Hôm nay,  

Như Nhiên Vốn Không Tịch

11/12/202517:26:00(Xem: 5932)
blank

Như Nhiên Vốn Không Tịch

Nguyên Giác
 

Có rất nhiều chữ rất khó để hiểu cho tận tường trên đời này. Và khi gặp chữ khó hiểu, tất nhiên là chuyện dịch từ Anh sang Việt, hay từ Việt sang Anh sẽ rất khó chính xác. Bởi vì, khi những chữ có nhiều nghĩa được chọn dịch theo một nghĩa, hẳn là các nghĩa khác sẽ bị thiếu sót. Trong đó, có chữ “tâm” tưởng là dễ dịch, nhưng hóa ra lại là chữ gây ra vô cùng gian nan. Thêm nữa, tại sao các Thiền sư ưa nói “ba cõi là tâm,” hay nơi khác lại nói, “vạn pháp duy tâm.” Chữ đã khó, mà nghĩa lại càng khó vô cùng tận.
 

Tôi yêu thích các Thiền sư Trung Hoa và Việt Nam khi họ làm thơ và hiển lộ những cách biểu hiện khác. Quý ngài nói rằng tâm là Phật, và không bận tâm lý luận dài dòng. Trong khi chúng ta đọc các văn bản đời nay, các phân tích rất phức tạp, có khi dễ làm rối rắm (trên nguyên tắc là để làm dễ hiểu) thêm. Thí dụ, ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ trong bài thơ Phật Tâm Ca, chỉ nói về tâm, và không bàn chuyện “căn, trần, thức... uẩn, xứ, giới...” hay bất kỳ những gì thiếu chất thơ.
 

Ngay ở những câu đầu của Tuệ Trung Thượng Sĩ trong bài thơ này đã nói thẳng những gì nhà thơ thấy, theo bản dịch của Thầy Thanh Từ:

Phật! Phật! Phật! không thể thấy!

Tâm! Tâm! Tâm! không thể nói!

Khi tâm sanh tức là Phật sanh,

Bằng Phật diệt là lúc tâm diệt.

Diệt tâm còn Phật chuyện không đâu,

Diệt Phật còn tâm bao giờ hết.
 

Hiển nhiên là khó. Phật mà là tâm? Mà sao tâm là Phật? Chúng ta thấy rõ, Tuệ Trung Thượng Sĩ không giải thích rõ. Vậy còn, tâm tham, tâm sân, tâm si... và vô lượng tâm của ba thời. Bởi vì tâm là một chữ nói về tất cả các hoạt động nơi thân tâm chúng ta, như suy nghĩ, cảm thọ, nhận biết, tưởng tượng, ghi nhớ, gợi nhớ, ý định, ý chí.... Vậy thì, tâm nào là Phật, tâm nào không phải Phật? Để rồi tới một chỗ, Tuệ Trung Thượng Sĩ mới viết:
 

Muốn cầu tâm, chớ tìm ngoài,

Bản thể như nhiên vốn không tịch.

Thực tế, ngài giải thích như thế cũng còn khó hiểu kinh khủng. Nếu không đủ vốn học Phật và không có nhiều năm ngồi cho mòn bồ đoàn, chúng ta có thể sẽ níu theo chữ và thắc mắc: nếu gốc là không, rồi lại tịch nữa, thì sao biết có cái gì là như nhiên.
 

Bây giờ chúng ta nói về Kinh Pháp Cú. Hai bài kệ đầu Pháp Cú là nói về Tâm, ý, thức... Bản dịch của Thầy Minh Châu trích như sau, nơi đây chúng ta viết theo văn xuôi cho dễ đối chiếu:

 1. "Ý dẫn đầu các pháp / Ý làm chủ, ý tạo / Nếu với ý ô nhiễm / Nói lên hay hành động / Khổ não bước theo sau / Như xe, chân vật kéo ".       

2. "Ý dẫn đầu các pháp / Ý làm chủ, ý tạo / Nếu với ý thanh tịnh / Nói lên hay hành động /An lạc bước theo sau / Như bóng, không rời hình ". (1)
 

Ý là gì của tâm? Có phải ý là suy nghĩ (think)? Hay là ý định (intent)? Hay là ý chí (will)? Trong thơ, tất nhiên phải ngắn gọn, không giải thích. Nhưng cách dịch của các vị sư khác cũng có chỗ bất đồng. Nơi đây, chúng ta xem các bản Anh dịch của các nhà sư, học giả nổi tiếng quốc tế.
 

