Hôm nay,  

Đọc Ngô Thì Nhậm: Khi Tính Người Tịch Diệt

15/07/202509:22:00(Xem: 4674)
blank 

Đọc Ngô Thì Nhậm: Khi Tính Người Tịch Diệt
 

Nguyên Giác

 

Bài viết này sẽ phân tích lời dạy của sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh về ý chỉ Thiền Tông: Khi tính người tịch diệt, thì tính trời hiển lộ. Sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh là một tác phẩm về Thiền Tông Việt Nam xuất bản lần đầu vào năm 1796. Tác phẩm này được in trong Ngô Thì Nhậm Toàn Tập - Tập V, ấn hành năm 2006 tại Hà Nội, do nhiều tác giả trong Viện Nghiên Cứu Hán Nôm biên dịch.
 

Những lời dạy trong sách này mang phong cách Thiền Tông Việt Nam, vì ngài Ngô Thì Nhậm (1746-1803) khi rời quan trường đã xuất gia, trở thành vị sư có tên là Hải Lượng Thiền Sư, và được nhiều vị sư tôn vinh là vị Tổ Thứ Tư của Dòng Thiền Trúc Lâm. Tất cả các vị sư khác trong sách đều nói trong tông phong này.  Nơi đây, chúng ta trích nơi trang 414, nguyên văn như sau:

 
blank

(Trích)

Thứ mười: TIẾNG LẶNG LẼ KHÔNG CÓ TIẾNG

Tiên Nho nói: “Cái mà trời sinh ra thì gọi là tính.” (1) Người ta sinh ra thì tĩnh, cái đó không cần phải nói. Nhưng khi dã nói ra thì không phải là tính nữa rồi.

Đại thiền sư nói: “Diệt dược tính người thì gây được tính trời,” đại ý cũng tương đồng.

CHÚ THÍCH:

1. Lời của Cáo Tử trong sách Mạnh Từ, thiên Cáo Tử thượng. (Hết trích)

.

 

Ngài Ngô Thì Nhậm và các vị trong cuộc thảo luận ghi lại trong sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh đều học Nho từ thơ ấu để sẽ ra làm quan. Cuối đời, quý ngài mới vào chùa, xuất gia, sau khi tham dự những chuyển biến của lịch sử. Do vậy, chúng ta có thể đoán rằng đoạn văn này một phần cũng là để thuyết phục các Nho gia trước khi nêu Phật lý.
 

Trước tiên, chúng ta cần ghi chú về Chú thích. Cáo Tử là một triết gia sống cùng thời với Mạnh Tử, nổi tiếng với quan điểm con người sinh ra không thiện cũng không ác, mà bản tính được hình thành do giáo dục và hoàn cảnh. Cáo Tử từng nói rằng: "Tính vô thiện, vô bất thiện." (Tính không thiện, không bất thiện; nghĩa là, tính không thiện không ác gì cả.) Ông là một trong những người có cuộc tranh luận nổi bật với Mạnh Tử về bản tính con người. Cáo Tử cho rằng: “Tính người như dòng nước, khơi về Đông thì chảy về Đông, khơi về Tây thì chảy về Tây.”
 

Trong khi đó, Mạnh Tử lý luận: “Dòng nước tuy không phân biệt Đông Tây, nhưng nó phân biệt trên dưới. Tính người vốn thiện, như nước chảy xuống dưới vậy.”

Thiên Cáo Tử Thượng là phần đầu trong hai thiên Cáo Tử của sách Mạnh Tử, ghi lại các cuộc tranh luận giữa Mạnh Tử và Cáo Tử về bản tính con người (rằng có tính thiện hay không). Cáo Tử cho rằng “tính” là bản năng tự nhiên, không thiện không ác. Mạnh Tử thì khẳng định “tính người vốn thiện”, tức là con người sinh ra đã có mầm mống của nhân, nghĩa, lễ, trí.
 

