Hôm nay,  

Phật Giáo và Di Dân

18/06/202508:42:00(Xem: 1880)
blank

Phật Giáo và Di Dân
 

Nguyên Giác
 

Đạo Phật là đạo của từ bi và trí tuệ. Hai phẩm chất này không liên hệ chút gì tới màu da, sắc tộc. Con đường giải thoát là Bát Chánh Đạo, cũng hoàn toàn không phân biệt gì tới sắc tộc, màu da. Tu tập hàng ngày là phải viễn ly, buông bỏ, xa lìa tham sân si -- và như thế, cũng hoàn toàn không dính chút gì tới những bức tường biên giới hay các bãi mìn giữa các quốc gia tranh chấp.
 

Chúng ta không tránh khỏi những suy nghĩ về các vấn đề đang sôi động trong xã hội Hoa Kỳ, khi cộng đồng mình được nhắc nhở rằng khi đi ra phố nhớ mang theo giấy tờ chứng minh mình là công dân Mỹ hay là người cư trú hợp pháp. Bài này sẽ không nói tới những tranh luận nhạy cảm. Nơi đây, chỉ nêu lên câu hỏi rằng: trong các môn đệ đầu tiên của Đức Phật, có phải có một vị A la hán da trắng, gốc di dân từ xa vào Ấn Độ?
 

Thực tế, Đạo Phật tại Việt Nam thời rất xa xưa, và tại Hoa Kỳ hai thế kỷ qua, là tôn giáo do di dân mang tới, và cũng từ các vị sư Hoa Kỳ sang Châu Á tu học và rồi về Mỹ thiết lập các tu viện. Nhà sư di dân nổi tiếng nhất trong lịch sử Trung Hoa là ngài Bồ Đề Đạt Ma.
 

Nhà sư di dân đầu tiên hoằng pháp tại Việt Nam là ngài Phật Quang, dạy đạo cho cặp vợ chồng Chử Đồng Tử và Tiên Dung, rồi hai người này trở thành hai Phật tử đầu tiên tại Việt Nam. Tiên Dung là con gái của vua Hùng Vương thứ 18, cũng là đời Vua Hùng cuối cùng - khoảng năm 258 trước Tây lịch. Theo sử, các thương nhân nước ngoài xuất hiện tại khu chợ của Chử Đồng Tử và Tiên Dung rất có thể là từ Ấn Độ. Do vậy, khi cùng các thương gia đi buôn trên biển, Chử Đồng Tử đã ghé vào một hòn đảo để lấy nước ngọt và gặp nhà sư Ấn Độ có tên Phật Quang. Phật giáo Việt Nam từ cơ duyên này bắt đầu.
 

Chúng ta rất khó nói được thời Đức Phật, vị sư nào là di dân hay không phải di dân. Thời xưa, chưa có chuyện cửa khẩu dựng lên giữa các quốc gia, và lúc đó khái niệm quốc gia cũng không giống như chúng ta suy nghĩ bây giờ. Thời đó là của các vương triều, các lãnh chúa. Biên giới co thể thay đổi rất nhanh. Thêm nữa, hẳn là thời kỳ đó, sự kỳ thị rất hiếm xảy ra giữa các sắc tộc gần nhau. Thí dụ, một người ở Đồng Tháp khi gặp một người từ Nghệ Tĩnh tới, giọng nói sẽ khó hiểu, khó tương tác với nhau, nhưng cảm xúc kỳ thị sẽ không có, hoặc rất ít.
 

Thời Đức Phật hẳn cũng như vậy, đôi khi trở ngại ngôn ngữ, nên Đức Phật khi thuyết pháp phải nói nhiều ngôn ngữ khác nhau. Theo các sử gia, Đức Phật Thích Ca thường nhất là đã thuyết pháp bằng tiếng Magadhi Prakrit (ngôn ngữ của vùng Ma Kiệt Đà – Magadha), một dạng ngôn ngữ Prakrit phổ biến ở vùng Magadha, nơi Ngài giảng dạy. Tùy vào địa phương, Đức Phật có thể đã sử dụng một số phương ngữ khác thuộc hệ Prakrit, vì ngài đi khắp các vương quốc như Kosala, Vajjī, Kuru, v.v. Đức Phật cũng không kỳ thị, vì ngài từng nói: Này các Tỳ-kheo, ta cho phép học lời Phật bằng ngôn ngữ riêng của mỗi người. Các kinh điển Phật giáo sau này được ghi chép lại bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, bao gồm tiếng Pali, Sanskrit, Gandhari-Prakrit, và Buddhist Hybrid Sanskrit.
 

