Hôm nay,  

Kim Vũ Và Thế Giới Thơ Văn Triết Hoạ

13/03/202619:52:00(Xem: 572)

KIM VŨ VÀ THẾ GIỚI THƠ VĂN TRIẾT HOẠ
 

Kim Vũ
  

(Lời giới thiệu của Phan Tấn Hải: Kim Vũ là một nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu đã có hơn 20 tác phầm bằng tiếng Anh, tiếng Việt. Ông nguyên là kiến trúc sư, rồi thông dịch viên, và cũng từng là một ứng cử viên [thất bại] cho một ghế thị trưởng ở California. Tập thơ tiếng Anh Revelation của Kim Vu vừa được nhà Vanguard Press ấn hành. Bạn có thể đặt mua ở đây:
https://pegasuspublishers.com/books/poetry/revelation 
Hoặc liên lạc trực tiếp tới nhà thơ Kim Vũ: [email protected].
Trong cương vị một nhà báo có cơ duyên quan sát các sinh hoạt văn nghệ của công đồng nhiều thập niên, tôi luôn luôn kinh ngạc về những tác phẩm đầy khám phá của nhà thơ Kim Vũ, Như dường Kim Vũ luôn luôn bước tới được những chân trời mới để sáng tác. Xin trân trọng giới thiệu. Sau đây là bài tự thuật của Kim Vũ.)
  
blank

Hình: nhà thơ Kim Vũ (phải), nhà báo Phan Tấn Hải (trái) một ngày đầu tháng 3/2026.
 

.... o ....

KIM VŨ VÀ THẾ GIỚI THƠ VĂN TRIẾT HOẠ
 

Kim Vũ


Tôi bắt đầu học đệ Thất Trung học tại Hà Nội năm 1952. Năm đệ Lục, có ông thầy dạy Pháp văn (thầy Hưng) rất thích thơ, có dịp dạy thế vài giờ cho một thầy khác, đã giới thiệu những bài thơ nổi tiếng thời tiền chiến, trong đó có một trích đoạn thơ Huy Cận mà tôi còn nhớ đến bây giờ:
 

Âm dương chưa hề mệt
Bên đường hoa nở tươi
Biển vang triều chảy liệt
Sóng rủ nhau đi bát ngát cười.
 

Theo cha mẹ vào Nam năm 1954, học tiếp tại trường Nguyễn Trãi cho đến khi chuyển qua trường Chu văn An năm học đệ Tam, tuy chọn ban B chuyên Toán, tôi vẫn thích văn thơ và theo dõi sát những sinh hoạt của nhóm Sáng Tạo do Mai Thảo chủ trương. Một giọng thơ mới nổi lên rất lạ là Thanh Tâm Tuyền, được ca tụng như một hiện tượng, nhưng cũng bị nhiều người chê bai. Có một đoạn thơ phá thể so với giọng thơ tiền chiến mà tôi rất thích với mấy câu như sau:

Vứt mẩu thuốc cuối cùng xuống dòng sông
Mà lòng mình phơi trên kè đá
Con thuyền xuôi
Trời không xanh không trắng không hồng
Những ống khói tầu mệt lả.

Được tắm gội trong một nền giáo dục dân tộc, nhân bản và khai phóng bắt đầu do Bộ Trưởng Giáo Dục Hoàng Xuân Hãn trong nội các Trần Trọng Kim được vua Bảo Đại thành lập vào tháng 3 năm 1945, tôi trân trọng và yêu mến nền văn học đích thực của dân tộc, tuy không chọn ban A chuyên về văn chương, nhưng cũng vẫn tìm đọc và thưởng thức những bài thơ hay. Lúc đó có Nguyên Sa nổi lên với tập thơ tình mà bọn trẻ chúng tôi rất thích, với những bài như “Áo Lụa Hà Đông”, “Paris có gì lạ không Em”, “Nga” ‘buồn như con chó ốm’… và đặc biệt Phạm Duy phổ mấy bài thơ tình của Cung Trầm Tưởng kể chuyện tình yêu với mấy cô gái Pháp ‘tóc vàng sợi nhỏ’, đem đến không khí Paris diễm lệ gây cho chúng tôi những cảm hứng đặc biệt và ước vọng đi du học nước ngoài.

Được học bổng USAID qua Hoa Kỳ theo học ngành Kiến Trúc trong 5 năm, tôi lại tìm thấy cơ hội mới đi sâu vào nền triết học phương Tây sau khi đọc cuốn “The Story of Philosophy” của Will Durant.

