Hôm nay,  

Kim Vũ Và Thế Giới Thơ Văn Triết Hoạ

13/03/202619:52:00(Xem: 2037)

KIM VŨ VÀ THẾ GIỚI THƠ VĂN TRIẾT HOẠ
 

Kim Vũ
  

(Lời giới thiệu của Phan Tấn Hải: Kim Vũ là một nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu đã có hơn 20 tác phầm bằng tiếng Anh, tiếng Việt. Ông nguyên là kiến trúc sư, rồi thông dịch viên, và cũng từng là một ứng cử viên [thất bại] cho một ghế thị trưởng ở California. Tập thơ tiếng Anh Revelation của Kim Vu vừa được nhà Vanguard Press ấn hành. Bạn có thể đặt mua ở đây:
https://pegasuspublishers.com/books/poetry/revelation 
Hoặc liên lạc trực tiếp tới nhà thơ Kim Vũ: [email protected].
Trong cương vị một nhà báo có cơ duyên quan sát các sinh hoạt văn nghệ của công đồng nhiều thập niên, tôi luôn luôn kinh ngạc về những tác phẩm đầy khám phá của nhà thơ Kim Vũ, Như dường Kim Vũ luôn luôn bước tới được những chân trời mới để sáng tác. Xin trân trọng giới thiệu. Sau đây là bài tự thuật của Kim Vũ.)
  
blank

Hình: nhà thơ Kim Vũ (phải), nhà báo Phan Tấn Hải (trái) một ngày đầu tháng 3/2026.
 

.... o ....

KIM VŨ VÀ THẾ GIỚI THƠ VĂN TRIẾT HOẠ
 

Kim Vũ


Tôi bắt đầu học đệ Thất Trung học tại Hà Nội năm 1952. Năm đệ Lục, có ông thầy dạy Pháp văn (thầy Hưng) rất thích thơ, có dịp dạy thế vài giờ cho một thầy khác, đã giới thiệu những bài thơ nổi tiếng thời tiền chiến, trong đó có một trích đoạn thơ Huy Cận mà tôi còn nhớ đến bây giờ:
 

Âm dương chưa hề mệt
Bên đường hoa nở tươi
Biển vang triều chảy liệt
Sóng rủ nhau đi bát ngát cười.
 

Theo cha mẹ vào Nam năm 1954, học tiếp tại trường Nguyễn Trãi cho đến khi chuyển qua trường Chu văn An năm học đệ Tam, tuy chọn ban B chuyên Toán, tôi vẫn thích văn thơ và theo dõi sát những sinh hoạt của nhóm Sáng Tạo do Mai Thảo chủ trương. Một giọng thơ mới nổi lên rất lạ là Thanh Tâm Tuyền, được ca tụng như một hiện tượng, nhưng cũng bị nhiều người chê bai. Có một đoạn thơ phá thể so với giọng thơ tiền chiến mà tôi rất thích với mấy câu như sau:

Vứt mẩu thuốc cuối cùng xuống dòng sông
Mà lòng mình phơi trên kè đá
Con thuyền xuôi
Trời không xanh không trắng không hồng
Những ống khói tầu mệt lả.

Được tắm gội trong một nền giáo dục dân tộc, nhân bản và khai phóng bắt đầu do Bộ Trưởng Giáo Dục Hoàng Xuân Hãn trong nội các Trần Trọng Kim được vua Bảo Đại thành lập vào tháng 3 năm 1945, tôi trân trọng và yêu mến nền văn học đích thực của dân tộc, tuy không chọn ban A chuyên về văn chương, nhưng cũng vẫn tìm đọc và thưởng thức những bài thơ hay. Lúc đó có Nguyên Sa nổi lên với tập thơ tình mà bọn trẻ chúng tôi rất thích, với những bài như “Áo Lụa Hà Đông”, “Paris có gì lạ không Em”, “Nga” ‘buồn như con chó ốm’… và đặc biệt Phạm Duy phổ mấy bài thơ tình của Cung Trầm Tưởng kể chuyện tình yêu với mấy cô gái Pháp ‘tóc vàng sợi nhỏ’, đem đến không khí Paris diễm lệ gây cho chúng tôi những cảm hứng đặc biệt và ước vọng đi du học nước ngoài.

