Hôm nay,  

Tông Chỉ Nguyên Thanh: Soi Thấy Muôn Ngàn Thế Giới

17/04/202510:20:00(Xem: 5269)
blank
 

Tông Chỉ Nguyên Thanh: Soi Thấy Muôn Ngàn Thế Giới
 

Nguyên Giác

 

Bài này sẽ phân tích một số quan điểm trong sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, một tác phẩm về Thiền Tông Việt Nam xuất bản lần đầu vào năm 1796. Tác phẩm này được in trong Ngô Thì Nhậm Toàn Tập - Tập V, ấn hành năm 2006 tại Hà Nội, do nhiều tác giả trong Viện Nghiên Cứu Hán Nôm biên dịch.
 

Những lời dạy trong sách này mang phong cách Thiền Tông Việt Nam, vì ngài Ngô Thì Nhậm (1746-1803) sau khi rời quan trường đã xuất gia, trở thành vị sư có tên là Hải Lượng Thiền Sư, và được nhiều vị sư tôn vinh là vị Tổ Thứ Tư của Dòng Thiền Trúc Lâm.
 

 Phân tích nơi đây sẽ là lời của Hải Âu Thiền Sư, ghi nơi cuối trang 224 và đầu trang 225, chụp lại từ bản PDF của sách Ngô Thì Nhậm Toàn Tập - Tập V. Cũng cần ghi chú, rằng ngài Hải Lượng Thiền Sư là Ngô Thì Nhậm, xuất gia sau khi rời quan trường và được tôn làm Tổ Thứ 4 của Trúc Lâm Thiền Phái, vì ngài là người hồi phục dòng Thiền Trúc Lâm.  Trong khi đó, Hải Âu Thiền Sư là một vị sư chú giải trong các buổi thuyết pháp.
 

Nơi trang 15 sách này, ghi về ngài Hải Âu như sau: “Thanh chú: Chỉ việc chú giải rõ nghĩa thêm cho từng thanh, gồm hai vị, vị Thanh chú thứ nhất là Hải Âu hoà thượng, tức Vũ Trinh, nguyên là Tham tri chính sự, tước Lan Trì hầu, người xã Xuân Lan, huyện Lang Tài (nay Bắc Ninh).”
 

Chúng ta đánh máy lại cuối trang 224, đầu trang 225 như sau, trích:

Hòa thượng Hải Âu nói: - Trời không sinh sản mà vạn vật đơm hoa, đất không lớn lên mà vạn vật phát dục. Cho nên nói rằng: "Không gì thần diệu như trời, không gì giầu có như đất" mà trời đất thì không nơi nào là không có. Vì vậy Phật có thể coi vô số chúng sinh là nhà, thân tâm bất động, soi thấy muôn ngàn thế giới. Thánh nhân có thể coi ức ngàn muôn đời là nhà, lặng lẽ bất động, cảm hóá mà thông suốt được đạo lớn. Đạo lớn là tâm, mà tâm là trời đất, trời đất thì rộng lớn không có gì ở ngoài nó được. Trong khoảng vũ trụ, hết thảy sự vật, không kể gần xa, tâm đều đến được.

Cho nên, Phật gọi là Phật gia, Nho gọi là Nho gia, nói gộp lại gọi là Pháp (tinh thần), vì vậy nói "Pháp gia" thì nghĩa của chữ "gia" bao hàm rất rộng: Thế giới thượng hạ, không chỗ nào không phải là "gia." Dù có muốn "xuất gia" chăng nữa, nhưng "xuất gia" thì ở vào đâu? Cho nên nói: "Bồ tát không xuất gia, Nho không xuất gia." (hết trích)

blank

 

Điểm nổi bật của lời của ngài Hải Âu là quan điểm Phật-Nho một nhà. Đứng về hoàn cảnh xã hội, chúng ta dễ dàng hiểu được. Ngay như bản thân của ngài Hải Lượng Thiền Sư (Ngô Thì Nhậm) và ngài Hải Âu Thiền Sư (Vũ Trinh), gần trọn đời học Nho, lặn lội trong chốn quan trường, trải qua những cuộc chiến cuối thời nhà Lê với cuộc khởi nghĩa của Tây Sơn, cuối đời mới vào chùa xuất gia. Do vậy, quý ngài không thấy có bao nhiêu sự cách biệt. Nho giáo cũng được nhìn như thế giới hữu vi thời phong kiến, trong khi Phật giáo là con đường vô vi của pháp giải thoát.
 

