Hôm nay,  

Đọc Ngô Thì Nhậm: Vạn Pháp Là Một

10/07/202508:01:00(Xem: 4955)
blank 

Đọc Ngô Thì Nhậm: Vạn Pháp Là Một

Nguyên Giác

 

Bài viết này sẽ phân tích lời dạy của sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh về ý chỉ Thiền Tông: vạn pháp đều là một. Sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh là một tác phẩm về Thiền Tông Việt Nam xuất bản lần đầu vào năm 1796. Tác phẩm này được in trong Ngô Thì Nhậm Toàn Tập - Tập V, ấn hành năm 2006 tại Hà Nội, do nhiều tác giả trong Viện Nghiên Cứu Hán Nôm biên dịch.
 

Những lời dạy trong sách này mang phong cách Thiền Tông Việt Nam, vì ngài Ngô Thì Nhậm (1746-1803) khi rời quan trường đã xuất gia, trở thành vị sư có tên là Hải Lượng Thiền Sư, và được nhiều vị sư tôn vinh là vị Tổ Thứ Tư của Dòng Thiền Trúc Lâm. Tất cả các vị sư khác trong sách đều nói trong tông phong này.  Nơi đây, chúng ta trích nơi trang 412, nguyên văn như sau:

 
blank

(Trích)“Trọng Ni nói: "Nhìn từ góc độ khác nhau, thì là gan với mật, như nước Sở với nước Việt vậy (1). Nhìn từ góc độ giống nhau, thì vạn vật đều là một. Cái gì ra từ ở chỗ nào thì cũng đi vào ở chỗ đó, không từ chỗ nào ra mà cũng không đi vào chỗ nào, thế gọi là đại thông (hết sức thông suốt).

CHÚ THÍCH:

(1) Tự kỳ đị giả thị chi, can đảm Sở, Việt dã: Câu này ở thiên Đức sung phù, sách Trang Tử, chứ không phải của Trọng Ni.” (ngưng trích)

 

Chú thích trên là của Viện Nghiên Cứu Hán Nôm, muốn nói rằng câu trích dẫn trên là của Trang Tử, không phải của Trọng Ni.
 

Nơi đây, chúng ta ghi chú thêm, rằng Trọng Ni chính là tự danh của Khổng Tử – vị có tên thật là Khổng Khâu. Trong truyền thống Trung Hoa, người có học thường có “tự” (tên gọi dùng trong giao tiếp trang trọng), và “Trọng Ni” là cách gọi thể hiện sự kính trọng dành cho Khổng Tử. Khổng Tử không phải là nhân vật thuộc Đạo giáo, mà là người sáng lập Nho giáo. Ông sống vào thời Xuân Thu (551–479 TCN) và được xem là một trong những bậc thầy vĩ đại nhất trong lịch sử Trung Hoa. Tư tưởng của Khổng Tử nhấn mạnh đạo đức, lễ nghi, nhân nghĩa và giáo dục – khác biệt với Đạo giáo, vốn thiên về tự nhiên, vô vi và huyền học.
 

Tóm gọn ý của Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh nơi đây là: vạn vật đều là một.

Ý chỉ chỗ này dễ nhầm lẫn, nếu nói rằng có một cái gì là một, thì đều không nên. Nếu nói rằng không có gì có thể để gọi là một, hay là hai, hay là nhiều, thì cũng đều không nên. Nói chung, khi dùng tới văn tự là sẽ thấy vương vướng, như dường không ổn, vì cứ tưởng như là có cái gì.
 

Trong bài Bát Nhã Tâm Kinh, câu đầu là nói Sắc chính là Không, và Không chính là Sắc. Khi nhìn tất cả là Không, chúng ta thấy hiển nhiên rằng vạn vật đều là Không. Sắc chính là những gì được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được suy nghĩ tư lường. Khi tất cả là Không, chúng ta có thể tạm gọi vạn vật là một. Ý này nằm trong lời Đức Phật dạy về pháp ấn rằng tất cả hữu vi pháp đều là vô thường, vô ngã, khổ, không.
 