Được học bổng USAID qua Hoa Kỳ theo học ngành Kiến Trúc trong 5 năm, tôi lại tìm thấy cơ hội mới đi sâu vào nền triết học phương Tây sau khi đọc cuốn “The Story of Philosophy” của Will Durant.

Về lại Việt Nam năm 1964, theo thời thượng, tôi đọc Sartre “Buồn Nôn”, “Những Bàn Tay Bẩn”, Camus với “La Peste”, “La Chute”, “l’Étranger”, “L’homme Révolté” vv. Tôi cũng lại có dịp đến với văn chương Việt qua “Khu Rừng Lau”, bộ trường thiên tiểu thuyết của Doãn Quốc Sỹ, kể về thời kỳ chiến tranh Việt Pháp, cảnh tản cư, rồi di cư vào Nam trong giai đoạn chia đôi đất nước. Tôi đặc biệt xúc dộng và thâm cảm một đoạn văn nơi cuối cuốn thứ hai gọi là “Người Đàn Bà bên kia Vỹ Tuyến”, tả mối tình đẹp đến não nùng giữa Vân và Kha trong không khí chia ly vì thời cuộc. Trong lòng tôi khơi dậy một tình yêu văn chương sâu đậm, được thể hiện trong bút ký ngắn có tên là “Bảy Bức Thư từ Quân Trường Đồng Đế”, viết trong lúc được huấn luyện quân sự tại Nha Trang sau biến cố Mậu Thân năm 1968.

Một hôm gần Tết ta khoảng năm 1970, tôi đột hứng làm bài thơ như sau:
 
CHÚC TẾT

Đừng chúc tôi
năm mới
bạc lắm tiền nhiều
thành công thắng lợi
có người yêu
đời tươi như mai vàng trong nắng mới.

Cũng đừng chúc tôi
mọi điều như niềm mong đợi
vì tôi nào biết lòng tôi
bơ vơ giữa muôn ngàn vồn vập gọi mời.

Hãy chúc tôi
sống gập đời người
trong vui buồn mừng giận gặp dời
đau thương hoà hạnh phúc
nước mắt hợp nụ cười
để thấy rằng cuộc đời
ngọt ngào
êm ái
ngút ngời
và ôi sâu thăm thẳm.

Năm 1972, tôi được sở cho đi tu nghiệp về ngành “Hoạch Định Phát Triển Vùng” (Regional Development Planning) tại Institute of Social Studies nơi thủ đô Den Haag (The Hague tiếng Anh, La Haye tiếng Pháp) của Hoà Lan. Một hôm đi qua một tiệm sách, tôi thấy có bầy bán một cuốn sách in khổ lớn rất mỹ thuật có tên là “Tao Teh Ching”, tôi mua về, và sau đó mới khám phá ra đó chính là bản dịch Anh ngữ của “Đạo Đức Kinh” do Lão Tử để lại.

Sau 1975, tôi kẹt lại ở Việt Nam 16 năm, đã trải qua một thời kỳ khủng hoảng tinh thần khá nghiêm trọng, và do đó có duyên may hiếm có dẫn đến Phật pháp, được giải toả hoàn toàn bế tắc tinh thần, và từ đó mải mê tìm hiểu thêm về nền minh triết “không thể nghĩ bàn” mà Phật Thích Ca đã truyền lại cho nhân gian. Đồng thời, tôi cũng có cơ hội hồi tưởng những kinh nghiệm trong cuộc sống của mình cho đến thời điểm đó, và bắt đầu ngồi xuống viết một loạt những truyện khá ngắn trong một thể loại mới mà tôi chế ra gọi là “truyện mini”, cô đọng hơn rất nhiều so với loại truyện ngắn thông thường, nghĩa là có rất ít tình tiết, chỉ là thoáng một giây phút nào đó đã trôi qua làm cho mình hồi tưởng chuyện xưa và ghi lại suy ngẫm về cuộc đời. Tôi viết được cũng khoảng bốn mươi truyện như thế.