Khi phân biệt giữa phần cao quý và phần thấp hèn trong con người, Mạnh Tử cho rằng nếu con người chỉ lo ăn uống, hưởng thụ thì sẽ đánh mất phần cao quý, trở nên giống như cầm thú. Mạnh Tử cũng dùng hình ảnh như “đứa trẻ sắp rơi xuống giếng” để chứng minh lòng trắc ẩn là bản năng thiện tự nhiên của con người. Trong sách Nho Giáo, nơi chương Mạnh Tử, bản dịch của Trần Trọng Kim, trích như sau:
 

Nói rút lại là Mạnh-tử cho cái tính của Trời phú cho người ta là thiện. Nếu có thành ra bất thiện, là vì người ta không biết giữ lấy cái bản tâm, chứ cái nguồn gốc của tính là không thể không thiện được. Ông nói rằng: «Nhân giai hữu bất nhẫn nhân chi tâm: Người ta ai cũng có cái lòng thương người... Giá bất-thình-lình người ta trông thấy đứa trẻ sắp rơi xuống giếng, thì ai cũng có lòng bồn-chồn thương-xót.” (ngưng trích)

.

Nơi đây, chúng ta không rơi vào cuộc tranh luận của các Nho gia. Hãy mặc kệ quý Nho gia. Chúng ta chỉ bận tâm về ý chỉ Thiền Tông mà ngài Ngô Thì Nhậm muốn nói.
 

Về câu nói của các nhà Nho rằng “Cái mà trời sinh ra thì gọi là tính” khi hiểu qua văn mạch Phật giáo, chỉ nên hiểu là một pháp vô vi, nghĩa là pháp vô sinh, hay pháp vô sanh, không phải do cái gì sinh ra. Trái nghịch với pháp vô vi là pháp hữu vi. Đức Phật dạy rằng tất cả pháp hữu vi là vô thường.

Pháp hữu vi là có sanh, có diệt, do duyên mà hiện lên. Pháp hữu vi là tất cả những gì chúng ta thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm xúc và tư lường. Nghĩa là, pháp hữu vi chuyển biến không ngừng. Đức Phật gọi đó là ba cây lau dựa vào nhau để hiển lộ thế giới của chúng ta: sáu căn gặp sáu trần thì hiển lộ sáu thức. Tất cả đều chuyển biến chớp nhoáng, không có thực tướng. Bạn có thể đứng nhỉn trận mưa nơi góc rừng, bạn sẽ thấy gió gào, mưa xối xả, hoàn toàn không có gì bất động.
 

Kinh Kim Cang nói về pháp hữu vi, ghi lời Đức Phật là:

Nhất thiết hữu vi pháp,

Như mộng, huyễn, bào, ảnh,

Như lộ diệc như điện,

Ưng tác như thị quán.
 

Dịch nghĩa là: Tất cả các pháp hữu vi, đều như giấc mộng, như huyễn ảo, như bọt sóng, như ảnh hiện, như giọt sương, như tia chớp lóe. Hãy cứ như thế mà quán chiếu.
 

Trong khi đó, pháp vô vi là pháp không thể thấy bằng mắt và không thể nghe bằng tai. Vì tất cả những gì mắt thấy và những gì nghe bằng tai đều là do duyên hiển lộ. Thí dụ, chúng ta đứng nơi góc rừng, thấy mưa, thấy gió, thấy lá cây nghiêng ngả. Tất cả đều do duyên mà có mưa, gió, cây lá nghiêng ngả. Khi gió ngưng, mưa dứt, thì tất cả hình ảnh đó biến mất trước mắt. Tương tự, chúng ta ngày Tết nghe pháo nổ, nghe trống múa lân. Các âm thanh pháo nổ và trống múa lân là do duyên, khi hết pháo và khi ngưng tay trống là âm thanh diệt. Các hiện tượng sinh và diệt cũng hiển lộ trên thân tâm chúng ta, cả ở mức thô và mức vi tế.
 