Thêm nữa, muốn thuyết phục các Nho gia để hồi phục dòng Thiền Trúc Lâm, cũng phải biết thuyết phục các Nho gia bạn hữu, các nhà Nho trong quan trường và cả các ông đồ Nho trong các làng xã. Thời đó, đi thi hiển nhiên phải là thi bằng kiến thức Nho gia. Không hề có chuyện đi thi làm quan cho vua mà được hỏi bài về Bát nhã Tâm kinh hay Kim Cang Kinh.
 

Do vậy, Hải Âu Thiền Sư nói, “Phật gọi là Phật gia, Nho gọi là Nho gia, nói gộp lại gọi là Pháp.” Hiển nhiên, độc giả thời nay có thể sẽ không đồng ý. Tuy nhiên, nếu bạn lùi về nhiều thế kỷ trước, bạn sẽ thấy trí thức toàn là nhà Nho. Thậm chí, có lúc Phật giáo bị Nho gia kỳ thị.
 

Nhà sử học Nguyễn Lang (cũng là Thầy Thích Nhất Hạnh) trong sách "Việt Nam Phật giáo sử luận" nơi Chương 18: Đạo Phật trong đời Nho học độc tôn, ghi nhận, trích:

"Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép rằng năm 1429, tất cả các tăng sĩ Phật giáo và đạo sĩ Lão giáo đều phải đến trình diện ngày 20 tháng 10 để kiểm xét khảo thí. Ai thi đậu thì cho làm tăng sĩ và đạo sĩ, còn ai thi hỏng thì bắt hoàn tục. Đây là hành động đầu tiên của chính quyền Nho giáo để kiểm soát Phật giáo và Lão giáo. Hành động này đã có thể loại ra một số người lợi dụng hai đạo Phật, Lão. Nhưng sự thi cử này đã được tổ chức theo lối khảo hạch từ chương của Nho giáo, những người hay chữ thì được công nhận là tu hành chân chính, còn những người khác, dù mộ đạo và tâm thành đến mấy mà không diễn tả được đức tin và kiến thức của mình bằng văn chương thì cho là không phải tu hành chân chính. Điều này, khi áp dụng với đạo Phật, nhất là Phật giáo thiền, là một sự ép uổng." (ngưng trích)
 

Cũng trong sách trên, ghi rằng ngài Lương Thế Vinh (1441-1496) là "nhà trí thức cự phách nhất của thời đại Lê Thánh Tông chỉ vì sáng tác sách Phật mà sau khi chết không được thờ cúng trong văn miếu."
 

Do vậy, người tu theo Phật phải cần tôn kính các bậc trí thức Nho gia. Tới đây, chúng ta có thể nhắc rằng, trong thời của Đức Phật, các kinh và các truyện bản sanh ghi rằng các vị Bà La Môn (mà chúng ta quen gọi là ngoại đạo Bà La Môn) tuy không thể giải thoát nhưng những người đạo đức vẫn có thể sinh lên cõi trời. Trong Kinh MN 56, Đức Phật dạy cho gia chủ Upali sau khi gia chủ này quy y Tam Bảo rằng nếu các người trong giáo phái Nigaṇṭha (mà trước đó, gia chủ Upali quy y trong giáo phái này) tới thăm nhà thì hãy cứ tiếp tục cúng dường. Lời Đức Phật dạy trong Kinh MN 56 cho chúng ta hiểu được về mặt thế tục, Phật gia và Nho gia vẫn có thể hòa hài nhau.
 

Kinh MN 56 ghi đoạn đối thoại của Đức Phật và gia chủ Upali, trích:

“—Này Gia chủ, đã từ lâu gia đình Ông như là giếng nước mưa nguồn cho các người Nigaṇṭha. Hãy cúng dường các món ăn cho những ai đến với Ông!