Cuối cùng được em trai bảo lãnh qua Hoa Kỳ năm 1991, tôi lại có dịp đi vào thế giới hội hoạ mà tôi yêu thích từ thuở nhỏ khi thực hiện những bức tranh trong một thể loại chưa từng có mà tôi chế ra, gọi là “Zen Tantric”, cho thấy nét đẹp nghệ thuật nơi động tác tự nhiên nhất và đắm say nhất trong sự biểu hiện tình cảm lứa đôi, làm nổi bật cái mơ hồ gợi cảm và óc tưởng tượng thay vì quá hiện thực đến dung tục, có thể thấy khi đi vào chi tiết đời thường, làm mất hẳn tính cách lung linh của nghệ thuật “Strip tease”.

Rồi đến năm 1996, gặp lại người bạn cũ thuở xưa trong một chuyến du lịch dài ngày qua nhiều phong cảnh tại Âu châu, tôi tràn đầy cảm hứng và viết được nhiều bài thơ tiếng Anh trong liên khúc “European Suite 1996”, và cùng một số bài thơ khác về nhiều đề tài và lãnh vực khác nhau, tôi hoàn tất tập thơ “REVELATION”, gửi đi rất nhiều nơi để thử thời vận nhưng không đưa đến kết quả nào. Đồng thời, tình cảm đến cùng người bạn cũ đã đem lại cho tôi hứng thú vô bờ, và vào tuổi xấp xỉ lục tuần, tôi lại hồi tưởng chuyện xưa, quay về những phác thảo và hoàn thành nhiều bài thơ lãng mạn “cực kỳ” làm chính tôi cũng phải ngạc nhiên. Đồng thời, tôi cũng bắt đầu công việc phiên dịch ra Anh ngữ những tác phẩm thơ Việt mà tôi yêu thích qua các thời đại, với ước vọng giới thiệu đến độc giả nói tiếng Anh ở phương Tây cũng như các thế hệ trẻ Việt Nam sinh ra và lớn lên trên toàn thế giới muốn tìm hiểu về những tinh hoa của nền văn hoá Việt. Cũng do sự khuyến khích của “bà xã” mà từ năm 2001, tôi lần lượt tự xuất bản mỗi năm ít nhất là một tác phẩm về văn, thơ, dịch, và triết qua lăng kính Phật giáo.

Khoảng năm 2002, tôi liên lạc với BookBaby phát hành tập thơ “Flora” trên internet nhưng không vừa lòng với cách thực hiện của nhà xuất bản On Line này.

Rồi vào năm 2010, tôi bước vào thể loại “du ký” với “Những Năm Tháng Tuyệt Vời”, kể lại những cuộc viễn du tới nhiều nơi trên thế giới cùng “bà xã”.

Trong giai đoạn sau 2010, tôi lại có dịp đi vào một lãnh vực tìm hiểu mới nữa, đó là Vật Lý Lượng Tử, bắt đầu từ Max Planck, và kết thúc với “Hạt Sáng Thế” (the God Particle) với Peter Higgs của Đại Học Edinburgh thuộc Scotland bên Anh.

Năm 2015, tôi thực hiện một tác phẩm thơ với nhiều hình chụp mầu mỹ thuật do tôi thực hiện có tên “Cho Valentine của Anh”.

Về hưu năm 2016 sau khoảng 15 năm làm thông dịch và phiên dịch viên tại Bệnh Viện và các Bệnh Xá Stanford ở Palo Alto, tôi được rộng rãi thời gian để tập trung vào việc sáng tác và phiên dịch thơ văn, một công việc mà tôi vô cùng ưa thích.

Năm 2019, tôi bắt đầu đưa những tác phẩm Anh ngữ đã hoàn thành lên Amazon, gồm hai tập thơ và một tác phẩm Triết có tên là “Panpsychism” gom lại 3 tác phẩm ngắn hơn về tư tưởng phương Tây và minh triết Phật giáo, đề ra một lối sống an bình cho chính mình giữa thời tao loạn khắp nơi. Đồng thời cũng hoàn thành một tác phẩm nữa có tên “Tâm là gì?” (What is Psyche?) bằng tiếng Việt cũng như Anh ngữ, giới thiệu ý niệm trung tâm của Phật pháp mà thế giới phương Tây không dám đụng tới, triển khai ở mức độ siêu đẳng nhất của khoa Vật Lý Lượng Tử và Lý Thuyết Dây mà các nhà bác học như Stephen Hawking đã có tham vọng từ đó đề ra một “Lý Thuyết Bao Trùm” (the Theory of Everything) giải thích toàn bộ vũ trụ và thiên nhiên từ suy tư vật lý đơn thuần.