Ngài Sujato dịch: Intention shapes experiences (Ý định dẫn tới các trải nghiệm).

Ngài Suddhāso dịch: All things are preceded by the mind (Tâm dẫn đầu các pháp).

Ngài Ānandajoti dịch: Mind precedes thoughts, mind is their chief (Tâm dẫn tới suy nghĩ, tâm là chủ...)

Ngài Ācāriya Buddharakkhita dịch: Mind precedes all mental states. Mind is their chief (Tâm dẫn tới các trạng thái của tâm. Tâm là chủ...)

 Ngài Peter Feldmeier dịch: All phenomena are preceded by the mind (Đi trước tất cả hiện tượng là tâm

Ngài Thanissaro dịch: Phenomena are preceded by the heart, ruled by the heart (Tâm [trái tim] dẫn tới các hiện tượng...)
 

Tóm lại, chúng ta thấy có những cách khá dị biệt để dịch chữ tâm nơi đây. Trong đó, có chữ “heart” và  “mind” là mơ hồ, tổng quát. Nhưng dịch là “intention” có hàm ý là dẫn tới nghiệp, vì khi có ý định, khi cố ý làm gì đó, thì sẽ gây ra nghiệp. Còn khi dịch đơn giản là “tâm” hay “mind” hay “heart” thì không chắc đã hàm ý gây nghiệp. Dĩ nhiên, tất cả các dịch giả đều đúng. Chữ nghĩa không bao giờ diễn dịch cho toàn hảo. Thí dụ, khi chúng ta nhìn lên bầu trời xanh, tìm cho đúng chữ “xanh” để mô tả thì bất khả, vì xanh thì có vô lượng màu xanh.
 

Khi quý ngài học giả đã có những cách dịch dị biệt nhau, tôi là bậc hậu sinh và học kém, tất nhiên phải dựa trên quý ngài, và phải lựa chọn cách nào mình thấy ưng ý nhất.
 

Tuy nhiên, khi nói về phẩm tính “tỉnh thức” của tâm, thường chữ này được quý Thầy tách ra để nói rõ, nói cụ thể. Thí dụ, bài Kệ 218 của Pháp Cú, bản dịch của Thầy Minh Châu là:

218. "Ước vọng pháp ly ngôn / Ý cảm xúc thượng quả / Tâm thoát ly ác dục,/ Xứng gọi bậc Thượng Lưu."

 Pháp ly ngôn là pháp giải thoát, không còn dùng ngôn ngữ để nói tới. Bản dịch của Thầy Minh Châu nhiều chữ Hán Việt, nên còn khó hiểu. Nhưng bản dịch của ngài Sujato dễ hiểu hơn:

One eager to realize the ineffable would be filled with awareness. Their mind not bound to pleasures of sense, they’re said to be heading upstream. (Người khao khát thấu hiểu điều không thể diễn tả bằng lời sẽ tràn đầy nhận biết tỉnh thức. Tâm họ không bị buộc vào thú vui giác quan, họ đang hướng lên thượng nguồn.)
 

Như thế, Thầy Minh Châu mô tả các trạng thái của tâm trong bài kệ 218 là: ước vọng, ý cảm xúc, tâm thoát ly. Trong khi ngài Sujato viết là: eager, awareness, mind not bound.

Nghĩa là, nên hiểu theo quý ngài xưa thường nói, “được ý thì quên lời.” Còn chấp vào chữ để bẻ nát chữ ra, thì sẽ thấy tay mình vấy mực mà chữ không toàn vẹn nữa. Viết như trên để nói rằng quý Thầy Tam Tạng pháp sư, đại dịch giả còn dùng chữ không hoàn toàn thống nhất, trong khi bản thân tôi là người sơ học, chỉ lặng lẽ học, đọc, nghiên cứu và không hề dám so đo gì khác.
 

Nói như thế cũng để nêu lên các nỗ lực gian nan khi tìm hiểu rằng phiền não khởi lên từ đâu và thế nào, rằng tâm chấp ngã ẩn núp nơi đâu, lấp ló chỗ nào và khi nào. Và nếu không nhìn tận tường tâm mình, thì sao thấy được bản nhiên không tịch được.