Trong Kinh SN 22.95, Đức Phật giải thích rằng sắc chính là không, rằng sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều là như đống bọt, như bong bóng nước, như ráng mặt trời, như cây chuối (lột vỏ không tìm ra tự ngã), như trò ảo thuật. Bản dịch Thầy Minh Châu viết, trích:
 

Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng này chảy mang theo đống bọt nước lớn. Có người có mắt nhìn đống bọt nước ấy, chuyên chú, như lý quán sát. Do nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, đống bọt nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong đống bọt nước được? Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; vị Tỷ-kheo thấy sắc, chuyên chú, như lý quán sát sắc. Do vị Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát sắc, sắc ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng.” (ngưng trích)
 

Người nào thấy được thực tướng các pháp, sẽ không còn thấy có tướng nam hay tướng nữ hiện lên. Khi tâm chúng ta chỉ thấy các uẩn hiện lên, và không còn thấy tướng nam hay tướng nữ nữa, thì tức khắc sẽ thấy vạn vật là một, hay nói ngược lại cũng đúng, rằng tất cả các pháp đều bất khả đắc. Do vậy, nói cho gọn thì là vạn pháp là một. Nói mặt khác, sẽ nói rằng không một lời nào có thể nói. Chỉ có thể nói rằng, các pháp nó như thế là như thế.
 

Trong Kinh SN 5.2, ghi lại rằng Tỳ kheo ni Soma khất thực ở Sāvatthi xong, sau bữa ăn, trên con đường khất thực trở về, Tỷ kheo ni đi đến rừng Andha để nghỉ ban ngày. Sau khi đi sâu vào rừng, ngài ngồi dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày. Ác ma hiện ra chọc ghẹo Tỳ kheo ni Soma.
 

Tỳ kheo ni Soma trả lời, theo bản dịch của Thầy Minh Châu, rằng hễ còn thấy có tướng nam hay tướng nữ là sẽ còn bị rơi vào trò của Ác ma, trích:

Ai tự mình tìm hỏi:

“Ta, nữ nhân, nam nhân,

Hay ta là ai khác?”

Xứng nói chuyện Ác ma,

Ác ma thật cân xứng.

 

Cho nên, thực tướng các pháp chính là Không tướng. Và chúng ta gọi là một thì cũng được, gọi là không thì cũng được. Bát Nhã Tâm Kinh gọi đó là bất dị, tức là không khác. Vậy thì, một hay nhiều đều không có tướng để được thấy. Tương tự, hãy hình dung rằng tất cả hình ảnh xanh đỏ tím vàng, cao thấp vuông tròn đều hiện trước tánh phản chiếu của gương tâm. Các hình ảnh liên tục hiện ra rồi biến mất, nhưng tánh phản chiếu của gương không biến mất theo ảnh, không chạy theo ảnh. Cũng vậy, những âm thanh, tiếng chim kêu, tiếng lá xào xạc liên tục tới bên tai rồi biến mất, rồi khởi lên rồi biến mất. Nhưng tánh nghe của chúng ta không chạy theo các âm thanh biến mất.
 

Có thể gọi tánh phản chiếu của gương tâm là một, khi hiện lên vô lượng ảnh hình. Có thể gọi tánh nghe là một, khi hiện lên vô lượng âm thanh. Nhưng trong tận cùng các pháp, không có một cái gì có thể nắm bắt được, nên gọi là một thì chỉ là tạm gọi. Cũng như cách gọi toàn sóng là nước, toàn tướng là tánh, và ngược lại. Nếu gọi tên nhầm là một pháp gì đó, thí dụ có tướng nam, hay tướng nữ đều là hỏng.
 