Tôi cũng hoàn thành một số tài liệu về Phật pháp đã in hoặc còn trong dạng bản thảo và chưa có dịp phổ biến rộng rãi đến quần chúng như “Chân Như” (1999), “Ân Đức Sinh Thành” (2014), “Ngũ Giới, Ba Bài Kinh Phật dạy Người Tại Gia” (2014) vv.

Trong hai năm 2023 và 2024, tôi đã hoàn thành ba dịch phẩm từ Việt ngữ sang tiếng Anh. Đầu tiên là “After the War” (Sau Cuộc Chiến) dịch ba câu chuyện xảy ra sau năm 1975 tại Việt Nam. Sau đó là “Daddy, I đon’t Want to be a Communist” (Ba, Con Không Muốn Là Người Cộng Sản) kể lại cuộc đời Trần Ngọc Ánh. Cuối cùng là “The Sound of a Suffering Land” (Âm Vọng từ Miền Đất Khổ) dịch 8 truyện ngắn của Phan Nhật Nam.

Cũng trong năm 2023, tôi cho ra đời một tác phẩm khá lạ thường gọi là “đa hệ bút” (literary crossover) có tên là “PHA LÊ” (Crystal) gồm thơ, thơ dịch, truyện mini, tiểu luận, và cuối cùng là tranh vẽ.

Trong suốt thời gian dài, tôi vẫn tiếp tục cố gắng gửi đi những tác phẩm đã viết hoặc chuyển qua Anh ngữ đến các nhà xuất bản, cũng như qua các agent khắp nơi, nhưng cũng chẳng đưa đến kết quả gì. Mãi cho đến năm 2024 thì mới có một nhà xuất bản bên Anh chú ý và đề nghị in tập “REVELATION”. Cũng phải mất 2 năm tiếp theo thì tập thơ mới được chính thức ra mắt vào ngày 26 tháng 2 năm 2026. Hình thức tập thơ này vô cùng mỹ thuật làm tôi thật hài lòng. Đây là ‘cover blurb’ giới thiệu bằng tiếng Anh in nơi bìa sau cuốn sách:

“Revelation” is a mesmerizing tapestry of poetry, travelogue, and philosophical musings that dances between the sensual and the sublime. From the intoxicating allure of love scenes to the melancholic beauty of European landscapes, this collection captures life’s fleeting moments with raw honesty and lyrical grace. From the sun-drenched beaches of Nice to the rain-kissed streets of Paris, each locale is a backdrop for longing and revelation. Interwoven with sharp existential reflections, the work challenges perception, love, and creation itself. Playful yet profound, the “Tweet of the Day” snippets distill joy and sorrow into fleeting truths, while the eroticism of Rodin and Courbet mirrors the book’s celebration of flesh and spirit. A hymn to art, passion, and the ephemeral nature of existence, Revelation is a testament to the beauty of being alive, urging readers to savor every heartbeat, every touch, every whispered verse of the universe.
blank
Dịch ra tiếng Việt như sau:
“Revelation” là một bức tranh mê hoặc được dệt nên từ thơ ca, nhật ký du hành và những suy tư triết học, đan xen giữa sự gợi cảm và vẻ đẹp siêu phàm. Từ sức quyến rũ say đắm của những cảnh yêu đương đến vẻ đẹp u sầu của những phong cảnh châu Âu, tuyển tập này nắm bắt những khoảnh khắc thoáng qua của cuộc sống với sự chân thành mộc mạc và vẻ duyên dáng trữ tình. Từ những bãi biển ngập nắng ở Nice đến những con phố đẫm nước mưa ở Paris, mỗi địa điểm đều là bối cảnh cho nỗi khát khao và sự khám phá. Được đan xen với những suy ngẫm hiện sinh sắc bén, tác phẩm thách thức nhận thức, tình yêu và chính sự sáng tạo. Vui tươi nhưng sâu sắc, những đoạn trích "Tweet từng ngày" chắt lọc niềm vui và nỗi buồn thành những sự thật thoáng qua, trong khi chủ nghĩa khoái lạc của Rodin và Courbet phản ánh sự tôn vinh thể xác và tinh thần của cuốn sách. Là một bài ngợi ca nghệ thuật, đam mê và bản chất phù du của sự tồn tại, Revelation là minh chứng cho vẻ đẹp của cuộc sống, thôi thúc người đọc trân trọng từng nhịp đập, từng cái chạm, từng câu thơ thì thầm của vũ trụ.
.
Ngay sau đó, không hiểu do đâu, một nhà xuất bản tại Mỹ có tên là Archway, một chi nhánh ‘imprint’ của Simon & Schuster liên lạc, và chỉ cần chưa đầy một tháng sau, chấp nhận xuất bản một tập thơ mới của tôi có tên là “REALLY?” gồm nhiều bài thơ mang mầu sắc Thiền học nhưng với cái hồn hoàn toàn mới, rút cảm hứng từ những công án Thiền của Nhật Bản và Trung Hoa cũng như tinh chất của Trang Tử Nam Hoa Kinh. Đồng thời cũng có những bài dí dỏm về tuổi già, tình yêu và phê bình triết học Sartre, góp ý với Pascal, cũng như kết nối John Lennon với đạo học phương Đông.
 