Có một quan điểm từ một số truyền thống Phật giáo rằng lời Đức Phật nói là Phật Âm Vi Diệu, tức là một âm thanh mà mọi chúng sanh đều có thể hiểu được bất kể ngôn ngữ của họ. Điều này có lẽ chỉ muốn nhấn mạnh sự phổ quát của Chánh pháp, vượt qua rào cản ngôn ngữ thông thường.
 

Trong một cuộc thảo luận, nhà sư Sujato -- Trưởng ban Biên tập SuttaCentral, một kho kinh tạng Phật giáo lớn nhất thế giới hiện nay -- nói rằng có một vị A La Hán da trắng, mũi cao, có vẻ như người từ Châu Âu, hay từ Iran (tên cổ là Ba Tư) là môn đệ trực tiếp của Đức Phật. Ngài Sujato cũng là người dịch hầu hết (và có thể là tất cả) các Kinh trong Tạng Pali sang tiếng Anh, nên nhận định này là dựa vào kinh điển.
 

Bhikkhu Sujato viết, trích: “Nhà sư ‘da trắng’ đầu tiên là Tôn giả Mahākappina, một trong những đệ tử vĩ đại. Ngài xuất hiện trong một số đoạn văn, nhưng hầu hết đều không tiết lộ bất cứ điều gì về nguồn gốc của ngài. Nhưng trong SN 21.11, Đức Phật mô tả ngài như thế này: trắng, gầy, có mũi nhọn. Ba đặc điểm này, cùng với từ ‘cao’, chính xác là những đặc điểm thể chất của các nhà sư phương Tây ở các quốc gia Phật giáo ngày nay. Các thuật ngữ Pali rất chính xác và khác thường.”
 

Nơi một đoạn khác, ngài Sujato cũng viết: “Trong khi các EBT (Kinh Phật Sơ Kỳ) không cung cấp thêm thông tin nào về lý lịch của ngài, thì các Chú giải nói rằng ngài đến từ một vùng đất xa về phía tây. Đất nước đó được gọi là Kukkutavati, hay ‘Chookland’, và tôi không chắc liệu có thể xác định được hay không. Giữa vùng đó và vùng đất ở giữa, người ta nhấn mạnh rằng phải vượt qua ba con sông lớn, một trong số đó, Candabhāgā, được xác định là Sông Chenab hiện đại ở Pakistan.”
 

Trong một kết luận, Bhikkhu Sujato viết: “Về nguồn gốc thực sự của ông, thật khó để nói: có rất nhiều vùng đất ở phía tây Ấn Độ. Tất nhiên ông có thể là người Hy Lạp, trong trường hợp đó ông sẽ là người châu Âu đầu tiên được nhắc đến trong các văn bản Ấn Độ. Nhưng có nhiều khả năng ông đến từ đâu đó ở vùng đất rộng lớn phía tây Pakistan, có lẽ là Persia.
 

Vùng đất có tên Persia trong tiếng Việt thường dịch là Ba Tư, tên mới bây giờ gọi là Iran. Dĩ nhiên, không ai có thể khẳng định 100% những chuyện xảy ra thời Đức Phật, vì lúc đó chưa có sử, chưa có giấy mực như vài thế kỷ sau, lúc đó các nhà sư gìn giữ Chánh pháp phải chia kinh ra theo các bộ để học thuộc lòng, truyền khẩu từ thế hệ này qua thế hệ sau.
 

Nơi đây, chúng ta có thể trích từ Kinh SN 21.11, theo bản dịch của Thầy Minh Châu, để thấy rằng  Tôn giả Mahà Kappina nổi bật lên với da trắng, gầy cao và mũi cao như thế nào. Trích:
 

Rồi Tôn giả Mahà Kappina đi đến Thế Tôn.

