Hôm nay,  

Đọc Ngô Thì Nhậm: Thấy và Nghe

02/07/202509:04:00(Xem: 6009)
blank

Đọc Ngô Thì Nhậm: Thấy và Nghe
 

Nguyên Giác
 

Bài viết này sẽ phân tích lời dạy của sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh về ý chỉ Thiền Tông: vùng vằng chống chọi với những cái được thấy và được nghe là chưa biết đạo. Sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh là một tác phẩm về Thiền Tông Việt Nam xuất bản lần đầu vào năm 1796. Tác phẩm này được in trong Ngô Thì Nhậm Toàn Tập - Tập V, ấn hành năm 2006 tại Hà Nội, do nhiều tác giả trong Viện Nghiên Cứu Hán Nôm biên dịch.

Những lời dạy trong sách này mang phong cách Thiền Tông Việt Nam, vì ngài Ngô Thì Nhậm (1746-1803) khi rời quan trường đã xuất gia, trở thành vị sư có tên là Hải Lượng Thiền Sư, và được nhiều vị sư tôn vinh là vị Tổ Thứ Tư của Dòng Thiền Trúc Lâm. Tất cả các vị sư khác trong sách đều nói trong tông phong này.  Nơi đây, chúng ta trích các đoạn đầu trang 389, nguyên văn như sau:

blank

Việc gì nhìn thấy mà vẫn chưa cho là đúng, nghe mà còn chưa cho là thật, bị che lấp ứ đọng, vùng vằng chống chọi mà không thoát ra được, đó là người không biết đạo vậy. Người biết đạo thì thông, thông thì soi suốt, soi suốt được thì sống. Người không biết đạo thì không thông, không thông thì bị chướng ngại, bị chướng ngại thì chết.

Thần là tính, tính thì không diệt được, cho nên nói ‘sống là thuộc về thần.’ Hình là chất, chất thì có sinh có diệt, cho nên nói ‘chết là thuộc về hình.’ Phật Thích Ca thì diệt độ (*). Khổng Tử thì ngoạ bệnh mà mất. Diệt và mất chỉ là cái hình thôi, còn như ‘minh tâm kiến tính’ và ‘tận tâm tri tính.(**) là hai cái chân truyền của đức Phật và đức Thánh thì vẫn còn mãi mãi ở trong khoảng trời đất, ngàn muôn đời không bao giờ tắt, cho nên Thầy nói rằng: ‘Đạo không can dự vào đấy.’ Tây Ngưu Hạ Châu có Phật Vô Lượng Thọ, Nam Thiệm có đấng vương giả dấy lên. Có cái đạo ấy, tức có con người ấy, không sao mà diệt được, cũng là ý nghĩa ấy.” (ngưng trích)
 

Có 2 ghi chú trong sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh trong đoạn trên là, nguyên văn:

(*): Diệt độ: Diệt là trừ bỏ mọi phiền não, độ là giác ngộ giải thoát. Diệt độ ở dây có nghĩa là chết.

(**): Minh tâm kiến tính: Danh từ nhà Phật, có nghĩa là nhìn được triệt để bản tính tự tâm. Tận tâm tri tính: Sách Mạnh Tử, thiên Tận tâm thượng: "Tận kỳ tâm giả, tri kỳ tinh dã, tr kỳ tính tắc tri thiên hỹ." Nghĩa là: Tận lượng tìm hiểu tự tâm thì sẽ biết được tính, biết được tính thì sẽ biết được lễ trời.

 

Chúng ta cũng cần ghi nhận rằng hai ghi chú trên là của các dịch giả trong Viện Nghiên Cứu Hán Nôm, hoàn toàn không phải ghi chú của quý ngài trong dòng Trúc Lâm của Hải Lượng Thiền Sư, bởi vì quý sư viết trong tác phẩm Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh đều là các bậc danh nho, học Nho giáo từ thơ ấu, sống đời Nho sĩ, làm quan nhiều thập niên, trải qua những cuộc sóng gió binh biến của thời Tây Sơn và rồi cuối đời, vào chùa xuất gia. Quý ngài vừa học rộng cả Kinh Phật lẫn sách Nho, nên không thấy cần ghi chú các chữ như Diệt độ, Minh tâm kiến tính, Tận tâm tri tính.
 