Bây giờ chúng ta nhìn lộ trình này. Khi nhìn thấy nụ hoa, thì sắc uẩn là mắt nhìn (căn) và cái được thấy là nụ hoa (trần), thức sẽ khởi lên nhận biết rằng có cái được thấy, và tưởng là xác định rằng cái được thấy là nụ hoa; lúc đó thọ khởi lên hoặc ưa thích, hoặc ghét bỏ, hoặc trung tính không ưa, không ghét. Lúc đó, hành sẽ khởi lên, dẫn tới ý định (như ưa thích, muốn ngắt bông hoa đưa về cắm bông) hay gì đó. Chữ ý định (intention) là chữ mà Thầy Sujato dịch cho câu đầu trong bài kệ số 1 của Kinh Pháp Cú. Và ý định chính là nghiệp phiền não, nghiệp sinh tử luân hồi.
 

Do vậy, Đức Phật dạy trong Kinh SN 18.7 rằng phải xa lìa tất cả các ý định đối với cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc và được tư lường (a learned noble disciple grows disillusioned with intention regarding sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas). Nghĩa là, không muốn, không ưa, không ghét, và tỉnh thức thấy rằng vì ý định là vô thường nên không có gì cần phải ý định.


 

Một cách khác, bởi vì chúng ta nghĩ rằng có cái gọi là mắt, có cái gọi là hoa... nên thế giới tập khởi. Đức Phật dạy trong Kinh SN 35.91 rằng phải vô niệm, phải xa lìa tư lường, đừng nghĩ ngợi rằng abc hay xyz... và đó là giải thoát. Kinh này viết, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:
 

"Chớ có nghĩ đến mắt, chớ có nghĩ đến trong mắt, chớ có nghĩ đến từ mắt, chớ có nghĩ đến: “Mắt là của ta”. Chớ có nghĩ đến các sắc, chớ có nghĩ đến trong các sắc, chớ có nghĩ đến từ các sắc, chớ có nghĩ đến: “Các sắc là của ta”. Chớ có nghĩ đến nhãn thức … Chớ có nghĩ đến nhãn xúc … Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc... [Chớ có nghĩ tới tai... mũi... lưỡi... thân... ý... cho đến uẩn, giới, xứ...] Vị ấy không nghĩ đến như vậy nên không chấp thủ một cái gì trong đời. Do không chấp thủ nên không có dao động. Do không có dao động, vị ấy tự mình tịch tịnh một cách hoàn toàn. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. (2)
 

Tuy nhiên, tập khởi ái đôi khi là tự nhiên, bởi vì tập khí nhiều đời. Đức Phật dạy rằng ngay khi thấy, là ly tham liền, thì đó là giải thoát. Trong Kinh SN 12.43, Đức Phật giải thích về đoạn diệt khỏ, theo bản dịch Thầy Minh Châu:

 

"Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ đoạn diệt? Do duyên con mắt và các sắc, nhãn thức khởi lên. Do ba cái tụ hội, nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này. Này các Tỷ-kheo, đây là khổ đoạn diệt.[tương tự với tai, mũi, lưỡi, thân, ý]"(3)
 

Thực tế, không hề có cái gì gọi là thế giới, mà chỉ có thể nói có thế giới là duyên từ các căn khởi lên. Nghĩa là, thế giới là từ tâm khởi lên. Chúng ta từ vô lượng kiếp chấp rằng có ta, có người, có thế giời... Tuy nhiên, Đức Phật nói rằng tất cả không có chuyện có thế giới hay không có thế giới, mà tất cả chỉ là duyên theo mắt, tai, mũi. lưỡi, thân, ý... Kinh SN 35.68, bản dịch của Thầy Minh Châu ghi lời Đức Phật:
 

“… “Thế giới, thế giới”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là thế giới, hay là danh nghĩa thế giới?

—Chỗ nào, này Samiddhi, có mắt, có các sắc, có nhãn thức, có các pháp do mắt nhận thức, tại chỗ ấy có thế giới, hay danh nghĩa thế giới … (như trên) … Chỗ nào có ý, có các pháp, có ý thức, có các pháp do ý nhận thức, tại chỗ ấy có thế giới hay có danh nghĩa thế giới.

