Hôm nay,  

Ai có thể làm chói sáng cõi này? / Who can illuminate this world?

01/03/202520:47:00(Xem: 5474)
blank
 
Ai có thể làm chói sáng cõi này?
   
Nguyên Giác

   
Khi chúng ta đọc Kinh Phật, thường gặp những hình ảnh nói về sự chói sáng. Có Kinh nói rằng, nguồn của ánh sáng là Đức Phật, sáng hơn cả mặt trời và mặt trăng. Đó là Kinh SN 1.26 Sutta. Trong khi đó, Kinh AN 1.41-50 Sutta nói rằng nguồn của ánh sáng là tâm vốn có sẵn tánh sáng chói, nhưng bị bụi cấu uế bám vào, và tâm này sẽ chói sáng sau khi gột rửa bụi.
   
Trong một hình ảnh khác, chúng ta đọc thấy Kinh AN 4.7 Sutta ghi rằng, ngay cả người nam cữ sĩ và nữ cư sĩ, giữ năm giới và hành trì Chánh pháp là cũng đủ để hiển lộ ánh sáng trong tứ chúng. Nghĩa là, chưa phải là bậc giải thoát, chúng ta cũng có thể làm chói sáng những nơi chúng ta bước vào. Thực vậy, rất nhiều Kinh ghi rằng, một vị cõi thiên khi hiện ra đều làm chói sáng một góc rừng. Chúng ta đều biết rằng, các vị thiên chủ yếu là có phước đức, nhưng chưa hẳn là họ có đủ trí tuệ giải thoát.
   
Có một kinh rất đặc biệt nói về ánh sáng: Kinh MN 32 Sutta ghi câu hỏi của ngài Sāriputta rằng hạng Tỷ-kheo nào có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga. Điều lý thú là, có nhiều câu trả lời.
   
. Ngài Ananda trả lời rằng nhà sư học nhiều sẽ có thể làm chói sáng  khu rừng Gosinga.
. Ngài Revata trả lời rằng nhà sư ưa nơi u tịch, thiền định thường trực trong chỉ và quán sẽ có thể làm chói sáng  khu rừng Gosinga.
. Ngài Anuruddha nói rằng nhà sư nào đắc thiên nhãn thần thông sẽ có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga.
. Ngài Kassapa nói rằng vị sư nào sống hạnh đầu đà, giới hạnh viên mãn, sẽ có thể làm chói sáng  khu rừng Gosinga. Điều chú ý: hạnh đầu đà mà Ngài Kassapa nói nơi đây là ẩn cư trong núi rừng, không nói về du hành đường xa.
. Ngài Moggallāna nói rằng các vị sư giỏi về luận thuyết, xuất sắc tranh biện, nắm vững các pháp A Tỳ Đàm, sẽ có thể làm chói sáng  khu rừng Gosinga.
. Ngài Sāriputta nói rằng nhà sư nào điều phục được tâm dễ dàng trong sáng, trưa, chiều, tối là sẽ có thể làm chói sáng  khu rừng Gosinga.
   
Như thế là sáu câu trả lời từ sáu vị tăng nổi bật của Thế Tôn. Quý ngài thắc mắc, nên tới kể lại cho Đức Phật. Câu trả lời của Đức Phật đơn giản rằng, cả sáu câu trả lời đều đúng, rằng sáu khuynh hướng tu hánh tinh tấn như thế đều có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga. Rồi Đức Phật cho câu trả lời thứ bảy, rằng bất kỳ vị sư nào tinh tấn thiền định đều có thể làm chói sáng  khu rừng Gosinga.
   
Nơi đây, chúng ta sẽ tuần tự nói về các Kinh vừa dẫn. Tất cả phần tiếng Việt là từ bản dịch của Thầy Minh Châu.
   
Trong Kinh SN 1.26 Sutta, Đức Phật nói rằng ngài là nguồn sáng tối thắng, sáng hôn mặt trời, mặt trăng, lửa cháy. Kinh SN 1.26 Sutta ghi như sau:
   
Bốn vật chiếu sáng đời,
Thứ năm, đây không có.
Ngày, mặt trời sáng chói,
Đêm, mặt trăng tỏ rạng,
Lửa cháy đỏ đêm ngày,
Chói sáng khắp mọi nơi.
Chánh giác sáng tối thắng,
Sáng này, sáng vô thượng.
   