Khi ba cây lau dựa vào nhau, thế giới hiển lộ. Giả sử, rút một cọng lau, như ngưng tay trống, thì âm thanh tắt. Hay khi có người tới trước mắt, thì chúng ta thấy, khi người bước ra xa, chúng ta không còn thấy nữa. Nhưng ảnh người biến đi trước mắt, ảnh hạt mưa bay biến mất trước tánh phản chiếu của gương tâm, thì tánh phán chiếu của gương tâm không biến theo ảnh người, không biến theo ảnh mưa bay (nhưng vẫn đang thấy cái không ảnh người, thấy cái không ảnh mưa bay). Tương tự, khi tiếng trống tới, chúng ta nghe, khi tiếng trống ngưng, chúng ta không nghe tiếng trống (nhưng vẫn đang nghe sự tịch lặng), nhưng tánh phản chiếu nơi nhận biết nghe vẫn không biến mất theo tiếng trống.


 

Chư tổ Thiền Tông gọi cái biết không biến mất theo ảnh, không biến mất theo tiếng trống đó là Bản Tâm, hay là Tánh Biết. Nghĩa là tâm không chạy theo cảnh, không níu theo cảnh, tâm không lưu ảnh, để cho tất cả những gì thấy nghe như chim bay trên bầu trời, khi chim bay mất thì không lưu dấu. Chính cái bầu trời không lưu dấu bất kỳ dấu chân chim nào là chỗ để không dính vào sầu, khổ, sinh, diệt. Kinh Kim Cang gọi đó là: ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm. Nghĩa là, khi tâm không chỗ trụ, thì tâm Niết bàn hiện ra. Do vậy, ưng vô sở trụ, hay gọi tắt là vô tâm, hay vô niệm chính là cốt tủy của Thiền Tông.

 
Vậy thì, với người tu Thiền Tông, không níu vào bất kỳ vết chân chim nào trong bầu trời tâm chính là pháp tu không có phương pháp. Bởi vì, nếu nói rằng có bất kỳ phương pháp nào, như rất nhiều pháp do Đức Phật dạy trong Kinh Nikaya và Kinh A Hàm là dựa vào thân tâm ngũ uẩn để tu, tức là dựa vào thân tâm sinh diệt để từ từ đoạn trừ tham sân si để giải thoát (tức là pháp tu dựa vào pháp sinh diệt). Trong khi đó, Thiền Tông là pháp tu không dựa vào pháp sinh diệt, ngắn gọn, là pháp tu theo vô sanh diệt.
 

Làm thế nào tu theo pháp vô sinh diệt. Trước tiên, nên dựa vào lý luận Trung Quán để thấy tánh vô sanh diệt của tất cả các pháp. Đó là lý do có bài Bát Nhã Tâm Kinh, một bài cô đọng tất cả những lý luận của Bát Nhã. Rằng Sắc chính là Không. Nghĩa là, cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được tư lường suy nghĩ đều là không tự tánh, không tự ngã, không có thể được nắm giữ, và gọi ngắn gọn là Không. Và ngược lại, chính Không cũng là những cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được tư lường suy nghĩ. Thường trực thấy như thế, là thường trực thấy tánh phản chiếu của gương mà không bận tâm tới ảnh hiện rồi biến, thường trực nghe tánh nghe của tai mà không bận tâm tiếng trống tới rồi đi, thường trực sống với bầu trời dung chứa rỗng không của tâm mà không bận tâm về chuyện vết chân chim còn lơ lửng hay biến mất nơi nào. Nhận ra như thế, là biết tu theo pháp không có pháp tu.
 

