Hôm nay,  

Đọc Ngô Thì Nhậm: Tiếng Ấn Giấu (Tàng Thanh)

14/06/202511:57:00(Xem: 1722)
blank

Đọc Ngô Thì Nhậm: Tiếng Ấn Giấu (Tàng Thanh)
 

Nguyên Giác

 

Bài viết này sẽ phân tích lời dạy của sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh về ý chỉ Thiền Tông: Đạo giấu kín ở chỗ có nói gì đâu, Đạo thánh nhân giấu kín trong chữ Vô vi, không thấy dấu vết nhưng người người đều chịu ơn. Trong sách này, ý chỉ đó được gọi là Tiếng Ấn Giấu – viết theo âm Hán-Việt là Tàng Thanh. 
 

Sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh là một tác phẩm về Thiền Tông Việt Nam xuất bản lần đầu vào năm 1796. Tác phẩm này được in trong Ngô Thì Nhậm Toàn Tập - Tập V, ấn hành năm 2006 tại Hà Nội, do nhiều tác giả trong Viện Nghiên Cứu Hán Nôm biên dịch.
 

Những lời dạy trong sách này mang phong cách Thiền Tông Việt Nam, vì ngài Ngô Thì Nhậm (1746-1803) khi rời quan trường đã xuất gia, trở thành vị sư có tên là Hải Lượng Thiền Sư, và được nhiều vị sư tôn vinh là vị Tổ Thứ Tư của Dòng Thiền Trúc Lâm. Tất cả các vị sư khác trong sách đều nói trong tông phong này.  Nơi đây, chúng ta trích vài dòng cuối trang 361 và đầu trang 362, nguyên văn như sau:

  

TIẾNG ẤN GIẤU (TÀNG THANH)

(Thanh dẫn Ngô Thì Hoàng]

Đạo của trời đất giấu kín ở chỗ “có nói gì đâu.” Đạo của Thánh nhân giấu kín trong chữ “Vô vi.” Cho nên chim bay cá lội, động vật, thực vật, mọi vật đều được yên chỗ, nhưng công lao của thần, dường như không có. Khi ăn khi uống, lúc làm lúc nghỉ, mọi người đều được sống thoả, nhưng sức lực của trời sao không có? Ôi! Như thể gọi là ẩn giấu, ẩn giấu nghĩa là không nhìn thấy dấu vết, không biết có việc ấy vậy.

Đại thiền sư gợi mở ra một cách sáng rõ về ý nghĩa của việc dụng âm: Ảm có nghĩa là giấu kin, đến chỗ quy tụ lại, thì nói: “Quý ở chỗ có âm đức,” “Quý ở chỗ khiến người ta kín đáo chịu ơn.” Như vậy, giấu kín cái dụng của nó nhưng ân trạch thì kịp đến với người, đến với đạo lớn vậy. Sáu mươi tư quẻ của Kinh Dịch trong đó có quẻ “Súc,” hai mươi bốn thanh của kinh Viên giác trong đó có "Tàng thanh," lời dẫu khác nhưng lẽ thì vẫn là một.” (ngưng trích)
 
blank

Có nói gì đâu. Chúng ta có thể nhớ rằng, hầu hết các thiền sư trong Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh đều xuất thân từ Nho học, ra làm quan trong thời ly loạn, tham gia những trận chiến lớn của lịch sử trước khi quý ngài xuất gia. Bản thân ngài Ngô Thì Nhậm hay Ngô Thời Nhiệm, trước khi trở thành Hải Lượng Thiền Sư đã là một danh sĩ nổi tiếng, trong thời Hậu Lê và Tây Sơn, có công lớn trong việc giúp triều Tây Sơn đánh lui quân Thanh. Do vậy, khi quý ngài muốn hoằng pháp, thường gợi lên ý tứ của Nho giáo trước. Nghĩa là, quý ngài thường nêu lên các ý tứ của Nho giáo mà quý ngài từng học khi còn niên thiếu. Phần nữa, cũng là chiêu dụ sự chú ý của các bạn Nho gia.
 

Về ý không nói, Khổng Tử trong sách Luận Ngữ có câu: Thiên hà ngôn tai? Tứ thời hành yên, bách vật sinh yên, thiên hà ngôn tai.