Trong Kinh AN 1.41-50 Sutta, Đức Phật nói về tâm sáng chói khi gột sạch cấu uế. Kinh AN 1.41-50 Sutta ghi như sau.
   
"Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói, nhưng bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào.
Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói và tâm này được gột sạch các cấu uế từ ngoài vào."
   
Trong khi đó, Kinh AN 4.7 Sutta ghi lời Đức Phật dạy rằng bất kỳ vị sư, vị ni, vị nam cư sĩ, và vị nữ cư sĩ nào cũng có thể làm chói sáng được. Kinh AN 4.7 Sutta ghi như sau:
   
"Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, thông minh, được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng tăng chúng. Thế nào là bốn?
Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, thông minh, được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng tăng chúng. Tỷ-kheo-ni, này các Tỷ-kheo, … nam cư sĩ, này các Tỷ-kheo, … , nữ cư sĩ, này các Tỷ-kheo, thông minh, được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng tăng chúng."
   
Trong khi đó, trong Kinh MN 32 Sutta Tôn giả Sāriputta nêu câu hỏi: Hạng Tỷ-kheo nào có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga?
   
Ngài Ananda đáp: "Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo nghe nhiều, gìn giữ điều đã nghe, tích tụ điều đã nghe. Những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa cụ túc, nói lên phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh, những pháp ấy được vị ấy nghe nhiều và gìn giữ kỹ, được lập lại lớn tiếng, được ý tư duy, được tri kiến khéo quán sát; vị ấy thuyết pháp cho bốn hội chúng với văn cú viên dung, lưu loát, với mục đích đoạn trừ mọi tùy miên. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."
   
Ngài Revata đáp: "Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo ưa thích đời sống tịnh cư, vui thú đời sống tịnh cư, nội tâm tu pháp, tịnh chỉ, không gián đoạn thiền định, thành tựu quán hạnh, luôn luôn lui tới các chỗ không tịch. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."
   
Ngài Anuruddha đáp: "Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhiên, quán sát ngàn thế giới. Này Hiền giả Sāriputta, ví như một người có mắt lên trên đỉnh một ngôi lầu tốt đẹp, quán sát một ngàn đường vòng xung quanh. Cũng vậy, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhiên, quán sát ngàn thế giới. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."
   
Ngài Kassapa đáp: "Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo, tự mình sống ở rừng núi và tán thán đời sống ở rừng núi, tự mình sống khất thực, và tán thán đời sống khất thực, tự mình mặc y phấn tảo và tán thán hạnh mặc y phấn tảo, tự mình sống với ba y và tán thán hạnh ba y, tự mình sống thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục, tự mình sống biết đủ và tán thán hạnh biết đủ, tự mình sống độc cư và tán thán hạnh sống độc cư, tự mình sống không nhiễm thế tục và tán thán hạnh không nhiễm thế tục, tự mình tinh cần, tinh tấn và tán thán hạn tinh cần, tinh tấn, tự mình thành tựu giới hạnh và tán thán sự thành tựu giới hạnh, tự mình thành tựu Thiền định và tán thán sự thành tựu thiền định, tự mình thành tựu trí tuệ và tán thán sự thành tựu trí tuệ, tự mình thành tựu giải thoát và tán thán sự thành tựu giải thoát, tự mình thành tựu giải thoát tri kiến và tán thán sự thành tựu giải thoát tri kiến. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."
   
Ngài Moggallāna đáp: "Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, hai Tỷ-kheo đàm luận về Abhidhamma (A-tỳ-đàm). Các vị ấy hỏi nhau câu hỏi, và khi được hỏi, các vị trả lời được với nhau chớ không dừng lại vì không trả lời được, và cuộc đàm luận về pháp được tiếp tục. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.”
   
Ngài Sāriputta đáp: "Ở đây, này Hiền giả Moggallāna, Tỷ-kheo điều phục được tâm, không phải Tỷ-kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy buổi trưa; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều. Hiền giả Moggallāna, ví như một vị vua hay vị đại thần của vua có một tủ áo đựng đầy những áo có nhiều màu sắc khác nhau. Cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi sáng, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi sáng; cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi trưa, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi trưa; cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi chiều, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi chiều. Cũng vậy, này Hiền giả Moggallāna, Tỷ-kheo điều phục được tâm, không phải Tỷ-kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy vào buổi trưa; an trú quả nào vị Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều. Này Hiền giả Moggallāna, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."
   