Chúng ta nơi đây cũng không dám nhận định rằng các ghi chú đó có thích nghi hay không, vì nơi đây chúng ta sẽ nhìn cách khác, soi ý nghĩa dưới con mắt của người tu theo Thiền Tông, không bận tâm các nghĩa của Nho giáo.
 

Câu đầu trong trích dẫn trên là: “Việc gì nhìn thấy mà vẫn chưa cho là đúng, nghe mà còn chưa cho là thật, bị che lấp ứ đọng, vùng vằng chống chọi mà không thoát ra được, đó là người không biết đạo vậy...” 
 

Những cái đươc thấy và được nghe là gì? Tại sao chưa cho là đúng, mà lại vùng vằng chống chọi? Chư Tổ thường gọi, khi chúng ta đối diện với cảnh (những cái được thấy, được nghe), mà cứ muốn cảnh phải thế này hay muốn cảnh phải thế kia, đó là rơi vào lỗi “đầu thượng trước đầu. tuyết thượng gia sương” (trên đầu lại chắp thêm đầu, trên tuyết lại bồi thêm sương).
 

Tất cả những ý muốn, rằng cái được thấy phải thế này, rằng cái được nghe phải thế kia, chính là chúng ta đang bạo lực với cảnh, mất hẳn cái bình an của tâm bình thường. Chư Tổ nói rằng hãy giữ tâm bình thường chính là biết sống đạo. Bạn có thể thử nghiệm dễ dàng, khi bạn ngồi trong một thính phòng để nghe nhạc, tới đoạn nhạc này hay tới đoạn nhạc kia, bạn khởi tâm rằng nhạc sĩ lẽ ra phải làm thế này, hay thế kia. Đó là tự bạn làm loạn tâm bạn, làm mất bình an. Đó là bạn tự sân si với chính những cái được nghe.
 

Tại sao vùng vằng chống chọi cái được thấy và cái được nghe là không biết đạo? Bởi vì đơn giản rằng người đó tưởng rằng có cái thực tướng gì là cái được thấy và cái được nghe, nên khi nắm giữ tướng đó, mới phản ứng bằng cách vùng vằng chống chọi những gì được thấy và được nghe. Đó là chưa hiểu rằng Sắc là Không, chưa hiểu rằng những cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được suy nghĩ tư lường đều là hư ảo, là không thực tướng, đều là duyên sinh, đều là vô ngã, đều là Không, cho nên mới vùng vằng chống chọi.
 

Trong Kinh AN 4.14, Đức Phật dạy rằng khi thấy hay khi nghe thì đừng nắm giữ tướng riêng hay tướng chung của những cái được thấy hay được nghe. Thí dụ, tướng chung của cô Nguyễn Thị A là hình dáng, tiếng nói của một thiếu nữ có tên đó trong độ tuổi nào đó. Tướng riêng là đặc tướng riêng biệt, những gì làm cho chúng ta thấy đúng là Nguyễn Thị A mà không phải là Lê Thị B. Đừng nắm giữ tướng riêng hay tướng chung có nghĩa là hãy để tất cả những cái được thấy và được nghe trôi theo dòng đời vô thường, không nắm giữ gì hết. Kinh AN 4.14, bản dịch của Thầy Minh Châu, trích:
 

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Phàm do nhân duyên gì với nhãn căn này không được chế ngự, khiến cho tham ái, ưu bi, các ác bất thiện khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, sống với sự chế ngự nhãn căn. Khi tai nghe tiếng … khi mũi ngửi hương … khi lưỡi nếm vị … khi thân cảm xúc … khi ý biết pháp, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Phàm do nhân duyên gì ý căn này không được chế ngự, khiến cho tham ái, ưu bi, các ác bất thiện khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, thọ trì ý căn, sống với sự chế ngự ý căn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành nhiếp phục.” (ngưng trích)

 

Hãy nhớ rằng, thọ mạng của chúng ta, và của tất cả chúng sinh trong cõi này thực sự không phải là năm, hay tháng, hay ngày, hay giờ, mà chỉ là một khoảnh khắc của tâm. Trong Luận thư Niddesa ghi rằng thọ mạng của thân và tâm chúng ta chỉ là một khoảnh khắc tiếp giáp của một hạt đậu xoay tròn trên mũi kim. Như thế, không có khoảnh khắc nào lặp lại. Từng khoảnh khắc trong đời chúng ta đều là độc đáo. Hãy tỉnh thức và sống cho trọn vẹn từng khoảnh khắc trên thân tâm mình. Không có gì (và cũng bất khả) để nắm giữ hay chống chọi những gì được thấy, được nghe.
 