Dịch nghĩa: Trời có nói gì đâu? Bốn mùa luân chuyển, muôn vật sinh trưởng.Trời có nói gì đâu!
 

Chữ "Thiên" trong văn mạch của Khổng Tử không hề có nghĩa là một ông Trời ngồi trên mây, có râu dài, tóc bạc. Thiên đây là quy luật vận hành của vũ trụ. Người học theo Nho Giáo là sống theo "Thiên mệnh, vô ngôn nhi giáo" (nghĩa là: thuận mệnh trời, không lời mà dạy).
 

Đúng vậy, trời có nói gì đâu. Nếu chúng ta thay chữ Trời bằng chữ Pháp, thì một cách kinh ngạc, cả một thế giới mới hiển lộ ra trước mắt, bên tai, và khắp cõi này. Ngay ở đây và bây giờ, không phải là trên cõi trời xa mấy tầng mây, cũng không phải chuyện nhiều thế kỷ trước của các vị thánh hiền. Bởi vì, một câu Đức Phật nói thường được kinh sách nhắc tới: Ai thấy Pháp là thấy Ta. Nghĩa là: Ai thấy Pháp là thấy Phật.
 

Tuy nhiên, bạn thử nhìn chung quanh xem, không dễ thấy Pháp đâu: có thể bạn đang đứng ở Hồ Tây (Hà Nội), hay đang đi dạo ở Thảo Cầm Viên (Sài Gòn), hay đang ngồi ở thương xá Phước Lộc Thọ (Little Saigon)... Mây bay, nước chảy, người đi, xe chạy... Vậy thì, Pháp ở đâu? Pháp có nói gì đâu, vậy thì làm sao mà nghe?
 

Thế rồi, nhiều kinh lại ghi lời Đức Phật dạy, “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.”
 

Nghĩa là, Pháp hiển lộ, được chúng ta kinh nghiệm ngay bây giờ (không phải hôm qua, không phải ngày mai), không có thời gian (nghĩa là, vượt qua cả hiện tại, không bị khuôn vào sắc thọ tưởng hành thức của  hiện tại). Pháp này thiết thực (tức là, không hề mơ hồ, không hề vẽ vời, mà Pháp được nhận ra qua cái được thấy, cái được nghe, cái được ngửi, cái được nếm, cái được chạm xúc, cái được tư lường). Đến để mà thấy (nghĩa là, người trí tuệ trực nhận trước mắt). Có khả năng hướng thượng (xa lìa tham sân si, con đường tới giải thoát, không đi chệch hướng).
 

Làm sao để thấy được Pháp, tức là thấy Phật, vì chúng ta có nghe gì từ mây bay, nước chảy đâu? Bây giờ, chúng ta lấy thí dụ như mặt gương sáng. Khi chúng ta tu theo Bát Chánh Đạo, dần dần bụi trên mặt gương rơi rớt không nhiều thì ít, chúng ta nhìn vào gương hàng ngày và nhận ra có một hình tướng chuyển đổi, lớn lên, già đi, da thịt nhăn nheo. Chúng ta nhận ra toàn thân tâm chúng ta là vô thường (luôn luôn chuyển biến) và là vô ngã (không hề có một cái gì gọi là cố định). Như thế, có một cái xuyên suốt, không đổi: tánh phản chiếu của gương.
 

Trong khi tướng liên tục biến đổi, thì tánh không đổi. Tánh đây là tánh phản chiếu của mặt gương, và không rời cái được thấy (hình tướng). Nơi đây, chúng ta nói rằng tánh (cái nhận biết) và tướng (cái được nhận biết) không lìa nhau, không gọi là hai, nhưng không gọi là một. Nếu không có cái tánh đó, thì chúng ta chỉ là cục gạch, tảng đá. Nơi đây, Sắc chính là Không, và Không chính là Sắc. Chúng ta khi nhận ra Pháp, cũng nhận ra sự thật hiển lộ, dẫn chúng ta hướng thượng (xa lìa tham sân si). Pháp đó, bao trùm cả tướng và tánh, hoàn toàn không có lời nào nói với chúng ta, nhưng là đang vận hành khắp thế giới và khắp thân tâm ta. Đó là ý nghĩa vô ngôn thuyết pháp trong nhà Phật.
 

