợi từ chương trình.
Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA) vừa quyết định hoãn kế hoạch phóng sứ mệnh Artemis II ít nhất một tháng, sau khi một loạt vấn đề kỹ thuật phát sinh trong bài “tổng diễn tập kỹ thuật” trên bệ phóng tại Trung tâm Không gian Kennedy, bang Florida. Trong quá trình nạp nhiên liệu siêu lạnh cho tên lửa Hệ thống Phóng Không gian (SLS), các cảm biến phát hiện rò rỉ hydro – loại nhiên liệu hiệu suất cao nhưng đòi hỏi tiêu chuẩn kín khít cực kỳ nghiêm ngặt – khiến quy trình thử nghiệm phải dừng lại trước khi hoàn thành toàn bộ trình tự đếm ngược.
Chiều Chủ nhật 1 tháng 2, trên đại lộ Champs-Elysées ở Paris, một người máy hình người đi khoan thai trước đoàn múa lân rồng, mở màn cuộc diễn hành mừng Tết Nguyên Đán Bính Ngọ 2026, pha trộn nét cổ truyền phương Đông với màu sắc tân kỳ giữa thủ đô nước Pháp. Người máy – do một hãng Trung Hoa chế tạo và được công ty công nghệ Pháp INNOV8 Group đưa sang – đi đầu đoàn gần 800 diễn viên Trung – Pháp, thỉnh thoảng quay người, dừng lại, giơ tay chào đúng theo nhịp trống và tiếng nhạc, khiến hai bên đường rộ lên tiếng reo hò và rừng điện thoại giơ cao ghi hình. Ban tổ chức cho hay khoảng 100.000 cư dân Paris và khách du lịch đã chen kín hai bên lề Champs-Elysées để xem đoàn diễn hành Tết Trung Hoa năm nay, không khí Tết tràn ngập cả khúc đại lộ danh tiếng.
Một trường hợp y khoa ngoạn mục vừa được ghi nhận tại Chicago: phổi nhân tạo đã giúp một người đàn ông 33 tuổi sống sót suốt 48 giờ, cho đến khi đủ sức khỏe để được ghép phổi đôi, và gần ba năm sau anh vẫn sinh hoạt tốt. Bệnh nhân nhập viện Northwestern Memorial mùa xuân năm 2023, trong tình trạng “ngọn đèn trước gió”. Một cơn cúm dẫn đến tình trạng dịch tràn ngập phổi, tiếp theo là viêm phổi do vi trùng, khiến hai lá phổi hư hại nặng, gần như “chuyển thành chất lỏng”, không còn làm nổi nhiệm vụ đưa dưỡng khí vào máu. Thận bắt đầu suy, tim có lúc ngừng, bác sĩ phải cấp cứu bằng hồi sinh tim phổi.
Chính quyền Trump tiếp tục đẩy mạnh các hành động thực thi luật di trú trên khắp cả nước. Các cuộc đột kích mạnh mẽ, bắt giữ trên đường phố, việc sử dụng vũ lực của nhân viên ICE và CBP đã làm gia tăng nỗi sợ hãi trong nhiều cộng đồng. Sự leo thang lên đến đỉnh điểm với vụ nổ súng cướp đi sinh mạng của hai công dân Mỹ Renée Good vào ngày 7 tháng 1 và Alex Pretti vào ngày 24 tháng 1. Cả hai đều bị các đặc vụ di trú liên bang bắn chết trong các cuộc biểu tình ở Minneapolis. Nhưng cũng từ đó, sự phản kháng từ cá nhân, gia đình, những tổ chức cộng đồng, chính quyền địa phương tăng mạnh. Các cộng đồng đang tạo nên một làn sóng phản kháng ngày càng tăng dưới nhiều hình thức, từ biểu tình đến khiếu kiện về quyền công dân, đến việc tổ chức bảo vệ trường học, bảo vệ địa phương phối hợp.
Tổng thống Trump đã khẳng định rõ ràng rằng người di dân phải tự túc về tài chính và không trở thành gánh nặng tài chính cho người dân Hoa Kỳ. Bộ Ngoại giao đang tiến hành rà soát toàn diện tất cả các chính sách, quy định và hướng dẫn để đảm bảo rằng người di dân từ các quốc gia có nguy cơ cao này không sử dụng phúc lợi xã hội tại Hoa Kỳ hoặc trở thành gánh nặng cho xã hội.
Trong nhiều tuần qua, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã huy động khoảng 3.000 nhân viên thuộc Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan Hoa Kỳ (ICE) đến Minneapolis, thành phố lớn nhất của bang Minnesota. Những hành động truy quét tàn bạo của ICE nhắm vào người nhập cư bất hợp pháp dẫn đến cái chết của Renee Nicole Good và Alex Pretti, hai người dân Mỹ da trắng, đã gây phẫn nộ trong dư luận và truyền thông quốc tế. Thực tế cho thấy ICE còn theo đuổi những mục tiêu chính trị rộng lớn hơn do Tổng thống Mỹ Donald Trump đề ra.