—Bạch Thế Tôn, con lại bội phần hoan hỷ, bội phần thỏa mãn với những lời Thế Tôn nói với con: “Này Gia chủ, đã từ lâu gia đình của Ông như là giếng nước mưa nguồn cho các người Nigaṇṭha. Hãy cúng dường các món ăn cho những ai đến với các Ông”. Bạch Thế Tôn, con nghe như sau: “Sa-môn Gotama đã nói: “Chỉ bố thí cho Ta, chớ bố thí cho các người khác. Chỉ bố thí cho các đệ tử Ta, chớ bố thí cho đệ tử những người khác. Chỉ bố thí cho Ta mới có phước lớn, bố thí những người khác không được phước lớn. Chỉ bố thí cho những đệ tử của Ta mới có phước lớn, bố thí cho những đệ tử của những người khác không có phước lớn”. Nhưng Thế Tôn lại khuyến khích con bố thí cho các vị Nigaṇṭha. Bạch Thế Tôn, và chúng con ở đây sẽ biết thời nên làm. Bạch Thế Tôn, lần thứ ba, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.” (hết trích)
 

Tới đây, chúng ta trở lại lời của Hải Âu Thiền Sư trong Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh. Tại sao nói rằng “Trời không sinh sản mà vạn vật đơm hoa”?

Trong thế giới hữu vi, các pháp liên tục có sinh, có diệt. Do vậy, đó là hiển lộ pháp ấn vô thường. Đời người có sinh, có tử. Cũng như những đợt sóng trên dòng sông: các đợt sóng, các bọt sóng liên tục sinh rồi diệt. Các niệm sinh khởi rồi biến diệt trong tâm mình vẫn như thế. Nhưng nếu chúng ta nhìn từ nước, thì tánh của nước vẫn là ướt, không dị biệt gì trong các đợt sóng hay bọt sóng, và trong tánh nước thì không hể sanh, không hề diệt.
 

Tương tự, cũng như ảnh hiện trong gương sáng. Các ảnh liên tục sinh ra rồi biến mất trong gương. Những ảnh này có thể gọi là những cái được thấy. Tuy ảnh tới rồi đi, hiện ra rồi biến mất, nhưng tánh sáng của gương vẫn bất động, không gọi được là sinh hay diệt, và đơn giản thì gọi là pháp vô sinh, vô diệt. Nhìn từ ảnh, sẽ thấy thế giới hữu vi liên tục sinh diệt. Khi nhìn từ gương, sẽ thấy Niết bàn vô vi vốn là bất sinh, bất diệt. Đây cũng là ý nghĩa của câu trong Tâm Kinh: “Sắc chính là Không, và Không chính là Sác.” Có nghĩa là, Sắc, tức là tất cả những cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được cảm thọ, được tư lường cũng chính là Không, là rỗng rang, là hư ảo. Và ngược lại, Không cũng chính là Sắc. Nói cách khác, các pháp do duyên sinh, nên các pháp vô ngã, và vì các pháp vô ngã, nên nói rằng không hề có pháp nào sinh ra, và thực tướng chính là bất sinh, bất diệt.
 

Ngài Hải Ấn Thiền Sư nói thêm rằng: “Phật có thể coi vô số chúng sinh là nhà, thân tâm bất động, soi thấy muôn ngàn thế giới.”
 

Phật tức là Cái Biết, là Tánh Giác. Chính nơi đây, Phật coi vô số chúng sinh là nhà, nơi đây gương sáng cũng thấy rằng vô lượng ảnh hiện cũng chính là nhà của Như Lai. Tuy rằng Đức Phật hiện ra nơi vô số chúng sinh, nơi vô số cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được cảm thọ, được tư lường nhưng cái gương sáng này, cái bản tâm này, cái thân tâm Phật đó vẫn là bất động. Và “soi thấy muôn ngàn thế giới.”
 

 Sao lại soi thấy muôn ngàn thế giới? Chỗ này chúng ta có thể nhớ tới Đức Phật dạy trong Kinh SN 35.23 Sutta rằng thế giới này thực ra cũng chính là hiển lộ của ngũ uẩn chúng ta. Chúng sinh đây cũng là tất cả thế gian, là phiền não, thực sự cũng là nhà của Như Lai, của Thế Tôn.