Cái không nghe được đó, chính là Tiếng Ẩn Giấu, tức là Tàng Thanh, theo cách trình bày của sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh. Các cụ dùng thêm một chữ mới: Đạo của Thánh nhân giấu kín trong chữ “Vô vi". Chữ này có nhiều nghĩa, nơi đây quý ngài giải thích là: "Khi ăn khi uống, lúc làm lúc nghỉ, mọi người đều được sống thoả, nhưng sức lực của trời sao không có?" Tức là, một cái gì ẩn giấu nhưng đang vận hành khắp thân tâm chúng ta.
 

Có một công án nổi tiếng do Thiền sư Bạch Ẩn Huệ Hạc (1686–1769) đưa ra: Tiếng vỗ của một bàn tay. Chúng ta nên suy nghĩ thế nào? Tiếng vỗ, là nói tới cái được nghe. Là yêu cầu lắng nghe. Khi hai bàn tay vỗ, mới có âm thanh. Khi chỉ một bàn tay, tất nhiên không có âm thanh. Nhưng dù có tiếng hay không tiếng, thì Pháp vẫn thường trực hiển lộ trong cõi này. Không gọi là nghe tiếng lặng thinh, nhưng sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh muốn mời gọi chúng ta nghe được Tiếng Ẩn Giấu, tức là Tàng Thanh, mà các cụ gọi là vô vi.
 

Nhưng vô vi là gì? Tiếng Ẩn Giấu, tức là Tàng Thanh. Vô vi còn có nghĩa là Niết Bàn, tức là xa lìa tham sân si. Cũng như mặt gương, vô lượng ảnh hiện ra, có đủ xanh đỏ tím vàng, có đủ đẹp và xấu, có đủ hiện tướng thiện và ác, nhưng mặt gương vẫn trong trẻo và tịch lặng, không dính bất kỳ sắc thọ tưởng hành thức nào.
 

Nếu chúng ta để ý, khi lắng nghe tiếng ẩn giấu, thì tự nhiên bạn sẽ thấy bạn không còn dính gì tới lời nói nữa. Lúc đó, bạn và cái nghe là một. Hoàn toàn không phải là có một ai đang nghe, mà bạn thấy rằng có một khối lung linh vô thường đang nghe dòng âm thanh chưa hiển lộ. Bạn để ý: lúc đó, trong tâm bạn dứt bặt ngôn ngữ, chỉ còn cái đang nghe hiển lộ. Lúc đó, bạn nhận ra rằng đó là thiết thực hiện tại (vì bạn không dựa vào ngón tay chỉ trăng nào, vì nghe mà không còn dựa vào bất kỳ ngôn ngữ hay lời nói, hay âm thanh nào nữa). Bạn sẽ thấy đây là con đường hướng thượng, tức xa lìa tham sân si, vì tất cả bên tai những gì được nghe đều hiện ra như thế là như thế, mà bạn không thể níu kéo âm thanh nào hay sự tịch lặng nào. Nó như thế, là nó như thế.
 

Lúc đó, bạn nhận ra vô vi, tức là trong cái mặt gương tâm đó, bản thân cái tánh phản chiếu đó, bản thân cái tánh nghe đó, không hề có cái sinh ra, không hề có cái biến mất. Cái âm thanh thì có hiện ra, có biến mất. Tiếng chim kêu vang lên, rồi biến mất. Nhưng cái tánh phản chiếu của gương, cái tánh nghe đó không hề sinh và không hề diệt, trong khi vô lượng âm thanh và vô lượng tịch lặng hiển lộ trong đó. Đó là cái không lời. Không ngôn ngữ. Kinh vô tự.
 

Trong bản văn Tín Tâm Minh của ngài Tăng Xán (529-613), có câu: "Đa ngôn đa lự, Chuyển bất tương ưng. Tuyệt ngôn tuyệt lự, Vô xứ bất thông."

Dịch nghĩa là: “Lời nói nhiều, suy nghĩ nhiều, lại càng không thể tương ưng. Nhưng khi bạn dứt nói, dứt bặt suy nghĩ tư lường, thì chỗ nào cũng thông suốt.”
 