Trong Tạng Pali, Đức Phật nói rằng nếu không có cái không sanh, không do duyên thì chúng ta không thể giải thoát.  Trong Kinh Iti 43, Đức Phật dạy, chúng ta dịch như sau:
 

Này các Tỳ kheo, có một cái vô sanh, một cái không đưa đến hữu, một cái không bị tạo ra, một cái không do duyên mà thành. Này các Tỳ kheo, nếu không có cái vô sanh, không đưa đến hữu, không bị tạo ra, không do duyên, thì không có sự giải thoát nào có thể được nhận ra từ cái được sanh ra, được đưa đến hữu, được tạo ra, do duyên mà tới. Nhưng vì có một cái vô sanh, một cái không đưa đến hữu, một cái không do tạo ra, một cái không do duyên mà tới, do đó có sự giải thoát được nhận ra từ cái được sinh ra, được đưa đến hữu, được tạo ra, do duyên mà tới.” (ngưng dịch)
 

Vậy thì, có cách nào đơn giản mà không cần ngồi thiền, không cần tập thở, không cần mài giũa gương tâm hay không? Cách đơn giản nhất là bạn hãy quy y Tam Bảo, hãy thọ giới, hãy giữ giới nghiêm ngặt. Khi bạn chuẩn bị sẵn sàng thì tự nhiên sẽ tới lúc bạn hiểu kinh, hay sẽ gặp một vị thầy tương ưng. Tuy nhiên, giả sử rằng bạn đang sống nơi nào trên thế giới, rất xa cộng đồng, thì  bạn hãy đọc kinh luận cho nhiều, và thử cách tu đơn giản này: hãy nói rằng Không Biết. Các văn bản tiếng Anh của Thiền Tông gọi đó là: "Don’t Know Mind" -- còn gọi là Tâm Không Biết, hay gọi là tâm hài nhi, tâm ban đầu.

 
Bạn có thể ngưng đọc một phút và tự nhủ rằng "Không biết" thì tất cả trong tâm bạn sẽ sạch trơn, sẽ không có xanh đỏ tím vàng, sẽ không còn buồn vui hờn giận, sẽ không còn dấu vết Nam Tông hay Bắc Tông, sẽ không còn dấu vết biện biệt thiện với ác, sẽ không còn ranh giới đúng với sai nữa, và Tâm Không đó chính là một bước để vào Gương Tâm trong trẻo, không do tạo tác, không hiển lộ từ ba cây lau nào hết. Nếu bạn thường trực sống với tâm không biết, bạn sẽ hiểu các Thiền ngữ để lại trong kinh sách Thiền Tông.
 

Trong Kinh SN 1.1, Đức Phật nói rằng để vượt lũ lụt, ngài không bước tới và cũng không đứng lại. Bản dịch của Thầy Minh Châu, trích như sau:

Đứng một bên, vị Thiên ấy bạch Thế Tôn:

— Thưa Tôn giả, làm sao Ngài vượt khỏi bộc lưu?

— Này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu.

— Thưa Tôn giả, làm sao không đứng lại, không bước tới, Ngài vượt khỏi bộc lưu?

— Này Hiền giả, khi Ta đứng lại, thời Ta chìm xuống. Này Hiền giả, khi Ta bước tới, thời Ta trôi giạt; do vậy, này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu.” (ngưng trích)
 

Có thể lý giải theo Bát Nhã Tâm Kinh rằng, ai đã sống thường trực với Tánh Không thì sẽ không thấy có thân ngũ uẩn nào đang bước tới hay đứng lại, thì lấy gì mà chìm được.
 

Nếu bạn tìm bản kinh tương đương bên A Hàm, bạn sẽ kinh ngạc thấy rằng văn phong Đức Phật nơi A Hàm đúng là văn phong Kinh Kim Cang. Đó là Kinh SA 1267. Bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ và Đức Thắng ghi rằng: “Thiên tử, như vậy gọi là không chỗ vin duyên, cũng không chỗ trụ mà vượt qua dòng xiết.”
 

Nhắc lại, Đức Phật dạy rằng không chỗ vin duyên, cũng không chỗ trụ mà vượt qua dòng xiết. Đó chính là Kinh Kim Cang vậy. Nghĩa là, nếu bạn còn vin vào một bè pháp nào, dù là bè gỗ, bè tre, ghe hay thuyền thì đó cũng không phải là lời Đức Phật dạy cách qua bờ trong Kinh SN 1.1 và Kinh SA 1267: Nơi đây là Thiền Trúc Lâm, là Thiền Tổ Sư, là tâm không một chỗ trụ mà bước qua bờ sinh tử.