Và tại chỗ nào, này Samiddhi, không có mắt, không có các sắc, không có nhãn thức, không có các pháp do mắt nhận thức, tại chỗ ấy không có thế giới, hay không có danh nghĩa thế giới … không có ý … tại chỗ ấy, không có thế giới hay không có danh nghĩa thế giới.”(4)

Tới đây, hiển nhiên là Đức Phật muốn nói vạn pháp là do tâm hiển lộ. Ba cõi là tâm... hiển nhiên là nghĩa bí ẩn vô cùng. Đơn giản là, ngoài thế giới chúng ta kinh nghiệm, sẽ không có thế giới nào khác. Như thế, giác ngộ với giải thoát phải là ngay ở nơi mắt tai mũi lưỡi thân ý, không dựa vào chỗ nào khác.

Trong Kinh SN 35.23, Đức Phật dạy rằng: “—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về tất cả. Hãy lắng nghe. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tất cả? Mắt và các sắc; tai và các tiếng; mũi và các hương; lưỡi và các vị; thân và các xúc; ý và các pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, gọi là tất cả. Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Sau khi từ bỏ tất cả này, ta sẽ tuyên bố (một) tất cả khác”, thời lời nói người ấy chỉ là khoa ngôn. Và bị hỏi, người ấy không thể chứng minh gì. Và hơn nữa, người ấy có thể rơi vào ách nạn. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, như vậy ra ngoài giới vức (avisaya) của người ấy!” (5)

Tới đây chúng ta hỏi thêm, tại sao các Thiền sư ưa nói về Không. Ngay trong Kinh Nhật Tụng là có bài Bát Nhã Tâm Kinh, và nói rất minh bạch rằng Sắc (cái được thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm xúc, tư lường) chính là Không. Ngay đó là không. Và ngay nơi Không cũng là thế giới hóa hiện. Dò lại Kinh điển, Đức Phật cũng từng nói như thế. Nói y hệt như thế.
 

Khi chúng ta dẫn ra giải thích của Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám sẽ thấy dễ hiểu hơn, cụ thể rằng cái bàn trước mắt chính là không, là vô ngã, là do duyên hình thành, không bấu víu vào đâu để nói là có. Dẫn ra trường hợp cái bàn, cụ Lê Đình Thám viết, trích: “Ví dụ như một cái bàn, nó cũng pbải đủ Nhơn đủ Duyên rồi mới thành cái bàn được. Nhơn của cái bàn tức là các thứ gỗ; gỗ lim thi đóng thành bàn lim, gỗ kiền-kiền thì đóng thành bàn kiền-kiền, nhơn với quả tụy có khác, nhưng cũng đồng một tánh-cách, hễ gỗ lim thì đóng thành bàn lim, chớ không thể nào đóng thành bàn kiền-kiền được. Song một mình gỗ cũng không đủ làm thành cái bàn, muốn đóng cho thành được cái bàn, lại cần phải có nhơn-công cưa, xẻ, bào, chuốt, ráp mộng, ghép ván nữa, những nhơn-công kia đều là những trợ duyên giúp đỡ cho cái nguyên-nhơn gỗ tạo thành ra cái bàn vậy. Chúng ta xét như trên thì biết cái bàn là một vật do nhơn-duyên sanh ra, tức là một cái nhơn-duyên-sở-sanh pháp. Vậy những nhơn duyên-sở-sanh pháp thiết-thiệt là thế nào? Đáp lại câu hỏi ấy, chúng ta nên lập câu kệ thứ hai, tức là câu: "Ngã thuyết tức thị không". Ngã thuyết tức thị không, nghĩa là tôi nói các nhơn duyên-sở sanh pháp kia tức là chơn không.”
 