Thế Tôn thấy Tôn giả Mahà Kappina từ đường xa đi đến.

Sau khi thấy, Thế Tôn liền gọi các Tỷ-kheo:

— Các Ông có thấy không, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo kia đi đến, da bạc trắng, ốm yếu, với cái mũi cao?

— Thưa có, bạch Thế Tôn.

— Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, có đại thần thông, có đại uy lực. Thật không dễ gì đạt được sự chứng đắc mà trước kia vị Tỷ-kheo ấy chưa chứng đắc. Vị ấy còn ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô thượng cứu cánh Phạm hạnh mà vì mục đích này, con các lương gia chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. (ngưng trích)
 

Chúng ta có thể suy đoán rằng, nếu ngài Mahākappina là di dân vào Ấn Độ từ thơ ấu, thì học ngôn ngữ dễ dàng, nghe pháp không trở ngại. Nhưng nếu ngài di dân vào Ấn Độ khi tuổi cao, thì ngôn ngữ là trở ngại. Chúng ta có thể đoán thêm, khi đó, pháp tiện lợi nhất để dạy rất ít lời là Niệm Hơi Thở.
 

Trong Trưởng Lão Tăng Kệ Thag 10.3, theo bản Việt dịch của ngài Bhikkhu Indacanda, chúng ta thấy rằng Trưởng lão Mahākappina kể rằng ngài niệm hơi thở như Đức Phật dạy, rồi thấy tâm ngài chiếu sáng cõi này, như trăng rời mây, trong trắng, chiếu sáng các phương. Trích như sau:
 

Niệm hơi thở vào hơi thở ra của vị nào được tròn đủ, khéo được tu tập, được tích lũy theo thứ lớp giống như điều đã được thuyết giảng bởi đức Phật, vị ấy chiếu sáng thế gian này, tựa như mặt trăng được thoát khỏi đám mây.

Thật vậy, tâm của tôi trong trắng, không hạn lượng, đã được khéo tu tập, đã được thấu triệt, và đã được nắm chắc, nó chiếu sáng tất cả các phương. (ngưng trích)
 

Đứng về cách nhìn của nhà Phật, chúng ta thấy hoàn toàn không có chuyện xem người này hay người kia là hạ tiện, là thấp kém, chỉ vì dựa theo nơi họ ra đời, hay dựa theo giai cấp. Kẻ hạ tiện, hay kẻ thấp kém, là do hành động của họ, chứ không phải do dòng tộc hay quốc độ họ xuất thân. Nơi đây, chúng ta trích dịch, dựa theo hai bản Anh dịch, lời Đức Phật dạy trong Kinh Snp 1.7 về Kẻ Hạ Tiện (The Lowlife, The Outcaste). Như sau:
 

“Một người giận dữ, cay độc, có những hung ác giả hình, lừa gạt và có ác kiến, được gọi là "kẻ hạ tiện."

Kẻ đó làm hại các sinh vật sinh ra từ tử cung hoặc từ trứng, và không có lòng thương xót với các sinh vật, được gọi là "kẻ hạ tiện."

Kẻ giết người trong thị trấn và làng mạc, mang lại sự hủy diệt, và rồi cư xử áp bức - được biết đến vì điều đó, được gọi là "kẻ hạ tiện."

Kẻ nào trong rừng hoặc trong thị trấn ăn cắp bất cứ thứ gì không được cho, từ những người khác mà nó có giá trị, được gọi là "kẻ hạ tiện."

Bất kỳ ai vay nợ nhưng khi được thúc giục trả nợ, sau đó trả lời, "Tôi thực sự không nợ bạn", được gọi là "kẻ hạ tiện."

Kẻ nào, vì một món đồ nhỏ từ người lữ hành trên đường, đã giết người để cướp, được gọi là "kẻ hạ tiện."

Bất kỳ ai vì của cải của bản thân hoặc của người khác, hoặc vì lợi ích tài sản, khi bị chất vấn về điều này, đã nói dối, được gọi là "kẻ hạ tiện."