Video mới gây nghi vấn: Một người lạ bí mật lẻn vào ngục để giết Epstein? Bản tin tựa đề "Who entered Epstein's jail tier the night of his death? Newly released video logs appear to contradict official accounts" (Ai đã vào khu giam Epstein vào đêm Epstein chết? Các đoạn video ghi hình mới được công bố dường như mâu thuẫn với các báo cáo chính thức). FBI ghi chú rằng video cho thấy có thể là 1 tù nhân mặc áo màu cam vào khu giam Epstein, nhưng Tổng Thanh Tra Cải huấn nói rằng như dường cai tù ôm theo cái mền hay vải
Văng miểng: Trong khi Trump và Bộ Tư Pháp nói xong rồi, hồ sơ Epstein không có gì cần nói nữa, nhiều chính phủ Châu Âu bắt đầu điều tra bọn ấu dâm. Bản tin France 24 kết hợp thông tấn AFP, Reuters đưa ra bản tin "Royals, politicians, magnates, intellectuals: Epstein files spark storm in global elite circles" (Hoàng gia, chính trị gia, ông trùm kinh doanh, giới trí thức: Hồ sơ Epstein gây chấn động giới tinh hoa toàn cầu" hôm Thứ Năm 5/2/2026 cho thấy Trump không dìm nổi hồ sơ Epstein.
-- Hoa Kỳ Và Nga Thỏa Thuận Giữ Nguyên Hiệp Ước Hạt Nhân New Start. -- Indiana: Dậy Sóng Dự Luật Dạy Học Sinh “Cưới Rồi Mới Đẻ”. -- Trump “Nhẹ Tay” Với Di Trú, Nhưng Gạt Bớt Công Chức “Cản Đường” -- Ngân Sách Nội An Bế Tắc: Dân Chủ Đòi Siết ICE, Cộng Hòa Muốn Kéo Dài. -- Dư Luận Bất Tín Bạch Ốc: 6/10 Cho Rằng Chính Quyền Trump “Không Nói Thật”. -- Georgia: Trump Chọn Công Tố Viên MAGA Thay Ghế Marjorie Taylor Greene. -- Hồ Sơ Epstein: Trump Nói Khó Chịu Khi Hạ Viện “Rờ” Tới Bill Clinton. -- Giá Điện, Nước Tăng Vọt, Hàng Chục Triệu Gia Đình Lo Lắng. -- Oregon Chặn ICE Bắt Người Không Trát Tòa, Chỉ Trừ Khi Có Cơ Nguy Bỏ Trốn. -- New York City Gia Nhập Mạng Lưới Y Tế LHQ, Đi Ngược Quyết Định Của Trump. -- Pennsylvania: Cháy Bệnh Viện Nửa Đêm, 77 Bệnh Nhân Phải Chuyển Đi Nơi Khác. -- Hãng Nike Bị Điều Tra, Bị Tố Kỳ Thị Nhân Viên Da Trắng. -- Thêm Một Can Phạm Bị Bắt Trong Vụ Bắn Thẩm Phán Ở Indiana...
Báo The Mirror loan tin này hôm Thứ Tư 4/2/2026, theo phóng viên Peter Rubinstein với bản tin "Trump threatens to shred Constitution for third term and admits possibility is 'exciting'" (Trump đe dọa xé bỏ Hiến pháp để tranh cử nhiệm kỳ thứ ba và thừa nhận khả năng đó là "thú vị"). Ghi nhận rằng phóng viên Tom LLamas của NBC từng bị ông mắng năm 2016 vì dám hỏi ông đã tặng tiền cho các hội từ thiện bao nhiêu, trong khi ông nổi tiếng là chỉ vơ vét chứ không trao tặng tiền gì ra cả.
Trong khi Giáo hội Công giáo toàn cầu đang vật lộn với sự suy giảm nhiều về ơn gọi, Giáo hội tại Việt Nam lại đối mặt với một thách thức khác biệt: làm thế nào để biến số lượng thặng dư đông đảo linh mục thành những nhà truyền giáo thực thụ chứ không chỉ là những linh mục quản xứ đơn thuần.
Đại Gia Đình Huỳnh Tộc Tường Quang Phú Yên nhận được tin buồn: Ông HUỲNH QUANG HIỂN nguyên Trưởng Tộc Huỳnh Tộc Tường Quang vừa vãng sinh vào ngày thứ hảy 31 tháng 01 năm 2026 tại Toronto, Canada. Hưởng thọ 75 tuổi
Tối cao Pháp viện hôm thứ Tư ra một lệnh vắn tắt, cho phép tiểu bang California sử dụng bản đồ đơn vị bầu cử Hạ viện liên bang mới, vốn đã được cử tri thông qua hồi năm ngoái, được coi như một thắng lợi lớn cho đảng Dân Chủ trước kỳ bầu cử giữa nhiệm kỳ 2026. Bản đồ này do các dân biểu Dân Chủ tại Sacramento soạn thảo và được chuẩn y qua đề án lá phiếu Proposition 50, giúp Dân Chủ trông thêm đến năm ghế dân biểu khi tìm cách giành lại đa số tại Hạ viện.
• Công Tố Viên Gốc Việt Bị Ngưng Nhiệm Vụ Sau Phát Biểu Chấn Động Tòa Di Trú • Vì Sao Chú Ngựa Bính Ngọ Bị Lỗi Trở Nên Nổi Tiếng? • Chính Quyền Trump Rút 700 Đặc Vụ Liên Bang Khỏi Minnesota • Washington Post Sa Thải Hàng Trăm Ký Giả • Trump Tiếp Tục Đòi ‘Quốc Hữu Hóa’ Bầu Cử • Fulton County Đòi FBI Trả Lại Hồ Sơ Bầu Cử 2020 • Chính Phủ Anh Hành Động Khi Cựu Đại Sứ Tại Mỹ Có Tên Trong Hồ Sơ Epstein • Melinda Gates: ‘Một Nỗi Buồn Không Thể Tin Được’ • Tượng "Thiên Thần (Thủ Tướng Ý) Meloni" Bị Xóa Khỏi Nhà Thờ Ở Rome • Trung Quốc Đe Dọa Sau Phán Quyết Về Kênh Đào Panama
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.