Trong khi đó, Đức Phật không cần dài dòng. Đức Phật nói đơn giản rằng mọi thứ đều không có cái gì để gọi là cái gì. Trong Kính SN 35.85, Đức Phật dạy:

Ānanda, thế giới là không tự ngã, và không thuộc tự ngã, nên thế giới được gọi là trống không. Và cái gì, này Ānanda, là không tự ngã và không thuộc tự ngã? Mắt, này Ānanda, là không tự ngã và không thuộc tự ngã. Các sắc là không tự ngã, hay không thuộc tự ngã. Nhãn thức là không tự ngã, hay không thuộc tự ngã. Nhãn xúc là không tự ngã, hay không thuộc tự ngã … Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy không có tự ngã hay không thuộc tự ngã. Và vì rằng, này Ānanda, không có tự ngã, hay không thuộc tự ngã nên được gọi trống không là thế giới này.” (6)
 

Và vì thế giới trống không, vì mắt tai mũi lưỡi thân ý đều trống không, vì sắc thọ tưởng hành thức đều là trống không... cho nên đúng như Tuệ Trung Thượng Sĩ nói rằng bản nhiên là không và tịch.
 

Tuy rằng, ba cõi là tâm, nhưng giải thoát là, theo ngài Tuệ Trung:

Muốn cầu tâm, chớ tìm ngoài,

Bản thể như nhiên vốn không tịch.

Nơi đó đó, không đâu xa, rất gần đó, ngay trước mắt và ngay bên tai.
 

GHI CHÚ:

(1) Kinh Pháp Cú. Thầy Minh Châu. https://thuvienhoasen.org/p15a7961/pham-01-10

(2) Kinh SN 35.91: https://suttacentral.net/sn35.91/vi/minh_chau

(3) Kinh SN 12.43: https://suttacentral.net/sn12.43/vi/minh_chau 

(4) Kinh SN 35.68: https://suttacentral.net/sn35.68/vi/minh_chau

(5) Kinh SN 35.23: https://suttacentral.net/sn35.23/vi/minh_chau

(6) Kinh SN 35.85: https://suttacentral.net/sn35.85/vi/minh_chau

  

 

 