Do vậy, xin mời bạn lắng nghe thường trực. Hãy lắng nghe như lời Phật dạy: thiết thực hiện tại, tức là nghe ngay bây giờ, dù có tiếng hay không có tiếng. Hãy nghe trong cõi thân tâm, không nghe qua bất kỳ ký ức, hay hồi niệm, hay mơ tưởng nào. Không có thời gian, tức là nghe mà không để tâm dính vào ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai. Đến để mà thấy, tức là nghe ngay hiện tiền, không phải tìm cõi nào khác. Có khả năng hướng thượng, tức là nghe và nhận ra tham sân si không có chỗ bám nữa. Được người trí tự mình giác hiểu, tức là nghe và tự mình biết, không cần vin vào sách nữa, không cần vin vào ngón tay chỉ trăng nào, hay vin vào bất cứ gì khác.
 

Trong đoạn văn, chúng ta thấy quý ngài có dẫn ra Kinh Viên Giác. Không rõ cụ thể về nghĩa nào trong kinh. Kinh Viên Giác phần lớn dạy các pháp Chỉ và Quán theo các thứ tự khác nhau. Nhưng có một phần thường được các Thiền sư dẫn ra, đó là ý chỉ: Tri huyễn tức ly, ly huyễn tức giác. Đây cũng là ý chỉ của Tổ sư thiền. Câu đó dịch nghĩa là: Hễ biết được là huyễn thì tự động lìa huyễn được, và khi lìa huyễn thì là giác biết (tỉnh thức, xa lìa tham sân si).
 

Chỗ này có thể nhận ra dễ dàng trong khi bạn lắng nghe, dù hiển lộ trong tâm là có âm thanh, hay không có âm thanh (tàng thanh) thì bạn sẽ nhận ra vô lượng pháp cõi này là huyễn, vì không có gì tới với bạn (dù là cái được thấy, cái được nghe, cái được ngửi, cái được nếm, cái được chạm xúc, cái được tư lường) mà có thể có cái gì gọi được là ngã tướng. Từng âm thanh tới rồi biến mất tức khắc. Tất cả hoàn toàn là vô ngã. Và nơi đó, lìa tham sân si. Không có âm thanh nào, hay sự tịch lặng nào bám được vào tánh nghe của bạn, nơi tất cả trôi đi vô cùng vô tận.
 

Nghe được như thế, là hạnh phúc hiển lộ. Nghe như thế, là nghe mà không có ai đang nghe. Nghe như thế, là xa lìa cả Có tiếng và cả Không tiếng. Nơi đó, bạn sẽ thấy gương tâm hiện ra: trong trẻo, tịch lặng, vô vi. Nơi gương tâm, đó là Không, nhưng hiện ra và trôi đi vô lượng ảnh hình và vô lượng không ảnh hình. Nơi gương tâm, đó là Không, nhưng hiện ra và trôi đi vô lượng âm thanh và vô lượng tiếng tàng thanh. Nghe thường trực như thế, bạn không cần ngồi thiền nữa, vì bạn đang nhận ra và đang sống cái vô vi, cái xa lìa tham sân si ngay nơi cái thấy, cái nghe.