Thế rồi các vị sư tới hỏi Đức Phật, và được trả lời như sau: "Này Sāriputta, tất cả đều lần lượt khéo trả lời. Và này các Ông hãy nghe Ta nói hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga? Ở đây, này Sāriputta, Tỷ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực về, ngồi kiết-già, lưng thẳng, đặt niệm trước mặt, và nghĩ rằng: “Ta sẽ không bỏ ngồi kiết-già này cho đến khi tâm của ta được khéo giải thoát các lậu hoặc, không có chấp thủ”. Này Sāriputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."
   
Tất cả các Kinh vừa dẫn trên, cho thấy rằng bất kỳ Phật tử nào, dù là tu sĩ hay cư sĩ, khi giữ giới hạnh và tu hành tinh tấn, đều có thể làm chói sáng một khu rừng. Và hình ảnh khu rừng nơi đây có thể hiểu là một khu rừng trong thiên nhiên, và cũng có thể hiểu là khu rừng trong tâm.
   
.... o ....
.... o ....
 
Who can illuminate this world?
   
Written and translated by Nguyên Giác

 
When we read the Buddhist scriptures, we frequently encounter imagery of radiance. One sutra states that the source of light is the Buddha, who is brighter than both the sun and the moon; this statement is found in the SN 1.26 Sutta. In contrast, the AN 1.41-50 Sutta asserts that the source of light is the mind, which is inherently luminous but obscured by defilements. This mind will shine once it has been purified of those impurities.
 
In another image, we read in the AN 4.7 Sutta that even male and female lay followers who observe the five precepts and practice the Dharma are capable of manifesting light within the four groups. This means that even if we have not yet attained liberation, we can still illuminate the spaces we enter. Indeed, many Suttas document that when a deva appears, he illuminates a corner of the forest. We all understand that devas are primarily endowed with virtue, but they do not necessarily possess liberating wisdom.

 
There is an exceptional sutta that discusses radiance: the MN 32 Sutta records Sāriputta's inquiry regarding what type of bhikkhu could illuminate the Gosinga forest. Interestingly, there are numerous answers provided.
 
. Venerable Ananda replied that a knowledgeable monk would be able to illuminate the Gosinga Forest.
. Venerable Revata replied that a monk who embraces solitude and consistently meditates in both samatha and vipassana would be able to illuminate the Gosinga forest.
. Venerable Anuruddha stated that a monk who has attained the supernatural power of the divine eye would be able to illuminate the Gosinga Forest.
. Kassapa stated that any monk who embraces the Dhutanga life—a life of asceticism and perfect morality—will be able to illuminate the Gosinga forest. It is important to note that the Dhutanga life Kassapa refers to involves living in seclusion in the mountains and forests rather than traveling great distances.
. Venerable Moggallāna stated that monks who excel in argumentation, are skilled in debate, and possess a profound understanding of the Abhidharma will be able to illuminate the Gosinga forest.
. Venerable Sāriputta stated that monks who can easily control their minds throughout the morning, noon, afternoon, and night will be able to illuminate the Gosinga forest.
 
These were the six responses from the six esteemed monks of the Buddha. The monks were perplexed, so they approached the Buddha to seek clarification. The Buddha's response was straightforward: all six answers were correct, as these six tendencies of diligent practice could illuminate the Gosinga forest. He then provided a seventh insight, stating that any monk who meditates diligently could also illuminate the Gosinga forest.
 
Here, we will sequentially quote from the previously cited Suttas.
 
In the SN 1.26 Sutta, the Buddha states that he is the supreme light, brighter than the sun, the moon, and fire. The SN 1.26 Sutta is presented as follows, according to Bhikkhu Bodhi's translation.
 
“There are four sources of light in the world;
A fifth one is not found here.
The sun shines by day,
The moon glows at night,
And fire flares up here and there
Both by day and at night.
But the Buddha is the best of those that shine:
He is the light unsurpassed.”
 
In the AN 1.41-50 Sutta, the Buddha spoke of the mind being clear and bright when it is free from defilements. The AN 1.41-50 Sutta reads as follows, according to Thanissaro Bhikkhu's translation.
 
“Luminous, monks, is the mind. And it is defiled by incoming defilements.”
“Luminous, monks, is the mind. And it is freed from incoming defilements.”
 
Meanwhile, the AN 4.7 Sutta records the Buddha's teaching that any monk, nun, male lay follower, or female lay follower can shine. The AN 4.7 Sutta states the following, according to Bhikkhu Bodhi's translation.
   