Một trạm cảnh sát tại Minneapolis đã bị đốt cháy vào tối Thứ Năm, 28 tháng 5, khi những người biểu tình tiếp tục tuần hành phản đối cái chết của người đàn ông da đen có tên George Flyod. Flyod, 46 tuổi, chết hôm Thứ Hai sau khi một cảnh sát da trắng dùng đầu gối đè cổ. Những người biểu tình tụ tập bên ngoài trạm cảnh sát Precinct 3 mỗi đêm kể từ hôm đó, và vào chiều tối, các cảnh sát đã đứng trên mái nhà, bắn hơi cay để cố giải tán đám đông.
Với một người Mỹ gốc Việt như tôi, Tháng Lịch Sử Người Da Đen có nghĩa gì? Các từ “Da đen”, “Người Mỹ gốc Phi châu”, và “Người Mỹ gốc Việt,” tự chúng đã là các tên gọi nặng nề. Ngay cả khi được sử dụng chỉ để đòi lại căn cước và phẩm giá, chúng vẫn đầy rẫy sự phân chia chủng tộc, dù là thời nay hay trong quá khứ. Suy ngẫm về lịch sử người Da đen, làm sao tôi có thể vượt qua cái hậu quả dã man của sức tưởng tượng và các chính sách của người da trắng Châu Âu đã bắt rễ từ hơn 500 năm trước?
Mì gói du nhập vào Việt Nam từ những năm 60 và đã trở nên khá phổ biến trong mọi tầng lớp của xã hội miền Nam. Mì gói còn được gọi là mì ăn liền, mì ramen, mì hành, mì cua, mì hai tôm, Kung Fu, Vifon, v,v…có thể được xem như fast food kiểu VN ăn ở nhà. Mì có nhiều dạng: gói, hộp, ly, tô. Nó là vị cứu tinh của những kẻ độc thân, của sinh viên, học sinh nghèo, của người quá bận rộn, của kẻ làm biếng nấu nướng mất công…và trong trường hợp vợ chồng bận gây lộn. Trong thực tế, mì gói thường dùng như một món ăn chơi cho đỡ dạ (snack)
Dân Biểu Liên Bang Hoa Kỳ Alan Lowenthal (CA-47), ngày hôm qua đã cùng với 8 vị Dân Biểu Hạ Viện Quốc Hội đệ trình một dự luật có tên là “Honor Our Commitment Act”, tạm dịch là Đạo Luật Tôn Trọng Lời Cam Kết Của Chúng Ta, nhằm giữ nguyên các quyền được bảo vệ hiện có của người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ. Đạo luật này nếu được thông qua sẽ trì hoãn 24 tháng đối với các trường hợp của những người Việt có lệnh bị trục xuất khỏi Hoa Kỳ. Dự luật này dựa trên tinh thần của Bản Ghi Nhớ Mỹ-Việt (U.S.-Vietnam Memorandum of Understanding hay là MOU), được Hoa Kỳ và Việt Nam ký kết đồng ý sẽ không trục xuất về Việt Nam những người Việt đến định cư tại Mỹ trước năm 1995 và sau cuộc chiến Việt Nam.
Đó là câu hỏi được đặt ra sau mấy tháng đại dịch Covid-19 tấn công toàn thế giới với con số khoảng trên 100 ngàn người thiệt mạng ở Hoa Kỳ, bằng 1/3 con số 360 ngàn người trên toàn thế giới. Người ta bắt đầu nghiệm lại những bài học lịch sử có được từ những trận đại dịch trong quá khứ và nhận thấy dịch cúm Tây Ban Nha xảy ra năm 1918 và dịch cúm Covid-19 có rất nhiều điểm tương đồng. Dù khoảng cách thời gian khác tới hơn 1 trăm năm, con người đã tiến bộ hơn trong nhiều lãnh vực, lịch sử vẫn lập lại. Có lẽ các sử gia sẽ căn cứ vào sự giống và khác nhau của hai đại dịch mà chép sử. Dĩ nhiên trang sử có xác thực hay không tùy theo cái dũng của người viết sử, dám viết sự thật mà không sợ chết, không sợ sự uy hiếp của chính quyền đương đại. Giống như 3 anh em sử gia thời Xuân Thu, bị chém đầu vẫn viết sự thật.
Các viên chức y tế công cộng Quận Cam đã âm thẩm thực hiện việc đeo khẩu trang, nhưng Cảnh Sát Trưởng Don Barnes cho biết ông và các cảnh sát thì “không phải là cảnh sát đeo mặt nạ,” theo bản tin của Đài CBSLA cho biết hôm 28 tháng 5. Để có hiệu lực vào Thứ Bảy,Y Tế Công Cộng Quận Cam đưa ra yêu cầu che mặt bằng vải cho tất cả người dân và du khách ở những nơi công cộng, trong khi đến các cơ sơ kinh doanh, tại nơi làm việc hoặc nếu không thể duy trì khoảng cách vật lý ít nhất 6 feet so với mọi người những người không cùng gia đình của họ.
Toàn thể nhân loại đều đang hướng về Hương Cảng với ánh mắt lo âu cùng chia sẻ. Ngay cả báo giới của nước CHXHCNVN cũng vậy, cũng trích dịch từ những nguồn tin với ít nhiều hảo cảm dành cho những công dân ở hòn đảo nhỏ bé này: Theo South China Morning Post, giới chức sân bay Hong Kong đã hủy bỏ tất cả các chuyến bay kể từ 16h (giờ địa phương), đổ lỗi cho những cuộc biểu tình đã "làm gián đoạn nghiêm trọng" việc vận hành của sân bay, ngăn cản hành khách làm thủ tục check-in và kiểm tra an ninh.