Về lại Việt Nam năm 1964, theo thời thượng, tôi đọc Sartre “Buồn Nôn”, “Những Bàn Tay Bẩn”, Camus với “La Peste”, “La Chute”, “l’Étranger”, “L’homme Révolté” vv. Tôi cũng lại có dịp đến với văn chương Việt qua “Khu Rừng Lau”, bộ trường thiên tiểu thuyết của Doãn Quốc Sỹ, kể về thời kỳ chiến tranh Việt Pháp, cảnh tản cư, rồi di cư vào Nam trong giai đoạn chia đôi đất nước. Tôi đặc biệt xúc dộng và thâm cảm một đoạn văn nơi cuối cuốn thứ hai gọi là “Người Đàn Bà bên kia Vỹ Tuyến”, tả mối tình đẹp đến não nùng giữa Vân và Kha trong không khí chia ly vì thời cuộc. Trong lòng tôi khơi dậy một tình yêu văn chương sâu đậm, được thể hiện trong bút ký ngắn có tên là “Bảy Bức Thư từ Quân Trường Đồng Đế”, viết trong lúc được huấn luyện quân sự tại Nha Trang sau biến cố Mậu Thân năm 1968.

Một hôm gần Tết ta khoảng năm 1970, tôi đột hứng làm bài thơ như sau:
 
CHÚC TẾT

Đừng chúc tôi
năm mới
bạc lắm tiền nhiều
thành công thắng lợi
có người yêu
đời tươi như mai vàng trong nắng mới.

Cũng đừng chúc tôi
mọi điều như niềm mong đợi
vì tôi nào biết lòng tôi
bơ vơ giữa muôn ngàn vồn vập gọi mời.

Hãy chúc tôi
sống gập đời người
trong vui buồn mừng giận gặp dời
đau thương hoà hạnh phúc
nước mắt hợp nụ cười
để thấy rằng cuộc đời
ngọt ngào
êm ái
ngút ngời
và ôi sâu thăm thẳm.

Năm 1972, tôi được sở cho đi tu nghiệp về ngành “Hoạch Định Phát Triển Vùng” (Regional Development Planning) tại Institute of Social Studies nơi thủ đô Den Haag (The Hague tiếng Anh, La Haye tiếng Pháp) của Hoà Lan. Một hôm đi qua một tiệm sách, tôi thấy có bầy bán một cuốn sách in khổ lớn rất mỹ thuật có tên là “Tao Teh Ching”, tôi mua về, và sau đó mới khám phá ra đó chính là bản dịch Anh ngữ của “Đạo Đức Kinh” do Lão Tử để lại.

Sau 1975, tôi kẹt lại ở Việt Nam 16 năm, đã trải qua một thời kỳ khủng hoảng tinh thần khá nghiêm trọng, và do đó có duyên may hiếm có dẫn đến Phật pháp, được giải toả hoàn toàn bế tắc tinh thần, và từ đó mải mê tìm hiểu thêm về nền minh triết “không thể nghĩ bàn” mà Phật Thích Ca đã truyền lại cho nhân gian. Đồng thời, tôi cũng có cơ hội hồi tưởng những kinh nghiệm trong cuộc sống của mình cho đến thời điểm đó, và bắt đầu ngồi xuống viết một loạt những truyện khá ngắn trong một thể loại mới mà tôi chế ra gọi là “truyện mini”, cô đọng hơn rất nhiều so với loại truyện ngắn thông thường, nghĩa là có rất ít tình tiết, chỉ là thoáng một giây phút nào đó đã trôi qua làm cho mình hồi tưởng chuyện xưa và ghi lại suy ngẫm về cuộc đời. Tôi viết được cũng khoảng bốn mươi truyện như thế.

Cuối cùng được em trai bảo lãnh qua Hoa Kỳ năm 1991, tôi lại có dịp đi vào thế giới hội hoạ mà tôi yêu thích từ thuở nhỏ khi thực hiện những bức tranh trong một thể loại chưa từng có mà tôi chế ra, gọi là “Zen Tantric”, cho thấy nét đẹp nghệ thuật nơi động tác tự nhiên nhất và đắm say nhất trong sự biểu hiện tình cảm lứa đôi, làm nổi bật cái mơ hồ gợi cảm và óc tưởng tượng thay vì quá hiện thực đến dung tục, có thể thấy khi đi vào chi tiết đời thường, làm mất hẳn tính cách lung linh của nghệ thuật “Strip tease”.