Như vậy, hy vọng không lâu nữa, “REALLY?” sẽ ra đời, góp mặt với thế giới thơ thời “toàn cầu hoá”, biết đâu có thể khơi dậy lại sự chú ý đến thi ca như một đỉnh cao của sáng tạo con người, đã tắc nghẽn từ hơn nửa thế kỷ nay, kể từ thời “Howl” của Allen Ginsberg vào thập niên ’50 của thế kỷ trước tại Hoa Kỷ đã lay động thế giới thi ca, và sau đó là một thời gian dài ca nhạc thời trang đã làm tan hoang truyền thống thi ca với những bài thơ không vần vô hồn mà không ai thèm để tâm tới.
 

Sơ kết, cho đến nay, tôi đã có hơn 20 tác phẩm Việt, Anh và song ngữ ra mắt người đọc, và lần đầu tiên được một nhà xuất bản bên Anh chiếu cố, với triển vọng một tác phẩm ra mắt ngay tại Hoa Kỳ trong thời điểm không xa.
 
Trong thời gian sắp tới, tôi hy vọng có thể thử sức mình ở những năm cuối đời khi bắt đầu một ý định “điên rồ” là một trường thiên tiểu thuyết về lịch sử mang dấu ấn “nghìn người viết”, một điều mà tôi tha thiết muốn làm, và nếu có duyên may, biết đâu có thể hoàn thành làm quà cho thế gian trước khi giã từ “Planet Earth” này để tiếp tục vui bước trên đường tu học trong một kiếp mới.