Bất kỳ ai "được nhìn thấy" với vợ của người khác, của họ hàng và của bạn hữu, những người đồng thuận hay cưỡng ép, được gọi là "kẻ hạ tiện."

Bất kỳ ai đối với mẹ hoặc cha của họ đã qua tuổi trẻ và đã đến tuổi già, mặc dù giàu có, nhưng không hỗ trợ cha mẹ, được gọi là "kẻ hạ tiện."

Bất kỳ ai tấn công hoặc thốt ra lời căm ghét đối với mẹ, cha, anh em trai, chị em gái hoặc mẹ  của người hôn phối, được gọi là "kẻ hạ tiện."

Người được yêu cầu cho lời khuyên tốt nhưng lại trả lời bằng cách đưa ra lời khuyên xấu, rồi đưa ra lời khuyên với mục đích ẩn giấu, được gọi là "kẻ hạ tiện."

Bất kỳ ai trù ẻo nghiệp xấu cho người khác mà họ có thể không biết, rồi che giấu những hành động xấu này, được gọi là "kẻ hạ tiện."

Ai đến nhà người khác, được tiếp đãi tử tế, rồi không tôn trọng lại người kia, thì được gọi là "kẻ hạ tiện."

Bất kỳ ai, Bà la môn, Sa môn, hoặc thậm chí những người nghèo khổ đi ăn xin, lừa dối họ bằng lời nói dối trá, được gọi là "kẻ hạ tiện."

Bất kỳ ai khi đến giờ ăn, chửi mắng các Bà la môn, Sa môn và sau đó không cúng cho họ thứ gì, thì được gọi là "kẻ hạ tiện."

Bị che phủ, bị si mê, người bói toán những điều không đúng sự thật mong muốn ngay cả vì chút lợi ích nhỏ, thì được gọi là "kẻ hạ tiện."

Bất kỳ ai tự đề cao mình trong khi coi thường người khác, mặc dù thấp kém, do lòng tự phụ, thì được gọi là "kẻ hạ tiện."

Cũng khiêu khích và ích kỷ, có những ham muốn xấu xa, keo kiệt, xảo quyệt, vô liêm sỉ, không hối hận, thì được gọi là "kẻ hạ tiện."

Bất kỳ ai xúc phạm Đức Phật, sỉ nhục các đệ tử của Ngài, dù là người xuất gia hay tại gia, thì được gọi là "kẻ hạ tiện."

Người nào, mặc dù không phải là A-la-hán, nhưng lại giả vờ là A la hán. Trong thế giới với các vị thần, kẻ gian đó thực sự là kẻ hạ tiện nhất. Những kẻ đó được gọi là hạ tiện. Ta đã giải thích cho các ngươi.

Không ai là kẻ hạ tiện từ khi sinh ra, cũng không phải là Bà la môn từ khi sinh ra. Họ là kẻ hạ tiện bởi những hành động của họ, và là Bà la môn bởi những hành động của họ."(hết trích dịch)
 

Đó là lời Đức Phật dạy. Không phải vì họ khác màu da với mình, cũng không phải vì họ nghèo hơn, học kém hơn, và làm việc nặng nhọc hơn mà mình có quyền khởi tâm coi thường họ. Hãy nhớ rằng, nếu không có di dân, chúng ta sẽ không gặp Đạo Phật như hiện nay.
 

Và hãy nhớ rằng, Đức Đạt Lai Lạt Ma và Thầy Nhất Hạnh là hai vị trong các Phật tử di dân nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 và 21 của chúng ta. Hãy nghĩ xem, thế giới sẽ ra sao nếu không có di dân.
 