Có một yếu chỉ của Thiền Tông là, khi Lục Tổ Huệ Năng dạy cho Thượng Tọa Minh rằng, hãy nhìn xem ngay khi tâm không nghĩ thiện và không nghĩ ác, thì cái gì là bản lai diện mục (khuôn mặt xưa nay) của Thượng Tọa. Tương tự, các Thiền sư Việt Nam thường dạy rằng vô tâm chính là đạo. Không khởi tâm gì hết, dù là ưa thích hay chống chọi đối với cái được thấy và cái được nghe.
 

Trong Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, khi quý ngài viết rằng vùng vằng chống chọi những cái được thấy hay cái được nghe là chưa hiểu đạo, chỉ đơn giản là chúng sinh gây nghiệp vì cứ muốn cái được thấy và cái được nghe phải thế này hay cái kia. Bởi vì, tâm phân biệt cho rằng phải thế này mới phải (thiện, đẹp), khi đã thế kia là trái (ác, xấu). Tất cả những tâm đó sẽ làm chúng ta loạn tâm.
 

Trong Kinh Bahiya Sutta, Đức Phật nói rằng hãy để cho cái được thấy là cái được thấy, cái được nghe là cái được nghe... thì nơi đó là giải thoát.
 

Tất cả những cái được thấy và được nghe là gì? Thí dụ, khi chúng ta nghĩ về một người bạn cũ chúng ta từng gặp, từng nói chuyện, hay từng nghẹ bạn này hát ca... Luôn luôn chúng ta nghĩ về bạn này trong một khuôn thời gian nào đó và trong một không gian nào đó. Như hình ảnh bạn này thời 20 tuổi, hay 30 tuổi, hay 70 tuổi... và trong một không gian, như khi bạn này ngồi trong quán cà phê với mình, hay cùng đi chùa với mình... Đức Phật dạy rằng, hãy buông sạch tất cả mọi chuyện trong khuôn thời gian, bất kể là quá khứ, hiện tại hay tương lai. Khi bạn xóa sạch ký ức đó, xóa cả mơ tưởng của tương lai, buông sạch tất cả những gì đang thấy và nghe hiện tại, thì đó là giải thoát.
 

Trong Kinh Pháp Cú, bài Kệ 348 ghi lời Đức Phật dạy là hãy buông bỏ quá khứ, hiện tại, vị lai thì sẽ qua được bờ giải thoát:

 

348. “Bỏ quá, hiện, vị lai,

Đến bờ kia cuộc đời,

Ý giải thoát tất cả,

Chớ vướng lại sanh già.”

 

Khi Đức Phật nói xong bài Kệ 348, chàng nghệ sĩ gánh xiếc Uggasena đang đứng làm trò xiếc trên cây sào cao liền tức thời đắc quả A la hán. Khi nói buông bỏ cả ba thời, chỉ có nghĩa là thấy cả ba thời là không, thì tâm sẽ không dính mắc nữa.
 

Trong đoạn trên của Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, có nói tới “Tây Ngưu Hạ Châu có Phật Vô Lượng Thọ... có con người ấy, không sao mà diệt được.”

Quý ngài chỉ muốn nói rằng Phật Vô Lượng Thọ là một pháp vô vi, một pháp bất sinh và bất diệt. Nói vô lượng thọ là chưa từng sinh và chưa từng diệt. Nếu không có pháp vô vi này thì không thể giải thoát. Chúng ta hãy hình dung, khi chúng ta thấy và nghe thì gương tâm chúng ta hiện ra vô số ảnh hình và tánh nghe chúng ta nhận ra vô số âm thanh. Tất cả ảnh hình hiện ra rồi biến mất. Tất cả âm thanh tới bên tai rồi biến mất. Chúng ta không níu kéo được. Đó là những khoảnh khắc của tâm nơi điểm tiếp giáp như hạt đậu nhỏ xoay trên đầu mũi kim. Ảnh hình trôi đi, nhưng tánh phản chiếu của gương tâm vẫn không biến mất, và tánh nghe vẫn thường trụ. Cảnh sinh rồi diệt, nhưng tánh nhận biết vẫn không suy xuyển.
 