Kinh SN 35.23 Sutta ghi lời Đức Phật dạy, bản dịch của Thầy Minh Châu: “Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về tất cả. Hãy lắng nghe. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tất cả? Mắt và các sắc; tai và các tiếng; mũi và các hương; lưỡi và các vị; thân và các xúc; ý và các pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, gọi là tất cả. Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Sau khi từ bỏ tất cả này, ta sẽ tuyên bố (một) tất cả khác”, thời lời nói người ấy chỉ là khoa ngôn. Và bị hỏi, người ấy không thể chứng minh gì. Và hơn nữa, người ấy có thể rơi vào ách nạn. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, như vậy ra ngoài giới vức (avisaya) của người ấy!” (hết trích)

Trong Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, ngài Hải Ấn Thiền Sư nơi trên đã nói về pháp giải thoát rằng: “Thánh nhân có thể coi ức ngàn muôn đời là nhà, lặng lẽ bất động, cảm hóa mà thông suốt được đạo lớn. Đạo lớn là tâm, mà tâm là trời đất, trời đất thì rộng lớn không có gì ở ngoài nó được.”
 

Thánh nhân, có nghĩa là người đã giải thoát. Người đó thấy vô lượng thời gian và không gian đều là nhà (tức là, biến hiện của tâm gương sáng), vốn trong thực tướng luôn luôn lặng lẽ bất động, lúc đó sẽ thấy tâm là trời đất. Ý chỉ này không phải là chuyện lý thuyết, mà là pháp thực hành của Thiền Tông, như đã nêu, trích dẫn từ bài Bát Nhã Tâm Kinh nơi trên. Nghĩa là, pháp giải thoát là thường trực thấy trực tiếp (không qua chữ nghĩa, không qua lý luận) gương sáng của tâm: tất cả những cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được cảm thọ, được tư lường đều là hiện tướng của tâm gương sáng của mình. Không cần làm gì khác.
 

Đức Phật cũng dạy như thế trong Kinh Iti 7 Sutta. Nơi đây, pháp giải thoát là chỉ cần thấy trực tiếp và hiểu trực tiếp, mà không dính mắc tâm và rồi buông tất cả các ảnh hiện đó (vì hiểu thực sự tất cả ảnh hiện đều là Không, là hư ảo). Chúng ta dịch Kinh Iti 7 Sutta như sau:  

Này các Tỷ-kheo, nếu không trực tiếp biết và hiểu trọn vẹn cái tất cả, nếu không ly tham và từ bỏ nó, các ông không thể chấm dứt khổ đau. Bằng cách trực tiếp biết và hiểu trọn vẹn cái tất cả, ly tham và từ bỏ nó, các ông có thể chấm dứt khổ đau.”
 

Chỗ này, ngài Tuệ Trung Thượng Sỹ cũng từng nói rằng, người tu phải thấy tâm mình như con trâu bùn, trâu đất, khi trâu bước xuống sông thì bước tới đâu cũng sẽ thấy tan rã ra tới đó, là sẽ giải thoát, mà không cần làm gì khác hết. Nghĩa là, Thiền Tông chỉ có nghĩa là biết trực tiếp (không qua chữ, không qua lý luận) các hiện tướng của tâm, và hiểu trọn vẹn (tức là thấy nó là hư ảo, là Không, là sẽ tan rã như bùn gặp nước). Khi ảnh bất dị với tâm gương sáng, khi trâu bùn bất dị với nước sông, thì đó là khi thấy tâm là trời đất và soi thấy muôn ngàn thế giới.  
 

THAM KHẢO:

- Nguyễn Lang. Việt Nam Phật giáo sử luận: Chương 18: Đạo Phật trong đời Nho học độc tôn:

https://langmai.org/tang-kinh-cac/vien-sach/giang-kinh/viet-nam-phat-giao-su-luan/chuong-18-dao-phat-trong-doi-nho-hoc-doc-ton/

- Kinh MN 56 Sutta:

https://suttacentral.net/mn56/vi/minh_chau

- Kinh SN 35.23 Sutta (The All Sutta):

https://suttacentral.net/sn35.23/vi/minh_chau

- Kinh Itv 7 Sutta:

https://suttacentral.net/iti7/en/sujato

 

.

 

.