Trong tích truyện Kinh Pháp Cú số 43 kể chuyện rằng tướng nam hay tướng nữ chỉ là nghiệp, duyên thôi. Tích truyện tóm tắt như sau: Ngày xưa, tại tu viện Jetavana, Đức Phật kể về Soreyya, con trai một gia đình giàu có. Một hôm, cậu Soreyya đang đi xe ngựa sang trọng thì thấy Tỳ-kheo Mahakaccayana đang chỉnh y phục. Thấy vóc dáng và màu da vàng óng của ngài, cậu Soreyya chợt nảy sinh ý nghĩ sai trái: “Ước gì vị Tỳ-kheo này là vợ mình, hoặc vợ mình có làn da như ngài.” Ngay lập tức, Soreyya biến thành phụ nữ.
 

Xấu hổ, Soreyya bỏ trốn đến Taxila. Tại đây, cô gặp và kết hôn với một thiếu gia giàu có, sinh được hai con trai. Trước đó, khi còn là đàn ông, Soreyya cũng có hai con trai. Một lần, một người bạn cũ từ thành Soreyya đến Taxila. Soreyya nhận ra và mời anh ta đến. Khi biết đây chính là Soreyya đã mất tích, và nghe cô kể lại toàn bộ câu chuyện về ý nghĩ sai lầm và sự biến đổi giới tính, người bạn khuyên cô nên sám hối với Tỳ-kheo Mahakaccayana.
 

Soreyya mời Tỳ-kheo Mahakaccayana đến nhà cúng dường. Sau bữa ăn, cô thành tâm xin lỗi ngài. Tỳ-kheo Mahakaccayana nói: “Đứng dậy, ta tha thứ cho con.” Lập tức, Soreyya trở lại thành đàn ông. Soreyya nhận ra sự vô thường của thân tâm và cuộc sống, xin xuất gia theo Tỳ-kheo Mahakaccayana. Sau này, mọi người thường hỏi anh ta yêu thương những người con nào hơn. Ban đầu, anh nói yêu thương những người con do mình sinh ra hơn. Nhưng sau khi tu tập tinh tấn và đạt được A-la-hán, Soreyya không còn vướng bận tình cảm với bất kỳ ai.
 

Đức Phật xác nhận rằng Soreyya đã nói sự thật. Ngài dạy rằng, nhờ tâm ý hướng thiện, Soreyya đã đạt được trạng thái an lạc mà cha mẹ cũng không thể ban tặng.
 

Nghĩa là, vì chấp vào tướng nam hay tướng nữ, vì bị lôi cuốn bởi nhan sắc của tướng nam hay tướng nữ, chúng ta bị lôi kéo mãi trong cõi này. Cách duy nhất là thấy thực tướng chính là Không tướng, thì mới giải thoát.

Đức Phật cũng dạy rằng không hề có cái gì là tôi, là của tôi. Vậy thì, lấy cái gì để gọi là một hay nhiều. Tương tự, Tuệ Trung Thượng Sĩ dạy rằng muốn vượt qua dòng sông sinh tử, thì phải thấy tâm mình như con trâu đất, hễ xuống nước là tan ra. Cách nhìn như thế, nếu gọi vạn pháp là một thì chỉ là tạm gọi. Nhưng đúng ra, không một lời nào có thể nói được.
 

Trong Kinh SN 4.19, Đức Phật đối thoại với Ác ma. Kinh ghi lời Ác ma nói rằng, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:

“Này Sa-môn, mắt là của ta, sắc là của ta, thức xứ do mắt xúc chạm là của ta. Này Sa-môn, Ngài có thể đi đâu để thoát khỏi ta? Này Sa-môn, tai là của ta, tiếng là của ta … Này Sa-môn, mũi là của ta, hương là của ta…  Này Sa-môn, lưỡi là của ta, vị là của ta… Này Sa-môn, thân là của ta, xúc là của ta… Này Sa-môn, ý là của ta, pháp là của ta, thức xứ do ý xúc chạm là của ta. Này Sa-môn, Ngài có thể đi đâu để thoát khỏi ta không?”(ngưng trích)
 

Đức Phật trả lời: “—Này Ác ma, mắt là của Ông, sắc là của Ông, thức xứ do mắt xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có mắt, không có sắc, không có thức xứ xúc chạm, thời chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma.” Và tương tự với tai, mũi, lưỡi, thân, ý...
 