Gọi theo kiểu Nho giáo (của quý ngài Ngô Thì Nhậm) là, khi tính người tịch diệt thì tính trời hiển lộ. Đây cũng là tông chỉ Thiền Trúc Lâm vậy.

 

THAM KHẢO:

. Nho Giáo, Quyển II, Thiên II, bản dịch Trần Trọng Kim:

https://vi.wikisource.org/wiki/Nho_gi%C3%A1o/Quy%E1%BB%83n_II/Thi%C3%AAn_II

 . Kinh Iti 43, giải thoát vì có một cái vô sanh, không do duyên:

https://suttacentral.net/iti43/en/ireland

. Kinh SN 1.1. Không bước tới, không đứng lại mà vượt lũ lụt

https://suttacentral.net/sn1.1/vi/minh_chau

. Kinh SA 1267. Không chỗ vin duyên, cũng không chỗ trụ mà vượt qua dòng:

https://suttacentral.net/sa1267/vi/tue_sy-thang

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Pechanga Resort Casino có nhiều món ăn quốc tế đa dạng, từ những món đặc biệt sang trọng tới những món ăn nhanh và ngon cho những ai vội đi. Quý vị sẽ tìm thấy một thế giới các món khoái khẩu tại những nhà hàng từng được thưởng huy chương ở Pechanga. Nếu quý vị tự nghĩ mình có khuynh hướng thích hưởng thụ những món ăn thật đặc biệt, xin hãy chuẩn bị cho một cảm nghiệm đầy ấn tượng.
Vốn ham vui, và rất chóng quên nên mẹ tôi ở lại luôn trong Nam cả năm trời. Hệ quả (hay hậu quả) là tôi cất tiếng khóc chào đời tại Sài Gòn. Khi hiệp định đình chiến được ký kết tại Geneve, vào ngày 20 tháng 7 năm 1954, tôi mới vừa lẫm chẫm biết đi. Cũng mãi đến lúc này bà má mới “chợt nhớ” ra rằng mình còn mấy đứa con nữa, đang sống với ông bà ngoại, ở tuốt luốt bên kia vỹ tuyến. Thế là tôi được bế ra ngoài Bắc, rồi lại được gồng gánh vào Nam (cùng với hai người chị) không lâu sau đó. Nhờ vậy (nhờ ra đời trước cái đám Bắc Kỳ con sinh trong Nam đôi ba năm) nên từ thuở ấu thơ tôi đã được nghe nhiều bài hát ca ngợi tình bắc duyên nam – qua radio – vào thời điểm đó
Tổng Thống Cộng Hòa Liên bang Đức, Frank-Walter Steinmeier mô tả ngày 13 tháng 8 năm 1961, ngày bắt đầu xây dựng Bức tường Berlin (ghi chú thêm: Người Việt Nam gọi là Bức Tường Ô Nhục Bá Linh), là "một ngày định mệnh cho người Đức chúng tôi và cho thế giới". Vào thời điểm đó, "sự phân chia thế giới trong Chiến tranh Lạnh đã được củng cố theo đúng nghĩa đen", ông nói hôm thứ Sáu 13.8.2021 tại lễ niệm xây dựng Bức tường Berlin.
Người nữ khoa học gia Mỹ đó chính là Eunice Foote. Vào năm 1856, tài liệu khoa học tóm tắt của Foote lần đầu tiên mô tả sức mạnh phi thường của khí carbon dioxide để hấp thụ sức nóng – động lực của việc hâm nóng toàn cầu, theo Giáo Sư Sylvia G. Dee. Carbon dioxide là loại khí không mùi, không vị, trong suốt tạo ra khi con người đốt các nhiên liệu, gồm than đá, dầu thô, xăng và gỗ. Khi bề mặt của Trái Đất nóng lên, người ta có thể nghĩ rằng sức nóng bắn trở lại không gian. Nhưng, nó không đơn giản như vậy. Bầu khí quyển vẫn nóng hơn được dự kiến chủ yếu do khí thải nhà kính như khí carbon dioxide, methane và hơi nước bầu khí quyển, mà tất cả đều hấp thụ nhiệt từ bên ngoài. Chúng được gọi là “khí thải nhà kính” bởi vì, giống như kính của nhà kính, chúng giữ sức nóng trong bầu khí quyển và tỏa chiếu trở lại bề mặt của hành tinh. Ý tưởng bầu khí quyển giữ sức nóng được biết, nhưng không phải là nguyên do. Foote đã thực hiện một thử nghiệm đơn giản.