Hãy nhớ rằng, giải thoát không có nghĩa là vào hư vô. Đức Phật đã nhiều lần chỉ trích thuyết đoạn diệt (đoạn kiến, hư vô), và ngài cũng chỉ trích thuyết thường kiến. Ngài chỉ nói rằng một một pháp vô sinh, không sanh, và không diệt. Và nếu không có pháp vô vi này, thì không thể có giải thoát. Trong Kinh Udana 8.3, Đức Phật dạy rằng, nơi đây chúng ta dịch như sau:
 

Này các Tỳ kheo, có một cái không sanh, không trở thành, không bị tạo thành, vô vi (không bị điều kiện). Này các Tỳ kheo, nếu không có cái không sanh, không trở thành, không tạo thành, không bị điều kiện đó, thì các ông không thể biết được sự giải thoát khỏi cái sanh, cái trở thành, cái bị tạo thành và cái bị điều kiện ở đây. Nhưng vì có một cái không sanh, không bị trở thành, không bị tạo thành, không bị điều kiện, do đó các ông biết được sự giải thoát ra khỏi cái sanh, cái trở thành, cái bị tạo thành và cái bị điều kiện.” (hết dịch)
 

Thiền Tông gọi pháp vô vi đó là Tính, hay Tánh. Nơi đây, quý ngài Ngô Thì Nhậm gọi pháp vô vi đó, cái bất tử đó, cái Niết Bàn đó chính là cái mãi mãi ở trong khoảng trời đất, ngàn muôn đời không bao giờ tắt. Chúng ta cũng gọi đó là Pháp. Mặt khác, Kinh Lăng Nghiêm phân tích rằng, đừng gọi đó là cái gì tách biệt: bởi vì chính phiền não cũng là Niết Bàn. Bởi vì sóng không lìa nước, ảnh không lìa gương.
 

Ngay khi bạn thấy ảnh hình hiện ra nơi gương tâm, bạn sẽ thấy rằng ảnh hình không lìa tánh phản chiếu, nghĩa là, toàn Tướng tức Tánh. Và toàn Tánh tức Tướng. Ngay khi bạn nghe một âm thanh, bạn sẽ có thể trực nhận rằng âm thanh không rời Tánh nghe, và ngược lại. Thấy như thế, là thấy rằng, Niết Bàn chính là ngay ở đây, ngay giây phút này, ngay khi bạn thấy và nghe mà không níu kéo hay chống chọi tất cả những gì bạn thấy và nghe.

 

THAM KHẢO:

. Kinh AN 4.14. Đừng nắm giữ tướng chung, tướng riêng:

https://suttacentral.net/an4.14/vi/minh_chau

. Kinh Udana 8.3, bản Anh dịch Bhikkhu Ānandajoti:

https://suttacentral.net/ud8.3/en/anandajoti

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Sau 19 ngày tranh tài, Thế Vận Mùa Đông Bắc Kinh 2022 đã kết thúc với Lễ bế mạc vào đêm Chủ Nhật 20/2/2022 tại sân vận động Tổ Chim ở Bắc Kinh. Vận động viên từ 91 quốc gia và lãnh thổ có đại diện tham dự Thế Vận này đã vào sân diễn hành, phất cờ quốc gia, văn nghệ, chụp hình lẫn nhau trong các giờ phút cuối cùng.
Đêm chia ly, ngày sẽ tới tôi trọn đời, ngồi chép kinh làm thơ nhìn lửa ba cõi thấy vô ngã, ngộ vô sinh . Mở trang kinh, nghe tin bạn rơi tay bút, mực loang dòng bọt sóng trôi vô cùng tận như tia chớp, như hạt sương
Kính dâng Thầy Nhất Hạnh Học trò rất gần và rất xa: Vĩnh Hảo – Tâm Quang – Nói thật nhiều rồi lặng im / Làm thật nhiều rồi ngồi yên / Nói hay im: ý vô tận / Làm, không làm: tâm như nhiên
Việt Nam trở thành trạm trung chuyển của băng đảng Trung Quốc, theo lời một người TQ 31 tuổi có họ là Li khi bị bắt cóc chuyển từ TQ vượt biên giới vào VN, rồi tới Sài Gòn trước khi đưa nhập lậu sang Cam Bốt để làm "nô lệ máu" -- rút máu nạn nhân để bán.
Tại sao nói về thơ của thi sĩ Nguyễn Lương Vỵ (NLV) lại trước hết đề cập đến hai chữ “quê hương”? Vì tập thơ“Tám Câu Lục Huyền Âm” của ông, tôi chú ý thấy có nhiều hơi hướm hương quê và quê hương, qua chữ nghĩa cô đọng, rất Việt Nam, rất thơ, rất văn chương của nhà thơ. Điều đáng lưu ý là việc nỗ lực sử dụng chữ thuần Việt
COVID đã bắt đầu từ hai năm qua, đã sát hại gần 6 triệu người và vẫn tiếp tục hoành hành thế giới với các loại biến thể. Xuất phát từ một vi khuẩn nhân tạo của phòng thí nghiệm Vũ Hán hay từ một loài dơi ở miền Bắc nước Tàu mà các cuộc điều tra vẫn chưa xác định, nay lại xuất hiện vào những ngày đầu năm một loại virus mới do con người tạo ra, nguy hiểm và hậu quả tàn khốc không kém COVID-19, đang lây nhiểm khắp thế giới . Đó là sự cuồng nộ của con người biểu hiện qua các cuộc biểu tình với các đoàn xe vận tải hạng nặng hộ tống bởi các đoàn xe đủ loại đi chiếm đóng thành phố và các trục giao thông huyết mạch.
Tóm lược: ✱ The White House: Tăng cường mối quan hệ với các đối tác hàng đầu trong khu vực, bao gồm Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Mông Cổ, New Zealand, Singapore, Đài Loan, Việt Nam và các đảo Thái Bình Dương ✱ Dept. of The Air Force: Việt Nam luôn phải đương đầu vào các tranh chấp với Trung Quốc về Biển Đông trong nhiều thập kỷ và gần đây đã trở thành một đối tác toàn diện với Hoa Kỳ ✱ DoAF: Việt Nam mong muốn Hoa Kỳ đầu tư nhiều hơn vào Đông Nam Á, tăng cường hỗ trợ ĐCSVN để giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc ✱ DoAF: Việt Nam mong muốn Hoa Kỳ giúp đỡ trong việc đối phó với Campuchia, quốc gia liên minh với Trung Quốc và gây lo ngại bị bao vây ✱ DoAF: Việt Nam giao tiếp với Hoa Kỳ để có quan hệ đối tác chiến lược, từ chương trình T-6 sẽ tiến đến việc mua máy bay chiến đấu F-15E hoặc F-16 tiên tiến nhất.
Tác giả Trúc Giang MN nhìn lại ba cuộc thanh trừng đẫm máu của ba Đảng Cộng sản trên thế giới: Liên Xô, Trung Hoa và Việt Nam. Việt Báo trân trọng mời đọc.
Tô Vĩnh Diện là biểu tượng của anh dũng. Vì đã lấy thân mình ngáng cho khẩu đại bác nặng hai ngàn tấn không rơi xuống vực. Tuy nhiên sau giả tưởng Lê Văn Tám, dân Việt có quyền nghi hoặc: Có thật không hay chỉ là một tai nạn, một vấp ngã hay chính em bé Lê Văn Tám đã lớn lên rồi được cấp chứng minh thư tên là Tô Vĩnh Diện sinh năm 1928 ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa? Làm sao Triều đình Huế biết đặt những tên xã, huyện đậm chất Cách mạng như vậy vào năm 1928?