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Kính dâng Thầy Nhất Hạnh Học trò rất gần và rất xa: Vĩnh Hảo – Tâm Quang – Nói thật nhiều rồi lặng im / Làm thật nhiều rồi ngồi yên / Nói hay im: ý vô tận / Làm, không làm: tâm như nhiên
Việt Nam trở thành trạm trung chuyển của băng đảng Trung Quốc, theo lời một người TQ 31 tuổi có họ là Li khi bị bắt cóc chuyển từ TQ vượt biên giới vào VN, rồi tới Sài Gòn trước khi đưa nhập lậu sang Cam Bốt để làm "nô lệ máu" -- rút máu nạn nhân để bán.
Tại sao nói về thơ của thi sĩ Nguyễn Lương Vỵ (NLV) lại trước hết đề cập đến hai chữ “quê hương”? Vì tập thơ“Tám Câu Lục Huyền Âm” của ông, tôi chú ý thấy có nhiều hơi hướm hương quê và quê hương, qua chữ nghĩa cô đọng, rất Việt Nam, rất thơ, rất văn chương của nhà thơ. Điều đáng lưu ý là việc nỗ lực sử dụng chữ thuần Việt
COVID đã bắt đầu từ hai năm qua, đã sát hại gần 6 triệu người và vẫn tiếp tục hoành hành thế giới với các loại biến thể. Xuất phát từ một vi khuẩn nhân tạo của phòng thí nghiệm Vũ Hán hay từ một loài dơi ở miền Bắc nước Tàu mà các cuộc điều tra vẫn chưa xác định, nay lại xuất hiện vào những ngày đầu năm một loại virus mới do con người tạo ra, nguy hiểm và hậu quả tàn khốc không kém COVID-19, đang lây nhiểm khắp thế giới . Đó là sự cuồng nộ của con người biểu hiện qua các cuộc biểu tình với các đoàn xe vận tải hạng nặng hộ tống bởi các đoàn xe đủ loại đi chiếm đóng thành phố và các trục giao thông huyết mạch.
Tóm lược: ✱ The White House: Tăng cường mối quan hệ với các đối tác hàng đầu trong khu vực, bao gồm Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Mông Cổ, New Zealand, Singapore, Đài Loan, Việt Nam và các đảo Thái Bình Dương ✱ Dept. of The Air Force: Việt Nam luôn phải đương đầu vào các tranh chấp với Trung Quốc về Biển Đông trong nhiều thập kỷ và gần đây đã trở thành một đối tác toàn diện với Hoa Kỳ ✱ DoAF: Việt Nam mong muốn Hoa Kỳ đầu tư nhiều hơn vào Đông Nam Á, tăng cường hỗ trợ ĐCSVN để giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc ✱ DoAF: Việt Nam mong muốn Hoa Kỳ giúp đỡ trong việc đối phó với Campuchia, quốc gia liên minh với Trung Quốc và gây lo ngại bị bao vây ✱ DoAF: Việt Nam giao tiếp với Hoa Kỳ để có quan hệ đối tác chiến lược, từ chương trình T-6 sẽ tiến đến việc mua máy bay chiến đấu F-15E hoặc F-16 tiên tiến nhất.
Tác giả Trúc Giang MN nhìn lại ba cuộc thanh trừng đẫm máu của ba Đảng Cộng sản trên thế giới: Liên Xô, Trung Hoa và Việt Nam. Việt Báo trân trọng mời đọc.
Tô Vĩnh Diện là biểu tượng của anh dũng. Vì đã lấy thân mình ngáng cho khẩu đại bác nặng hai ngàn tấn không rơi xuống vực. Tuy nhiên sau giả tưởng Lê Văn Tám, dân Việt có quyền nghi hoặc: Có thật không hay chỉ là một tai nạn, một vấp ngã hay chính em bé Lê Văn Tám đã lớn lên rồi được cấp chứng minh thư tên là Tô Vĩnh Diện sinh năm 1928 ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa? Làm sao Triều đình Huế biết đặt những tên xã, huyện đậm chất Cách mạng như vậy vào năm 1928?
Tôi đến với cõi Thi Ca và Tư Tưởng của Nguyễn Lương Vỵ (NLV) bằng con đường rất tự nhiên của một độc giả yêu thơ, thường theo dõi thơ trên các tạp chí và nhất là các trang mạng văn học nghệ thuật. Còn nhớ lúc đó vào cuối năm 2012, khi tôi đang ngồi lướt mạng, tình cờ đọc được bài thơ “Hòa Âm Âm Âm Âm... ” của NLV trên một trang văn học, tôi đã rất sững sờ và rung động vì ý tứ của bài thơ rất lạ và cũng rất thâm sâu:
331 năm trước Công nguyên, ngay sau chiến thắng Gaugamèles khi tiến vào thành Babylone, đại đế Alexandre nói trước hàng quân: “Chiến thắng này cho vinh quang và tự do”. Võ Nguyên Giáp khó tuyên ngôn như vậy trước lịch sử, vì Điện Biên Phủ không đem đến tự do cho dân Việt mà ngược lại, áp đặt một chế độ tàn khốc. Tự do nào sau đấu tố phi nhân, sau Cải cách ruộng đất, nông dân chỉ có thể cày thuê cho hợp tác xã? Và tự do nào khi dân Bắc di cư rồi dân Nam chạy theo lính Cộng hòa mỗi một khi “giải phóng” vùng “tạm chiếm”? Võ Nguyên Giáp hẳn nhiên muốn giữ lại vế đầu của Alexandre đại đế: “Điện Biên Phủ là một chiến thắng vinh quang.” Tất nhiên và không ai chối cãi, vì lần đầu tiên da vàng chiến thắng da trắng và lần đầu tiên một thuộc địa thắng đế quốc. Nhưng phía sau tấm huân chương là vinh quang cay nghiệt: Đẩy cả một dân tộc vào chiến tranh, mục đích của Hồ Chí Minh là giành độc lập, thống nhất 3 kỳ, nhưng Hiệp định Genève chỉ cho Hồ Chí Minh Bắc kỳ, Nghệ Tĩnh và Quảng Bình,
Tôi có thể giữ được chủ quan về Mưa Thuận Thành hay không, sau tất cả những huyền thoại đã nghe về Hoàng Cầm? Ông là tác giả của Về Kinh Bắc, tập thơ cho đến bây giờ vẫn tiếp tục mang vầng hào quang riêng của những tác phẩm nằm lâu trong ngăn kéo mà chỉ cái tên của nó đã hứa hẹn, và hơn cả hứa hẹn: đã thiết lập hẳn một không gian tinh thần đặc trưng, là điều mà đa số các tập thơ hiện nay không làm nổi. Nhiều người sành điệu rỉ tai nhau, rằng ông là một trong số hiếm hoi những thi sĩ thực thụ còn tồn tại. Tên ông, ngay sinh thời, dường như đã được nối vào danh sách không dài lắm của những tên tuổi được mụ thời gian tính khí rất thất thường đồng ý lưu lại. Nhưng tác phẩm của Hoàng Cầm lại đến với công chúng muộn mằn, và phải chở trên lưng một quá khứ nguy hiểm.
(Robert Mullins International) Tuần này, Sở di Trú Hoa Kỳ đã công bố lời Tuyên bố sứ mệnh mới. Lời tuyên bố mới bổ túc các từ ‘tôn trọng’ và ‘hoan nghênh’. Đây là những từ đã thiếu của chính quyền Nhà Trắng trước đây, khi chính phủ kiên quyết chống đối người di dân. Lời tuyên bố mới nhấn mạnh rằng, Hoa Kỳ "là một quốc gia của sự hoan nghênh và có khả thi" đối với những người di dân, và nói rõ Hoa Kỳ là "một quốc gia của những người di dân." Chính quyền trước luôn cố gắng hạ bớt những đóng góp quý giá mà những người di dân đã đóng góp cho Hoa Kỳ. Nhưng thực tế là Hoa Kỳ đã, đang và sẽ tiếp tục là một Quốc gia của những người di dân.
Chúng ta dường như đang bước vào thời điểm bớt căng thẳng hơn trong đại dịch. Số ca nhiễm coronavirus trung bình hàng ngày ở Hoa Kỳ đã giảm hơn 60 phần trăm trong hai tuần qua. Và với nhiều phương pháp chống dịch hữu hiệu hơn, chúng ta có thể thấy những kết quả tốt hơn nữa khi bước vào mùa xuân. Tiêm chủng ngừa vẫn là một cách chống dịch hiệu quả nhất và ngày càng chứng tỏ mức độ an toàn và hiệu nghiệm.
PETROPOLIS – Các quan chức địa phương cho biết, số người chết do lũ lụt và lở đất tràn xuống thành phố núi Petropolis ít nhất là 117 người, và vẫn còn 116 người hiện đang mất tích, theo APnews đưa tin ngày Thứ Năm, 17 tháng 2 năm 2022.
WENTZVILLE – Hai học sinh kiện một khu học chánh ngoại ô St. Louis vì đã loại bỏ một số sách ra khỏi các thư viện trường, theo tin Times ngày Thứ Năm, 17 tháng 2 năm 2022.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.