Như thế, thấy không một pháp nào là ta, là tôi, là của tôi, là của ta... thì là giải thoát. Tạm gọi là một cũng được, tạm gọi là vô lượng như biển cũng được. Như thế, không thấy có cái gì là ta hay người, thì lấy chỗ nào mà đau khổ nữa.

.

THAM KHẢO:

. Kinh SN 22.95: Thân tâm như bọt sóng, như trò ảo thuật:

https://suttacentral.net/sn22.95/vi/minh_chau

. Kinh SN 5.2, không thấy tướng nam hay tướng nữ:

https://suttacentral.net/sn5.2/vi/minh_chau

. Kinh Pháp Cú, tích truyện 43:

https://www.tipitaka.net/tipitaka/dhp/verseload.php?verse=043

. Kinh SN 4.19: Mắt tai mũi lưỡi thân ý là của ma:

https://suttacentral.net/sn4.19/vi/minh_chau

 

 

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Pháp Hội Địa Tạng Lần Thứ 10 do Thượng Tọa Thích Thánh Minh, Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Cư Sĩ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ (GHPGVNTN/HK), Viện Chủ Chùa Hội Phước New Mexico, làm Trưởng Ban Tổ Chức, Ông Sean Hadad, Giám Đốc Nhà Quàn Peek Funeral Home Phó Ban tổ chức, Đạo hữu Linda Trần, Phó ban tổ chức, đã long trọng cử hành trong hai ngày Thứ Sáu ngày 10 và Thứ Bảy ngày 11 tháng 9 năm 2021 tại Tôn Tượng Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát (cạnh Tượng Đài Thuyền Nhân Việt Nam.) trong nghĩa trang Peek Funeral Home.
Có một chân lý vẫn đúng tới bây giờ: bánh trung thu làm bằng tay vẫn có cái ngon riêng của nó so với bánh trung thu làm công nghiệp đại trà. Thí dụ như bánh nhân thập cẩm thái tay, chọn lựa các loại vật liệu theo ý mình thì bánh công nghiệp khó sánh bằng.
Tay vợt người Nga Daniil Medvedev đã đánh bại tay vợt Novak Djokovic, người hy vọng đạt được số giải lớn nhiều nhất trong Giải Tennis hàng năm của Mỹ, để nhận chức vô địch giải lớn đầu tiên tại Giải US Open năm 2021 trong trận đấu chung kết vào Chủ Nhật, 12 tháng 9 năm 2021 tại New York, theo bản tin của BBC tiếng Anh tường thuật hôm Chủ Nhật. Medvedev, 25 tuổi, đã thua 2 trận chung kết Grand Slam trước đây nhưng kỳ này đã thắng với tỉ số 6-4, 6-4 và 6-4. Tay quần vợt số một thế giới Djokovic đã thắng các Giải Australian Open, French Open và Wimbledon trong năm nay. Djokovic, 34 tuổi, người Serb cũng chạy đua để đạt kỷ lục tay vợt nam thắng Grand Slam thứ 21.
Thiền là bạn trở về với chính mình, khám phá nội tâm để đạt được an vui và hạnh phúc. / Meditation is how you return to self, how you discover yourself, and how you reach full bloom.
Đó là một điệp khúc quen thuộc trong số những người quan sát của bãi nhiệm tại California: 2021 không phải 2003, theo Hãng Tin Mỹ AP tường thuật hôm Chủ Nhật, 12 tháng 9 năm 2021. Vâng, tiểu bang lại đang ở giữa cuộc bầu cử bãi nhiệm mà có thể bứng ghế vị thống đốc Dân Chủ. Nhưng cuộc bỏ phiếu của California hiện nay trông khác xa với cuộc bỏ phiếu 18 năm trước: Ít Cộng Hòa, nhiều gốc La Tinh và gốc Á, và trẻ hơn – tất cả những chiều hướng này đều thuận lợi cho Thống Đốc Gavin Newsom, bao lâu mà ông có thể đưa các cử tri của mình đi bỏ phiếu.