Tôi đến với cõi Thi Ca và Tư Tưởng của Nguyễn Lương Vỵ (NLV) bằng con đường rất tự nhiên của một độc giả yêu thơ, thường theo dõi thơ trên các tạp chí và nhất là các trang mạng văn học nghệ thuật. Còn nhớ lúc đó vào cuối năm 2012, khi tôi đang ngồi lướt mạng, tình cờ đọc được bài thơ “Hòa Âm Âm Âm Âm... ” của NLV trên một trang văn học, tôi đã rất sững sờ và rung động vì ý tứ của bài thơ rất lạ và cũng rất thâm sâu:
331 năm trước Công nguyên, ngay sau chiến thắng Gaugamèles khi tiến vào thành Babylone, đại đế Alexandre nói trước hàng quân: “Chiến thắng này cho vinh quang và tự do”. Võ Nguyên Giáp khó tuyên ngôn như vậy trước lịch sử, vì Điện Biên Phủ không đem đến tự do cho dân Việt mà ngược lại, áp đặt một chế độ tàn khốc. Tự do nào sau đấu tố phi nhân, sau Cải cách ruộng đất, nông dân chỉ có thể cày thuê cho hợp tác xã? Và tự do nào khi dân Bắc di cư rồi dân Nam chạy theo lính Cộng hòa mỗi một khi “giải phóng” vùng “tạm chiếm”? Võ Nguyên Giáp hẳn nhiên muốn giữ lại vế đầu của Alexandre đại đế: “Điện Biên Phủ là một chiến thắng vinh quang.” Tất nhiên và không ai chối cãi, vì lần đầu tiên da vàng chiến thắng da trắng và lần đầu tiên một thuộc địa thắng đế quốc. Nhưng phía sau tấm huân chương là vinh quang cay nghiệt: Đẩy cả một dân tộc vào chiến tranh, mục đích của Hồ Chí Minh là giành độc lập, thống nhất 3 kỳ, nhưng Hiệp định Genève chỉ cho Hồ Chí Minh Bắc kỳ, Nghệ Tĩnh và Quảng Bình,
Tôi có thể giữ được chủ quan về Mưa Thuận Thành hay không, sau tất cả những huyền thoại đã nghe về Hoàng Cầm? Ông là tác giả của Về Kinh Bắc, tập thơ cho đến bây giờ vẫn tiếp tục mang vầng hào quang riêng của những tác phẩm nằm lâu trong ngăn kéo mà chỉ cái tên của nó đã hứa hẹn, và hơn cả hứa hẹn: đã thiết lập hẳn một không gian tinh thần đặc trưng, là điều mà đa số các tập thơ hiện nay không làm nổi. Nhiều người sành điệu rỉ tai nhau, rằng ông là một trong số hiếm hoi những thi sĩ thực thụ còn tồn tại. Tên ông, ngay sinh thời, dường như đã được nối vào danh sách không dài lắm của những tên tuổi được mụ thời gian tính khí rất thất thường đồng ý lưu lại. Nhưng tác phẩm của Hoàng Cầm lại đến với công chúng muộn mằn, và phải chở trên lưng một quá khứ nguy hiểm.
(Robert Mullins International) Tuần này, Sở di Trú Hoa Kỳ đã công bố lời Tuyên bố sứ mệnh mới. Lời tuyên bố mới bổ túc các từ ‘tôn trọng’ và ‘hoan nghênh’. Đây là những từ đã thiếu của chính quyền Nhà Trắng trước đây, khi chính phủ kiên quyết chống đối người di dân. Lời tuyên bố mới nhấn mạnh rằng, Hoa Kỳ "là một quốc gia của sự hoan nghênh và có khả thi" đối với những người di dân, và nói rõ Hoa Kỳ là "một quốc gia của những người di dân." Chính quyền trước luôn cố gắng hạ bớt những đóng góp quý giá mà những người di dân đã đóng góp cho Hoa Kỳ. Nhưng thực tế là Hoa Kỳ đã, đang và sẽ tiếp tục là một Quốc gia của những người di dân.
Chúng ta dường như đang bước vào thời điểm bớt căng thẳng hơn trong đại dịch. Số ca nhiễm coronavirus trung bình hàng ngày ở Hoa Kỳ đã giảm hơn 60 phần trăm trong hai tuần qua. Và với nhiều phương pháp chống dịch hữu hiệu hơn, chúng ta có thể thấy những kết quả tốt hơn nữa khi bước vào mùa xuân. Tiêm chủng ngừa vẫn là một cách chống dịch hiệu quả nhất và ngày càng chứng tỏ mức độ an toàn và hiệu nghiệm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.