Thành quả của cuộc trưng cầu dân ý này sẽ xác định rõ lập trường của người dân so với chính sách của Đảng Cộng Sản Việt Nam, chứng tỏ lòng yêu nước của một dân tộc kiên cường, phản ánh nguyện vọng thật sự của tuyệt đại đa số người Việt trước cộng đồng quốc tế, dằn mặt bè lũ Trung Cộng xâm lược và tạo khí thế cho việc đòi hỏi quyền tự quyết cho người dân.
Tiệm thẩm mỹ đã được phép mở cửa lại sau thời gian phải đóng cửa theo lịnh của chính phủ, để ngăn ngừa sự lan truyền đại dịch corona khủng khiếp, giết người hằng loạt trên khắp thế giới. Buớc qua giữa tháng năm, đại địch đã chậm lại và nhiều sinh hoạt xã hội từ từ được phép mở cửa một cách hạn chế theo vệ sinh chung
Chị ơi, sắp tới mùa hè rồi. Em thường mặc quần đùi cho mát mẻ, nhưng em hơi thấp người và thích mang giày cao. Giày dây hở ngón chân và cao khoảng 10cm (4 ins) có thích hợp không?
Những tiệm thẩm mỹ đóng cửa, ngưng cung cấp dịch vụ làm đẹp do lịnh của từng tiểu bang vì đại dịch corona, nay từ từ tái hoạt động. Mô hình mới cần phải sắp đặt trong những tiệm thẩm mỹ, có thể khái niệm trước khi mở cửa trở lại.
Vấn đề đóng cửa ở địa phương đang bắt đầu thả lỏng ở nhiều nước, nhưng việc ngưng du lịch quốc tế nhiều phần sẽ kéo dài hơn. Nhiều nước vẫn đang tập trung vào việc phòng chống làn sóng lây nhiễm thứ hai, vì thế các phi trường, biên giới sẽ vẫn còn đóng cửa hoặc hạn chế trong một thời gian nào đó. Cơn đại dịch này đã thay đổi thế giới. Mọi thứ như ngừng lại.
Thống Đốc California Gavin Newsom hôm Thứ Ba, 26 tháng 5 tuyên bố rằng ông sẽ nới lỏng các hạn chế của tiểu bang đối với ngành hớt tóc và hair salon cho một số quận trong tiểu bang đáp ứng một số tiêu chuẩn về sức khỏe. Tiểu bang, đã đưa ra một trong những lệnh ở trong nhà trên toàn tiểu bang sớm nhất vào giữa tháng 3, đã và đang tái mở cửa kinh tế toàn tiểu bang trong các giai đoạn. Tiểu bang hiện đang ở giai đoạn 2 của kế hoạch tái mở cửa, mà đã cho phép các cơ sở kinh doanh bán lẻ và việc làm sản xuất với những điều chỉnh.
Hoa Kỳ đang trải qua sự xuống dốc kinh tế sâu nhất trong lịch sử hiện đại. Hàng chục triệu người Mỹ đã khai thất nghiệp khi vi khuẩn corona làm đóng các cơ sở kinh doanh và buộc các công ty phải sa thải nhân viên. Người dân cần sự hỗ trợ để giúp họ vượt qua cơn khủng hoảng bằng một vài phương cách chính yếu -- tiền mặt để đáp ứng tức thì nhu cầu tài chánh, chăm sóc sức khỏe để bảo vệ khi họ bị bệnh và có nhà ở nếu họ không thể trả tiền thuê nhà. Dù các nỗ lực kích cầu liên bang lên tới 2 ngàn tỉ đô la – cho đến nay – thì một số người bị ảnh hưởng gần đây cũng sẽ rơi vào sự đổ vỡ. Là học giả nghiên cứu cách người dân ghi danh vào các chương trình công cộng, tôi và đồng nghiệp Cecille Joan Avila, người nghiên cứu các chương trình xã hội liên quan đến sửc khỏe phụ nữ, đã nhìn thấy bằng cách nào các chính sách có thiện chí đôi khi có thể thất bại trong việc hỗ trợ những người cần giúp. Chúng tôi đã tìm hiểu xâu xa sự khó khăn ra làm sao đối với người dân để điều hướng theo cách của họ
Sắc lệnh hành pháp kiểm tra ranh giới của thẩm quyền của Bạch Ốc. Trong một cuộc đấu thầu hợp pháp lâu dài, nó tìm cách hạn chế sức mạnh của các nền tảng truyền thông xã hội lớn bằng cách diễn giải lại một đạo luật quan trọng năm 1996 nhằm che chở các trang web và công ty kỹ thuật khỏi các vụ kiện. Nhưng các chuyên gia pháp lý ở cả phái hữu và tả đã nêu ra những lo ngại nghiêm trọng về đề xuất này. Họ nói rằng nó có thể vi hiến vì nó có nguy cơ xâm phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của các công ty tư nhân và vì nó cố gắng phá vỡ hai nhánh chính phủ khác. "(Trump) đang cố gắng tự đánh cắp sức mạnh của tòa án và Quốc Hội để viết lại hàng thập niên luật đã được ấn định," theo Thượng Nghị Sĩ Dân Chủ Ron Wyden của tiểu bang Oregon, kiến trúc sư của luật pháp mà sắc lệnh tìm cách giải thích lại. "Ông ấy quyết định những gì hợp pháp dựa trên những gì có lợi cho ông ấy."
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.