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người ta thường gọi “Chết” là “Ra Ma.” Nhưng đối với nhóm Việt Bút chúng tôi, ít nhất là lần này anh Bồ Tùng Ma ra đi, thì tuyệt đối không phải như thế
Từ ngày 22.12, mùa đông trở lại với các nước bắc bán cầu và ở lại cho tới tháng ba năm 2020. Cũng là theo lẽ tuần hoàn của vũ trụ mà thôi, thu đi thì đông tới vả rồi nhường chỗ cho mùa xuân.
Tháng Tám năm nay, nhóm Việt Bút xôn xao vì không thấy anh tham dự buổi họp mặt thân hữu trước ngày giải thưởng Viết Về Nước Mỹ như mọi năm. Ai cũng nghĩ chắc anh đi Việt Nam thăm gia đình, không về kịp.
Mới đặt chân đến Mỹ chưa được mười ngày ông Hai đã được ông James tặng một chiếc xe hơi. Ông James dẫn ông Hai băng qua cái sân rất rộng, vào nhà xe, chỉ một chiếc xe màu xám trắng nằm trên bốn bánh gần như không còn một chút hơi
Bồ Tùng Ma sinh thời là một khuôn mặt thân quen, thương yêu của giải thưởng Viết Về Nước Mỹ. Tác giả tham gia Viết Về Nước Mỹ từ năm 2001, ngay năm thứ hai, Ông được trao tặng giải bán kết Viết Về Nước Mỹ.
Chiều nay, ngày 12-15-2019, ngọn gió thu đông làm bay bay chiếc khăn quàng cổ, rượt những chiếc lá vàng chạy lăng quăng trên lề đường, trời se se lạnh, chúng tôi tới nhìn mặt người bạn thân lần cuối.
Tất cả chúng ta đều có ý tưởng về những gì mà chúng ta nghĩ là tốt và xấu cho sức khỏe của mình, nhưng bao nhiêu điều mà chúng ta tin thì thực sự là thật?
Hầu hết những lệnh hành pháp của ông Trump từng làm cho người ta lo âu đều bị các vị chánh án liên bang chận lại. Nếu những vụ kiện này được đưa lên Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ vào mùa Thu năm 2020 thì sẽ không thể có bất kỳ quyết định nào cho đến mùa Xuân 2021.
Sự kết hợp của khô hạn và các con đập dọc theo Sông Mekong đã làm dậy lên nhiều quan tâm về tương lai của dòng sông dài 4,700 kilômét, mà trên đó có tới 10 triệu người tùy thuộc cuộc sống của họ vào nó tại Trung Quốc, Lào, Miến Điện, Thái Lan và Việt Nam, theo www.asiatimes.com cho biết.
Nhiều người Mỹ đang chật vật tìm các khoản khấu trừ thuế phút cuối trước khi năm 2019 chấm dứt và mùa khai thuế bắt đầu.
Bức vẽ mới được khám phá tại một hang động xa mô tả cảnh đi săn, và nó là câu chuyện cổ xưa nhất mà đã từng được ghi lại. Và nếu nhà khảo cổ Maxime Aubert của Đại Học Griffith University và các đồng nghiệp của ông là đúng, thì nó có thể cũng là ghi nhận đầu tiên về niềm tin tôn giáo – và là sự hiểu biết đầu tiên của chúng ta vào những gì mà những người tạo ra nghệ thuật trong hang động đã suy nghĩ.
Vào ngày 5 tháng 12 năm 2019 vừa qua, Tòa Phúc Thẩm Rộng Quyền Thứ Chín tại San Francisco, tiểu bang California, đã mang lại một phần chiến thắng cho hành pháp Trump bằng cách gỡ bỏ sự ngăn chận quy luật "gánh nặng xã hội". Tuy nhiên, quy luật mới về gánh nặng xã hội vẫn không có hiệu lực vì hai sự can thiệp khác vẫn còn ở Hoa Kỳ.
Một bộ phim tôn vinh vai trò của phụ nữ trong Phong Trào Dân Quyền năm 1968 tại Londonderry đã chia sẻ Giải Thưởng Turner 2019 danh giá, theo bản tin hôm 4 tháng 12 của trang mạng www.bbc.com
Một năm qua với bao nhiêu biến động mà có lẽ ít ai nhớ hết. Chỉ những sự kiện xảy ra rồi để lại dư chấn lớn thì chúng ta mới nhớ tới. Việt Báo xin kể lại theo thứ tự thời gian một số sự kiện thời sự lớn xảy ra trong năm 2019 để hầu chuyện cùng độc giả.
Năm 1949 ông chuyển vào sống ở Sài Gòn làm nghề thầu khoán, cho đến năm 1952 ông làm chủ bút báo Mới của Phan Văn Tươi, rồi cộng tác với tuần báo Phương Đông cho đến hiệp định Genève 1954. Từ năm 1959 ông làm chủ bút cho báo Cách Mạng Quốc Gia, nguyệt san Sáng Dội Miền Nam. Năm 1967 ông được mời dạy một số giờ tại Đại học Vạn Hạnh, Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm ở Sài Gòn.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.