“Bhikkhus, these four kinds of persons who are competent, disciplined, self-confident, learned, experts on the Dhamma, practicing in accordance with the Dhamma, adorn the Saṅgha. What four?
(1) “A bhikkhu who is competent, disciplined, self-confident, learned, an expert on the Dhamma, practicing in accordance with the Dhamma, adorns the Saṅgha. (2) A bhikkhunī who is competent … (3) A male lay follower who is competent … (4) A female lay follower who is competent, disciplined, self-confident, learned, an expert on the Dhamma, practicing in accordance with the Dhamma, adorns the Saṅgha."
 
Meanwhile, in the MN 32 Sutta, Venerable Sāriputta asks, "What kind of monastic can illuminate the Gosinga forest?" The following answers are according to the translation by I.B. Horner.
 
Venerable Ananda replied: “In this case, reverend Sāriputta, a monk comes to be one who has heard much, who masters what he has heard, who stores what he has heard; those teachings which are lovely at the beginning, lovely in the middle, lovely at the end, which with the spirit and the letter declare the Brahma-faring which is completely fulfilled, utterly pure-such teachings come to be much heard by him, borne in mind, repeated out loud, pondered over in the mind, well comprehended by view; he teaches Dhamma to the four assemblies with correct and fluent lines and sentences for the rooting out of (latent) propensities. By a monk of such a type, reverend Sāriputta, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
 
Venerable Revata replied: “In this connection, reverend Sāriputta, a monk delights in solitary meditation, he is delighted by solitary meditation, he is intent on mental tranquillity within, his meditation is uninterrupted, he is endowed with vision, a cultivator of empty places. By a monk of such a type, reverend Sāriputta, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
 
Venerable Anuruddha replied: “In this connection, reverend Sāriputta, a monk surveys the thousand worlds with purified deva-vision surpassing that of men. Reverend Sāriputta, as a man with vision might survey a thousand concentric circles from the top of a long house, so, reverend Sāriputta, does a monk survey the thousand worlds with purified deva-vision, surpassing that of men. By a monk of such a type, reverend Sāriputta, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
   
Venerable Kassapa replied: “In this connection, reverend Sāriputta, a monk is both a forest-dweller himself and one who praises forest-dwelling; he is an almsman himself and one who praises being an almsman; he is a rag-robe wearer himself and one who praises the wearing of rag-robes; he wears three robes himself and is one who praises the wearing of three robes; he is of few wishes himself and is one who praises being of few wishes; he is contented himself and is one who praises contentment; he is aloof himself and is one who praises aloofness; he is ungregarious himself and is one who praises ungregariousness; he is of stirred up energy himself and is one who praises stirring up energy; he is possessed of moral habit himself and is one who praises success in moral habit; he is possessed of concentration himself and is one who praises success in concentration; he is possessed of intuitive wisdom himself and is one who praises success in intuitive wisdom; he is possessed of freedom himself and is one who praises success in freedom; he is possessed of the knowledge and vision of freedom himself and is one who praises success in the knowledge and vision of freedom. By a monk of such a type, reverend Sāriputta, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
 
Venerable Moggallāna replied: “In this connection, reverend Sāriputta, two monks are talking on Further Dhamma; they ask one another questions; in answering one another's questions they respond and do not fail, and their talk on Dhamma goes forward. By a monk of such a type, reverend Sāriputta, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
   
Venerable Sāriputta replied: "Reverend Moggallāna, as a king or a king's chief minister might have a chest for clothes filled with differently dyed cloths, so that no matter which pair of cloths he wished to put on in the morning, he could put on that self-same pair of cloths in the morning; no matter which pair of cloths he wished to put on at midday, he could put on that self-same pair of cloths at midday; no matter which pair of cloths he wished to put on in the evening, he could put on that self-same pair of cloths in the evening-even so, reverend Moggallāna, a monk rules over mind, is not under mind's rule; whatever attainment of abiding he wishes to abide in in the morning, in that attainment of abiding he abides in the morning; whatever attainment of abiding he wishes to abide in at midday, in that attainment of abiding he abides at midday; whatever attainment of abiding he wishes to abide in in the evening, in that attainment of abiding he abides in the evening. By a monk of such a type, reverend Moggallāna, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
   
Then the monks approached the Buddha and received the following response: “It was well spoken by you all in turn, Sāriputta. But now hear from me by what type of monk the Gosiṅga sāl-wood would be illumined. In this connection, Sāriputta, a monk, returning from alms-gathering after the meal, sits down cross-legged, the back erect, having raised up mindfulness in front of him, and thinking: ‘I will not quit this cross-legged (position) until my mind is freed from the cankers without any residuum (for rebirth) remaining.’ By such a type of monk, Sāriputta, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
   
All the aforementioned Suttas demonstrate that any Buddhist, whether a monastic or a layperson, can illuminate a forest by adhering to the precepts and practicing diligently. We can interpret this image of the forest as both a natural forest and a mental forest.
 