Rồi đến năm 1996, gặp lại người bạn cũ thuở xưa trong một chuyến du lịch dài ngày qua nhiều phong cảnh tại Âu châu, tôi tràn đầy cảm hứng và viết được nhiều bài thơ tiếng Anh trong liên khúc “European Suite 1996”, và cùng một số bài thơ khác về nhiều đề tài và lãnh vực khác nhau, tôi hoàn tất tập thơ “REVELATION”, gửi đi rất nhiều nơi để thử thời vận nhưng không đưa đến kết quả nào. Đồng thời, tình cảm đến cùng người bạn cũ đã đem lại cho tôi hứng thú vô bờ, và vào tuổi xấp xỉ lục tuần, tôi lại hồi tưởng chuyện xưa, quay về những phác thảo và hoàn thành nhiều bài thơ lãng mạn “cực kỳ” làm chính tôi cũng phải ngạc nhiên. Đồng thời, tôi cũng bắt đầu công việc phiên dịch ra Anh ngữ những tác phẩm thơ Việt mà tôi yêu thích qua các thời đại, với ước vọng giới thiệu đến độc giả nói tiếng Anh ở phương Tây cũng như các thế hệ trẻ Việt Nam sinh ra và lớn lên trên toàn thế giới muốn tìm hiểu về những tinh hoa của nền văn hoá Việt. Cũng do sự khuyến khích của “bà xã” mà từ năm 2001, tôi lần lượt tự xuất bản mỗi năm ít nhất là một tác phẩm về văn, thơ, dịch, và triết qua lăng kính Phật giáo.

Khoảng năm 2002, tôi liên lạc với BookBaby phát hành tập thơ “Flora” trên internet nhưng không vừa lòng với cách thực hiện của nhà xuất bản On Line này.

Rồi vào năm 2010, tôi bước vào thể loại “du ký” với “Những Năm Tháng Tuyệt Vời”, kể lại những cuộc viễn du tới nhiều nơi trên thế giới cùng “bà xã”.

Trong giai đoạn sau 2010, tôi lại có dịp đi vào một lãnh vực tìm hiểu mới nữa, đó là Vật Lý Lượng Tử, bắt đầu từ Max Planck, và kết thúc với “Hạt Sáng Thế” (the God Particle) với Peter Higgs của Đại Học Edinburgh thuộc Scotland bên Anh.

Năm 2015, tôi thực hiện một tác phẩm thơ với nhiều hình chụp mầu mỹ thuật do tôi thực hiện có tên “Cho Valentine của Anh”.

Về hưu năm 2016 sau khoảng 15 năm làm thông dịch và phiên dịch viên tại Bệnh Viện và các Bệnh Xá Stanford ở Palo Alto, tôi được rộng rãi thời gian để tập trung vào việc sáng tác và phiên dịch thơ văn, một công việc mà tôi vô cùng ưa thích.

Năm 2019, tôi bắt đầu đưa những tác phẩm Anh ngữ đã hoàn thành lên Amazon, gồm hai tập thơ và một tác phẩm Triết có tên là “Panpsychism” gom lại 3 tác phẩm ngắn hơn về tư tưởng phương Tây và minh triết Phật giáo, đề ra một lối sống an bình cho chính mình giữa thời tao loạn khắp nơi. Đồng thời cũng hoàn thành một tác phẩm nữa có tên “Tâm là gì?” (What is Psyche?) bằng tiếng Việt cũng như Anh ngữ, giới thiệu ý niệm trung tâm của Phật pháp mà thế giới phương Tây không dám đụng tới, triển khai ở mức độ siêu đẳng nhất của khoa Vật Lý Lượng Tử và Lý Thuyết Dây mà các nhà bác học như Stephen Hawking đã có tham vọng từ đó đề ra một “Lý Thuyết Bao Trùm” (the Theory of Everything) giải thích toàn bộ vũ trụ và thiên nhiên từ suy tư vật lý đơn thuần.

Tôi cũng hoàn thành một số tài liệu về Phật pháp đã in hoặc còn trong dạng bản thảo và chưa có dịp phổ biến rộng rãi đến quần chúng như “Chân Như” (1999), “Ân Đức Sinh Thành” (2014), “Ngũ Giới, Ba Bài Kinh Phật dạy Người Tại Gia” (2014) vv.

Trong hai năm 2023 và 2024, tôi đã hoàn thành ba dịch phẩm từ Việt ngữ sang tiếng Anh. Đầu tiên là “After the War” (Sau Cuộc Chiến) dịch ba câu chuyện xảy ra sau năm 1975 tại Việt Nam. Sau đó là “Daddy, I đon’t Want to be a Communist” (Ba, Con Không Muốn Là Người Cộng Sản) kể lại cuộc đời Trần Ngọc Ánh. Cuối cùng là “The Sound of a Suffering Land” (Âm Vọng từ Miền Đất Khổ) dịch 8 truyện ngắn của Phan Nhật Nam.