Tôi nhớ lại một người tham dự tóm tắt sự chống đối của bà đối với các thuốc chích ngừa trong cách như sau: Bà nói rằng chính quyền đã yêu cầu bà cho phép một tác nhân sinh học sống được tiêm vào cơ thể con cái của bà dù nó không thể bảo đảm an toàn của con bà. Vì những lý do này, theo bà nói, bà có mọi quyền để quyết định rằng con bà sẽ không nhận thuốc chích ngừa. Sự chống đối của người phụ nữ này là do bà nghi ngờ rằng thuốc chích ngừa MMR, cho bệnh sởi, quai bị và ban đỏ đặc biệt, đã gây ra chứng tự kỷ. Tuyên bố này đã được cho thấy, nhiều lần và kết luận, là không có giá trị. Nhưng bà không hoàn toàn sai. Nhiều thuốc chích ngừa chứa các tác nhân sống, dù chúng ở trong tình trạng suy yếu. Và trong khi các phản ứng bất lợi và ngay cả nguy hiểm đã được biết xảy ra, nguy cơ như thế là rất nhỏ. Thực tế, ưu thế của chứng cứ cho thấy rằng nguy cơ tai hại hay chết người đối với trẻ em không chích ngừa các bệnh truyền nhiễm như MMR thì lớn hơn rất nhiều so với bất cứ nguy cơ nào liên kết
Sở Di Trú USCIS là cơ quan chính của hệ thống di trú Hoa Kỳ, nhưng trong suốt hai năm qua, Sở Di Trú đã không có một nhà lãnh đạo nào được Thượng viện xác nhận. Cựu Tổng thống Trump đã chọn bổ nhiệm các giám đốc điều hành (tạm thời) để ông có thể tránh quá trình xác nhận của Thượng viện.
Tuần qua, nước Mỹ chứng kiến sự gia tăng số người mới bị lây nhiễm biến thể delta trong một ngày vượt quá 100,000 người trong khi vẫn còn hàng triệu người ở Mỹ không chích ngừa và một số tiểu bang chống lại các biện pháp đeo khẩu trang. Trong khi đó tình hình đại dịch tại Việt Nam trong tuần rồi có vẻ giảm bớt dù các bệnh viện đã quá tải.
Sự gia tăng của Covid-19 mà đã khiến cho nhiều người phải vào các bệnh viện để điều trị lên cao chưa từng thấy tại nhiều nơi ở Miền Nam cũng là các tiểu bang đang bị tổn hại như Hawaii và Oregon mà đã từng chứng kiến các câu chuyện thành công chống đại dịch, theo bản tin của AP tường thuật hôm Thứ Năm, 12 tháng 8 năm 2021. Sau nhiều tháng mà trong đó họ đã giữ các trường hợp bị lây và người vào bệnh viện ở các mức có thể kiểm soát, họ đang chứng kiến tiến trình này tụt giốc khi con số kỷ lục bệnh nhân lấn át các nhân viên chăm sóc sức khỏe mệt mỏi. Oregon – giống như Florida, Arkansas và Louisiana trong những ngày gần đây – có nhiều người vào bệnh viện để điều trị Covid-19 hơn bất cứ thời điểm nào khác trong đại dịch. Hawaii đã đạt tới mức đó.