THAM KHẢO / REFERENCE:
 
- SN 1.26 Sutta:
HT Minh Châu: https://suttacentral.net/sn1.26/vi/minh_chau
Bhikkhu Bodhi: https://suttacentral.net/sn1.26/en/bodhi
 
- AN 1.41-50 Sutta:
HT Minh Châu: https://suttacentral.net/an1.41-50/vi/minh_chau
Thanissaro Bhikkhu: https://suttacentral.net/an1.41-50/en/thanissaro
 
- AN 4.7 Sutta:
HT Minh Châu: https://suttacentral.net/an4.7/vi/minh_chau
Bhikkhu Bodhi: https://suttacentral.net/an4.7/en/bodhi
 
- MN 32 Sutta:
HT Minh Châu: https://suttacentral.net/mn32/vi/minh_chau
I.B. Horner: https://suttacentral.net/mn32/en/horner

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chương trình ca nhạc Tình Ca Sau 1975 được thực hiện để góp phần khôi phục lại những hoạt động của sân khấu ca nhạc hải ngoại. Còn người nghe, còn người hát tình ca Việt Nam, thì tiếng Việt còn, và văn hóa Việt Nam ở hải ngoại còn.
OTTAWA – Chính phủ Canada đã nhanh chóng thúc đẩy các giới hạn mới trong việc tiếp cận vũ khí, và điều này như đổ thêm dầu vào cuộc tranh luận nảy lửa trong vấn đề cải cách luật về súng đạn ở Hoa Kỳ, châm ngòi cho nỗ lực mới nhất của Quốc Hội nhằm kiềm chế “cơn dịch” bạo lực súng đạn ở Hoa Kỳ, đồng thời cũng đặt ra những câu hỏi tại sao các nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ lại kém hiệu quả trong việc đó, theo TheHill đưa tin ngày Thứ Năm, 31 tháng 5 năm 2022.
Cuộc triển lãm có phần tham dự của hơn 30 họa sĩ và điêu khắc gia Pháp và châu Âu, cùng các nghệ sỹ địa phương tham dự. Các nghệ sĩ đặc biệt được mời tham dự trong kỳ triển lãm này là các họa sỹ Pascal Gauthier và Isabelle Primault chuyên về tranh phấn tiên (pastel) cùng một số họa sỹ, điêu khắc gia thuộc khối "Arts Formes Couleurs" tham dự, với các họa sỹ điêu khắc gia Di Meo, Bachelet, Meskar, Pecot và Phạm Xuân Tích, một họa sỹ thuộc phái ấn tượng, đã từng đoat giải hội họa Prix de Peinture de la Ville du Bourget của Pháp vào năm 2016...
HOA KỲ – Trước cuộc gặp với Chủ tịch Quỹ Dự Trữ Liên Bang (FED) Jerome Powell, Tổng thống Biden đã đưa ra một kế hoạch để giải quyết vấn đề lạm phát đang ở mức cao kỷ lục trong gần 40 năm qua. Kế hoạch được đăng trên trang Wall Street Journal. Biden nói rằng giảm lạm phát là ưu tiên kinh tế hàng đầu của ông. Mục tiêu của cả Biden và FED là “hạ cánh mềm” – nghĩa là giảm giá đối với người tiêu dùng Hoa Kỳ mà không làm giảm tăng trưởng kinh tế nói chung. Kế hoạch cũng nói về việc giảm nhu cầu bằng cách tiếp tục giảm thâm hụt liên bang, dự kiến ​​sẽ giảm 1.7 nghìn tỷ đô la trong năm nay. Trang TheHill đã rút ra 5 điều từ kế hoạch của tổng thống:
HOA KỲ – Vài ngày sau vụ việc thương tâm tại trường tiểu học Robb ở Texas khiến 21 người chết, ngày Lễ Tưởng Niệm vào cuối tuần lại xảy ra nhiều vụ xả súng hàng loạt hơn, với tổng cộng ít nhất 14 vụ, theo tin TheGuardian ngày Thứ Năm, 31 tháng 5 năm 2022.
KYIV – Ukraine cho biết Nga đã giành quyền kiểm soát phần lớn thành phố công nghiệp phía đông Sievierodonetsk, vùng đất bị đánh bom tan hoang vì được Moscow xem là mục tiêu chính của cuộc xâm lược, theo Reuters đưa tin ngày Thứ Năm, 31 tháng 5 năm 2022.
Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos năm nay, cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger đã đề ra một giải pháp cho cuộc chiến Ukraine. Theo Kissinger, một thất bại nhục nhã của Moscow sẽ nguy hiểm cho thế giới, trong khi Ukraine nhượng một phần lãnh thổ cho Nga sẽ là một khoản đầu tư khả thi về hòa bình về lâu dài cho châu Âu...
Hòa cùng niềm vui của tất cả người con Phật ở khắp nơi đón Mùa Phật đản, chùa Hương Sen quận Riverside, tiểu bang California, cũng tổ chức lễ Phật đản và cổ Phật khất thực vào Chủ Nhật ngày 29 tháng 05 năm 2022 với sự hiện diện của 30 Chư tôn đức tăng Ni và hơn 100 Phật tử đồng hương.
Thứ trưởng Bộ Tài chính Hoa Kỳ Wally Adeyemo cho biết hôm thứ Ba rằng Hoa Kỳ đang "tích cực xem xét" phải làm gì với thuế quan đối với hàng hóa Trung Quốc do chính quyền Trump áp đặt. Ông nói thêm rằng chính quyền hiện tại đang "đánh giá vai trò thuế quan nhằm tạo ra một sân chơi bình đẳng cho các công ty Mỹ."
BRYSSEL Tối thứ Hai ngày 30 tháng 5 năm 2022, các nhà lãnh đạo EU đã có thể đồng nhất về gói trừng phạt mới dành cho Nga, gói trừng phạt thứ sáu kể từ khi nước này tấn công Ukraine vào tháng Hai. Lần này nhằm vào nền kinh tế Nga vì nó đánh vào nguồn thu xuất khẩu từ dầu mỏ, theo tin từ báo DN, Thụy điển.
Giáo sư Nguyễn Văn Sâm đã tái bản truyện thơ “Kể Chuyện Tình Buồn” của cụ Hồ Biểu Chánh (1885-1958) trong những ngày cuối tháng 5/2022. Bản gốc tác phẩm là “U Tình Lục” được viết với tên khai sanh của tác giả là Hồ Văn Trung, ấn hành năm 1913. Bản giới thiệu và chú giải do Giáo sư Nguyễn Văn Sâm thực hiện lần đầu là năm 2013, khi tác phẩm tròn 100 năm tuổi, và bản chú giải được đặt tên là "Kể Chuyện Tình Buồn" cho phù hợp với độc giả của thế kỷ 21. Bản in lần thứ nhì là năm 2022 dày 208 trang, cùng với ba bài nhận định của ba nhà văn Ngự Thuyết, Nguyễn Văn Trang, Phan Tấn Hải.
Chủ trương gọi là “đoàn kết dân tộc” trong ngoài của đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn có câu “thần chú”, đó là: “Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam” (Nghị quyết 36, ngày 26/03/2004). Nhưng bên trong tuyên bố này là trăm mưu ngàn kế để cho đảng nắm giữ chiếc hầu bao tinh thần và vật chất của người Việt Nam ở nước ngoài...
Hôm nay là ngày Chiến Sĩ Trận Vong, Memorial Day, xin đốt nén nhang và dâng lên những tràng hoa tươi để tưởng nhớ các chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ Quốc...
Nói đến Nhật Bản, người ta thường liên tưởng đến món sushi, kỹ nữ Geisha với những chiếc kimono sặc sỡ, rượu sake, núi Phú Sĩ, hoa anh đào, và đi xa hơn nữa là môn võ Sumo, Trà đạo, các môn võ như Kiếm đạo, Nhu đạo, Hiệp khí đạo, Võ sĩ đạo, Ninja và ghê rợn nhất là mổ bụng tự tử...
Luật súng sẽ còn là vấn đề tranh cãi trong xã hội Hoa Kỳ và các chính khách ủng hộ súng sẽ còn tiếp tục tạo sự dễ dàng trong súng đạn một khi chiếc ghế của họ vẫn còn bảo đảm, bất chấp lời nói và việc làm hoàn toàn trái ngược...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.