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Gió đã đổi hướng, nước dần dần rút, những bờ bãi ven sông ánh lên cái màu phù sa mịn màng, loáng nước. Những gốc bần, những rặng bần vẫn bám sâu rễ vào lòng đất, xanh dân dã đến thật thà. Một chiếc ghe đã cập vào bến, mũi gát vào gốc bần. Người ta đang chuyển tôm cá lên bến, vào bờ. Ngước mắt nhìn rặng bần, bắt gặp gió lay động và nụ cười vu vơ, xạt xào như hơi thở…
Nhưng tại sao dân Afghans lại lì lợm, đánh giặc dai dẳng, làm cho các nước lớn, binh lính tinh nhuệ, trang bị tối tân, mà phải thua? Theo nhà nhơn chủng học người Mỹ, ông Carleton Coon, dân Afghans có máu họ hàng với dân Kurdes và dân Berbères, giống dân miền núi, họ lúc nào cũng sống ly khai, chống đối, không giống những sắc dân ở đồng bằng. Có thử chinh phục họ, cũng không được.
Với tấm lòng khao khát học hỏi và trí thông minh sẵn có, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã tiếp nhận rất bén nhạy nhanh chóng giáo lý vi diệu Phật Đà. Cũng có thể những tri kiến này được tích lủy từ nhiều kiếp trước, đã tiềm ẩn đâu đó trong Tạng Thức của ông nên những kinh sách ông học đã thấu đáo nghĩa lý. Kiến thức Phật Học của ông được nhiều bậc Tôn Đức, thức giả khen ngợi.
Trong bài phát biểu đánh dấu 20 năm các vụ tấn công ngày 11 tháng 9, Bush nói rằng Hoa Kỳ đã chứng kiến “bằng chứng ngày càng gia tăng những nguy hiểm đối với đất nước của chúng ta có thể đến mà không đi qua các biên giới, nhưng từ sự bạo động tập họp bên trong đất nước.” “Có rất ít sự chồng chéo văn hóa giữa những người cực đoan bạo động hải ngoại và những người cực đoan bạo động trong nước,” theo Bush phát biểu. “Nhưng trong sự khinh thường của họ đối với đa nguyên, trong sự coi thường của họ đối với mạng người, trong quyết tâm của họ để làm nhơ bẩn các biểu tượng quốc gia, họ là những đứa con của cùng tinh thần xấu xa.” “Và đó là bổn phận của chúng ta tiếp tục chống lại họ,” theo ông nói thêm.
Từ đài tưởng niệm ở thành phố tới một cánh đồng xa xôi đến trung tâm sức mạnh quân sự quốc gia, Tổng Thống Joe Biden hôm Thứ Bảy, 11 tháng 9 năm 2021 đã bày tỏ sự kính trọng tại 3 nơi linh thiêng của nỗi đau buồn và tưởng nhớ để vinh danh những người đã mất mạng cách nay hai thập niên trong các cuộc tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9, theo Hãng Tin Mỹ AP tường thuật hôm Thứ Bảy.
Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Minh Châu, Nguyên Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, viên tịch tại Thiền Viện Vạn Hạnh, Sài Gòn, Việt Nam, vào lúc 9 giờ sáng ngày 1 tháng 9 năm 2012. Trong niềm tiếc thương vô hạn đối với sự ra đi của bậc ân sư khả kính mà người viết bài này đã từng thọ ân giáo dục, bài viết này xin được viết ra để tưởng niệm công đức lớn lao của Ngài đối với sự nghiệp giáo dục và qua đó xin trình bày một vài cảm nghĩ về con đường giáo dục của Phật Giáo Việt Nam.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.