THAM KHẢO:

. Racism and the first white monk:

https://discourse.suttacentral.net/t/racism-and-the-first-white-monk/2920

. Kinh SN 21.11, bản dịch Thầy Minh Châu:

https://suttacentral.net/sn21.11/vi/minh_chau

. Trưởng Lão Tăng Kệ Thag 10.3. Bản dịch Bhikkhu Indacanda:

https://suttacentral.net/thag10.3/vi/indacanda

. Kinh Snp 1.7. Who is the Outcaste? / The Lowlife

https://suttacentral.net/snp1.7/en/mills

https://suttacentral.net/snp1.7/en/sujato

 



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tuy sống chung với nhau, nhưng đôi lúc hình như họ không còn hiểu nhau được nữa mặc dù hai vợ chồng cùng sử dụng một thứ ngôn ngữ! Tây gọi đây là solitude à deux còn người mình thì văn chương hơn nói đó là nỗi cô đơn đồng sàng dị mộng.
Một người lính đã bắn chết 21 người và làm bị thương hơn một chục người khác trong một vụ nổ sung tại thành phố Nakhon Ratchasima của Thái Lan hôm Chủ Nhật, 9 tháng 2, theo bản tin BBC tiếng Anh cho biết.
Một vụ bắn nhau giữa lính chính phủ Afghanistan và Hoa Kỳ trong thời gian chiến dịch phối hợp tại miền đông Afghanistan hôm Thứ Bảy làm tử thương cả hai bên, theo các viên chức Afghnistan và Hoa Kỳ cho biết.
người từng được Tổng Thống Trump mời hướng dẫn một buổi cầu nguyện tại Indianapolis hôm 27/10/2018 nhằm đáp ứng một vụ xả súng bắn người tại nhà thờ Do Thái Giáo Pittsburgh, đã chính thức từ nhiệm vào tháng 1/2020.
Như thông lệ hằng năm Hội Hoa Lan Newport Habor đều tổ chức trưng bày và bán hoa lan tại lầu 2 gần JC Penny trong Westminster Mall. Hội chợ hoa lan năm nay được tổ chức trong ba ngày kể từ Thứ Sáu ngày 7 đến Chủ Nhật, 9 tháng 2 năm 2020.
Châu Á năm nay đón tết chẳng vui gì vì Trung Quốc đang trải qua một mùa xuân kinh hoàng, nhất là cho dân thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc.
những câu chuyện có liên quan đến vấn đề thời sự hay chính trị ở quê nhà.
Có sai lầm trong các kết quả đếm phiếu được báo cáo bởi Đảng Dân Chủ tiểu bang Iowa về cuộc bầu cử sơ bộ tối Thứ Hai, theo phân tích của CNN cho thấy hôm 7 tháng 2.
Hoa Kỳ đã cử đại diện chính thức từ Tòa Đại Sứ tại Hà Nội gặp và lắng nghe nhà hoạt động Trịnh Bá Phương tường trình về vụ Đồng Tâm, theo bản tin của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) cho biết hôm 8 tháng 2.
Số người chết do lây lan vi khuẩn corona từ TQ đã gia tăng lên tới 717 người hôm Thứ Bảy, vượt qua tổng số người chết vì dịch SARS tại Hoa Lục và Hồng Kông cách nay 2 thập niên.
Vào tháng 11 năm 2016, tôi mang theo hai đứa con gái nhỏ của chúng tôi đến phòng bỏ phiếu. Tôi muốn chúng trực tiếp chứng kiến cuộc bầu phiếu đưa người phụ nữ đầu tiên lên làm tổng thống Mỹ. Tim tôi tràn đầy hy vọng và tôi muốn chia sẻ với con rằng cuối cùng, phụ nữ đã chứng tỏ hoàn toàn bình đẳng với nam giới; mọi cánh cửa sẽ mở rộng cho các con trong tương lai.
Chúng ta ai cũng biết rằng chính trị rất phức tạp ở các quốc gia dân chủ. Đơn cử ở Pháp, Anh, Úc … Trong khuôn khổ bài viết này người viết chỉ đề cập đến Mỹ và Đức liên quan đến hai biến động chính trị trong ba ngày qua, từ 04.02 đến 06.02.2020.
Phải có mặt ở địa phương home town của đội banh cà na được vào tranh Super Bowl hàng năm (vào khoảng đầu tháng 2) của Mỹ, người ta mới hiểu được tỷ lệ thuận giữa lòng đam mê thể thao và "kỹ nghệ kiếm tiền" của người Mỹ.
tình nghi trộm nữ trang trị giá hơn $300,000 từ ít nhất một tá cửa tiệm kim hoàn trong vùng Nam California, Texas và Virginia trong khoảng thời gian hơn 11 năm.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.