Chỉ mấy tuần trước khi Hoa Kỳ chấm dứt cuộc chiến của họ tại Afghanistan theo lịch trình đã định, chính phủ Biden đã vội vã đưa 3,000 quân tới phi trường Kabul để giúp di tản một phần Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, theo bản tin của AP tường thuật hôm Thứ Năm, 12 tháng 8 năm 2021. Hành động này đánh dấu tốc độ kinh ngạc về sự xâm chiếm phần lớn đất nước của Taliban, gồm việc chiếm Kandahar hôm Thứ Năm, là thành phố lớn thứ hai và là nơi khai sinh ra phong trào Taliban.
Người Mỹ tiếp tục di cư tới Miền Nam và Miền Tây vì sự đắt đỏ của Miền Trung Tây và Miền Đông Bắc, theo các số liệu cho thấy. Phần trăm của dân số da trắng đã giảm từ 63.7% trong năm 2010 xuống còn 57.8% trong năm 2020, thấp kỷ lục, do bởi sự sút giảm sinh suất trong các phụ nữ da trắng so với các phụ nữ gốc La Tinh và gốc Á. Con số người da trắng không phải gốc La Tinh đã co cụm từ 196 triệu trong năm 2010 xuống còn 191 triệu. Người da trắng tiếp tục là nhóm chúng tộc nhiều nhất, nhưng điều đó đã thay đổi tại Califonria, nơi người gốc La Tinh đã trở thành nhóm chủng tộc lớn nhất, gia tăng từ 37.6% lên 39.4% trong một thập niên, trong khi phần trăm người da trắng đã giảm từ 40.1% xuống cỏn 34.7%. Người gốc Á Châu là nhóm chủng tộc đông dân nhất, đạt tới 24 triệu người vào năm 2020, tăng vọt hơn 1/3.
Trong khi số người vào bệnh viện điều trị vi khuẩn corona tại địa phương gia tăng, hầu hết Hội Đồng Giám Sát Quận Cam tiếp tục chận đứng các thảo luận công khai và các dữ liệu đề phòng về sự lây lan của vi khuẩn, theo bản tin của báo Voice of Orange County tường thuật hôm 11 tháng 8 năm 2021. Theo chỉ thị của Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát Quận Cam Andrew Đỗ, Quận Cam hiện là quận lớn duy nhất tại Miền Nam California không cung cấp các cập nhật về Covid cho công chúng tại các cuộc họp công khai của họ, dù gia tăng 700% số người vào các bệnh viện địa phương điều trị vi khuẩn corona kể từ tháng 6 khi Ông Đỗ ngưng cập nhật.
Tôi, Tô Phạm Thái, Chủ Nhiệm Nguyệt San KBC, và một số thân hữu trân trọng kính mời & cảm tạ trước về sự ủng hộ tham dự cho hai chương trình sau đây, Sự hiện diện của quý vị là niềm vinh dự của chúng tôi. Vui lòng RSVP trước ngày 15 Tháng 10 để tiện việc sắp xếp. Phần văn nghệ của hai chương trình do chính tác giả, thành viên và thân hữu trình bày. Chương trình có phần giải lao thân mật. ĐA TẠ và Xin liên lạc với Ban Tổ Chức: Tô Phạm Thái, Nguyệt San KBC: (714) 412-9013 Ngọc Nhung, VNTV-Ohana: (808) 366-4533 Phạm Gia Đại, Người Tù Cuối Cùng (714) 797-3392
Khu phức hợp Trang trại sẽ tiếp tục hỗ trợ các hoạt động nông nghiệp và kết nối công chúng với khu đất thông qua việc tiếp cận giải trí, giáo dục nông nghiệp và môi trường trên các vùng đất xung quanh. Người dân cũng sẽ có cơ hội để tìm hiểu về văn hóa và lịch sử của khu vực. Trang trại nằm trên vùng đất tổ tiên của nhiều dân tộc bản địa, bao gồm Bộ lạc Muwekma Ohlone và Bộ lạc Amah Mutsun, những người đã quản lý vùng đất qua hàng trăm năm và hiện vẫn cư trú trong khu vực.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.