Kim Vũ



Mùa Vu Lan hiếu hạnh – báo ân cha mẹ – là truyền thống lâu đời của người con hiếu thảo nhưng làm sao tạo được một cơ hội chia sẻ, an ủi và liên tưởng đến mặt phản diện của những đứa con bất hiếu chưa gặp duyên lành để biết ăn năn sám hối trở về với cha mẹ.
Đứng trước khủng hoảng do đại dịch Covid-19 và những bất cập trong hệ thống quản lý gây ra, người dân Việt Nam đã tự ra tay giúp nhau vượt qua những ngày tháng khó khăn.
Tại nhà hàng Dimond 3 Thành Phố Westminster, Nam California vào lúc 6 giờ chiều Chủ Nhật ngày 15 tháng 8 năm 2021, Trung Tâm Từ Ấn, do Thượng Tọa Thích Pháp Tánh làm Viện Chủ Chùa Khánh Hỷ và Chùa Từ Ấn, chủ trương, đã long trọng tổ chức lễ trao giải viết văn “Bông Hồng Cho Tuổi Thơ,” với sự tham dự buổi lễ ngoài một số quý chư tôn đức Tăng, Ni còn có quý vị nhân sĩ, quý Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử, quý cơ quan truyền thông, cùng 600 đồng hương, quan khách có Nghị Viên Thành Phố Garden Grove ông Phát Bùi, Nhà truyền thông Quang Việt… Ban Giám Khảo cuộc thi có Giáo Sư Nguyễn Khoa Diệu Quyên, Tiến Sĩ Bằng Lăng, Giáo Sư Corey Vuu, hai vị giám khảo không đến tham dự vì bận công việc đó là Nhà báo Huỳnh Kim Quang và nhà văn Vĩnh Hảo.
Vào lúc 10 giờ sáng Thứ Bảy ngày 14 tháng 08 năm 2021 tại hội trường Thành Phố Westminster, 8200 Westminster Blvd CA 92683, Liên Đoàn Hướng Đạo Lam Sơn, Miền Tây Nam Hoa Kỳ tại Nam Cali đã tổ chức lễ trao Đẳng Thứ Hướng Đạo Đại Bàng (Eagle Award) cho các em Minh Trung Nguyễn, Clement Nguyễn, Andrew Nguyễn, Dylan Phạm, Nam Ngô, Tùng Trần, Preston Nguyễn, Nathan Nguyễn, và Ryan Dương.
Đơn vị Taliban hải ngoại ở Pakistan (TTP) đã chúc mừng quân Taliban đã chiếm hoàn toàn Afghanistan, chỉ trừ sân bay Kabul để quân Mỹ từ từ di tản, nói đây là chiến thắng chung của Hồi Giáo. Mohammad Khorasani, phát ngôn nhân TTP, gửi bản văn lập lại sự hỗ trợ cho Taliban Afghanistan, và hứa "hỗ trợ và tăng sức mạnh cho Tiêu Vương Quốc Hồi Giáo Afghanistan (Islamic Emirates of Afghanistan).
Nhận định của một số giới chức quân sự và chính trị cho đó là thất bại về tình báo từ phía Hoa Kỳ đã đánh giá sai về bộ đội cộng sản Bắc Việt trong chiến tranh Việt Nam, nay lại sai về quân Taliban ở Afghanistan khiến Mỹ phải vội vàng di tản. Hình ảnh máy bay trực thăng di tản người Mỹ và những người đã hợp tác với Hoa Kỳ ra khỏi Sài Gòn cuối tháng Tư 1975 và ngày 15/8 vừa qua ra khỏi Kabul sẽ còn in dấu trong tâm thức người Mỹ và dư luận thế giới trong nhiều năm.
“Đây là điều tôi tin vào cốt lõi của mình: Là sai lầm để ra lệnh cho binh sĩ Mỹ bước tới khi chính quân đội của Afghanistan thì không,” theo Biden phát biểu trong bài nói chuyện của ông trước quốc dân hôm Thứ Hai. “Còn bao nhiêu thế hệ của con gái và con trai nước Mỹ mà bạn muốn tôi gửi họ đi chiến đấu cho cuộc nội chiến của Afghanistan? Tôi sẽ không lập lại những sai lầm mà chúng ta đã làm trong quá khứ.”
“Bao lâu còn có thể, quân đội Đức sẽ bốc càng nhiều người càng tốt ra khỏi Afghanistan và duy tri cầu không vận,” theo bà nói, cho biết thêm rằng điều này tùy thuộc vào ước muốn của Hoa Kỳ duy trì việc mở cửa phi trường. Không có chuyến bay di tản nào rời khỏi phi trường Kabul vào lúc này bởi vì những người tuyệt vọng cố chạy thoát khỏi nước đã vây kín phi đạo, theo một phát ngôn viên cho bộ ngoại giao Đức cho biết tại cuộc họp báo thường kỳ của chính phủ hôm Thứ Hai.
Chính phủ liên bang hôm Thứ Hai, 16 tháng 8 năm 2021 đã tuyên bố thiếu nước trên Sông Colorado River lần đầu tiên, đưa tới việc cắt giảm tiêu thụ nước cho nhiều tiểu bang tại Miền Tây Nam Hoa Kỳ, khi hạn hán do biến đổi khí hậu gây nên thúc đẩy mực nước tại Hồ Lake Mead xuống tới mức thấp chưa từng thấy, theo CNN tường thuật hôm Thứ Hai. Hồ Lake Mead, hồ chứa nước lớn nhất tại Hoa Kỳ tính theo dung lượng, đã cạn tới mức báo động trong năm nay.
Một người phụ nữ trẻ Trung Quốc nói rằng cô đã bị giam giữ 8 ngày tại một cơ sở giam giữ bí mật do TQ điều hành tại Dubai cùng với ít nhất 2 người Duy Ngô Nhĩ, trong cái mà là chứng cứ đầu tiên rằng TQ đang hoạt động cái được gọi là “nhà tù đen” bên ngoài biên giới của họ, theo bản tin của Hãng Thông Tấn Mỹ AP tường thuật hôm Thứ Hai, 16 tháng 8 năm 2021.
Trong hoàn cảnh đó, chính quyền của TT Joe Biden vừa đưa ra lời kêu các công dân Mỹ có lòng nhân đạo, hãy tiếp tay bảo trợ những người tỵ nạn khốn khổ Afghanistan. Chúng tôi xin kính chuyển lời kêu gọi đó đến với cộng đồng người tỵ nạn Việt Nam. Nếu quý vị nào ở trong hoàn cảnh thuận tiện và có đủ khả năng xin hãy ra tay cứu giúp bằng cách nhận bảo trợ dù chỉ một người hay một gia đình người A Phú Hãn. Họ đang lần lượt được di tản và sẽ đến HK trong một ngày gần đây, với số lượng ước tính khoảng 30 ngàn người.
“Nguồn gốc của sự kiện ngày hôm nay bắt nguồn từ những ngày đầu tiên của các hoạt động quân sự thiếu cân nhắc trong việc điều hành, sau sự kiện 9/11 tại Hoa Kỳ. Chúng ta không thể chiến tranh mãi mà không có hy vọng rút quân. Tôi tin rằng kết thúc cuộc chiến là một chính sách đúng, tuy nhiên khi làm như vậy, chúng ta không thể bỏ rơi những người dân vô tội.”
Tác giả Lê Chiều Giang vừa phát hành Không Đứng Mãi Trong Tranh. Tác phẩm dày 164 trang, vừa văn xuôi, vừa thơ. Độc giả sẽ thấy trong sách ngập tràn những quá khứ, như nhận định của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ, “…đọc Lê Chiều Giang, những dòng chữ chảy lui về quá khứ. Một quá khứ không thể nào không nhắc về, nhớ tới… Những quá khứ của thời đã ‘Chết đi, sống lại’.” Đúng ra, quá khứ chỉ là một phần, vì tác giả Lê Chiều Giang vẫn còn trên cõi này, còn đọc và còn viết. Và trong sách, có những bài được viết rất gần đây. Tác phẩm như dường rất mong manh, như mơ, như thực… Ngay nơi nhan đề sách đã là một hình ảnh của một chân trời cổ tích, “Không Đứng Mãi Trong Tranh.” Bạn có thể nhớ tới một tích cổ trong thời nhà Trần ở thành Thăng Long, chàng thư sinh Tú Uyên say mê thiếu nữ trong tranh, và trong một lần nàng bước ra khỏi tranh đã bị chàng nắm tay giữ lại cõi này. Có phải chuyện của người xưa ở phường Bích Câu cũng là chuyện đời nay của Sài Gòn
Lâu lắm rồi, Hồng Y Nguyễn Văn Thuận giảng ở San Diego: - Việt Nam có 84 triệu mỏ than. Người không hiểu tự hỏi: Việt Nam có 84 triệu mỏ than thì nước Việt Nam giàu quá, nếu những mỏ than này mà khai thác hết thì nước Việt Nam giàu lắm, giàu lắm. Nhưng sau này hiểu ra thì không phải là "mỏ than" mà là người Việt Nam hay than, giàu nghèo gì cũng than, còn thiếu 1 ngàn đồng thành 1 triệu cũng than.
Trên Bloomberg Opinion ngày 26 tháng 04 năm 2021, một trong hai tác giả là Cựu Đô đốc James G. Stavridis, trình bày kịch bản này trong bài “Four Ways a China-US War at Sea Could Play Out” mà bản dịch sau đây sẽ giới thiệu. Theo Stavridis,“bốn điểm nóng” mà Hải quân Trung Quốc có khả năng tấn công là eo biển Đài Loan, Nhật Bản và Biển Hoa Đông, Biển Hoa Nam và các vùng biển xa hơn xung quanh các nước Indonesia, Singapore, Australia và Ấn Độ. Nhưng nguy cơ cao nhất là Đài Loan.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.