Cũng trong năm 2023, tôi cho ra đời một tác phẩm khá lạ thường gọi là “đa hệ bút” (literary crossover) có tên là “PHA LÊ” (Crystal) gồm thơ, thơ dịch, truyện mini, tiểu luận, và cuối cùng là tranh vẽ.

Trong suốt thời gian dài, tôi vẫn tiếp tục cố gắng gửi đi những tác phẩm đã viết hoặc chuyển qua Anh ngữ đến các nhà xuất bản, cũng như qua các agent khắp nơi, nhưng cũng chẳng đưa đến kết quả gì. Mãi cho đến năm 2024 thì mới có một nhà xuất bản bên Anh chú ý và đề nghị in tập “REVELATION”. Cũng phải mất 2 năm tiếp theo thì tập thơ mới được chính thức ra mắt vào ngày 26 tháng 2 năm 2026. Hình thức tập thơ này vô cùng mỹ thuật làm tôi thật hài lòng. Đây là ‘cover blurb’ giới thiệu bằng tiếng Anh in nơi bìa sau cuốn sách:

“Revelation” is a mesmerizing tapestry of poetry, travelogue, and philosophical musings that dances between the sensual and the sublime. From the intoxicating allure of love scenes to the melancholic beauty of European landscapes, this collection captures life’s fleeting moments with raw honesty and lyrical grace. From the sun-drenched beaches of Nice to the rain-kissed streets of Paris, each locale is a backdrop for longing and revelation. Interwoven with sharp existential reflections, the work challenges perception, love, and creation itself. Playful yet profound, the “Tweet of the Day” snippets distill joy and sorrow into fleeting truths, while the eroticism of Rodin and Courbet mirrors the book’s celebration of flesh and spirit. A hymn to art, passion, and the ephemeral nature of existence, Revelation is a testament to the beauty of being alive, urging readers to savor every heartbeat, every touch, every whispered verse of the universe.
blank
Dịch ra tiếng Việt như sau:
“Revelation” là một bức tranh mê hoặc được dệt nên từ thơ ca, nhật ký du hành và những suy tư triết học, đan xen giữa sự gợi cảm và vẻ đẹp siêu phàm. Từ sức quyến rũ say đắm của những cảnh yêu đương đến vẻ đẹp u sầu của những phong cảnh châu Âu, tuyển tập này nắm bắt những khoảnh khắc thoáng qua của cuộc sống với sự chân thành mộc mạc và vẻ duyên dáng trữ tình. Từ những bãi biển ngập nắng ở Nice đến những con phố đẫm nước mưa ở Paris, mỗi địa điểm đều là bối cảnh cho nỗi khát khao và sự khám phá. Được đan xen với những suy ngẫm hiện sinh sắc bén, tác phẩm thách thức nhận thức, tình yêu và chính sự sáng tạo. Vui tươi nhưng sâu sắc, những đoạn trích "Tweet từng ngày" chắt lọc niềm vui và nỗi buồn thành những sự thật thoáng qua, trong khi chủ nghĩa khoái lạc của Rodin và Courbet phản ánh sự tôn vinh thể xác và tinh thần của cuốn sách. Là một bài ngợi ca nghệ thuật, đam mê và bản chất phù du của sự tồn tại, Revelation là minh chứng cho vẻ đẹp của cuộc sống, thôi thúc người đọc trân trọng từng nhịp đập, từng cái chạm, từng câu thơ thì thầm của vũ trụ.
.
Ngay sau đó, không hiểu do đâu, một nhà xuất bản tại Mỹ có tên là Archway, một chi nhánh ‘imprint’ của Simon & Schuster liên lạc, và chỉ cần chưa đầy một tháng sau, chấp nhận xuất bản một tập thơ mới của tôi có tên là “REALLY?” gồm nhiều bài thơ mang mầu sắc Thiền học nhưng với cái hồn hoàn toàn mới, rút cảm hứng từ những công án Thiền của Nhật Bản và Trung Hoa cũng như tinh chất của Trang Tử Nam Hoa Kinh. Đồng thời cũng có những bài dí dỏm về tuổi già, tình yêu và phê bình triết học Sartre, góp ý với Pascal, cũng như kết nối John Lennon với đạo học phương Đông.
 

Như vậy, hy vọng không lâu nữa, “REALLY?” sẽ ra đời, góp mặt với thế giới thơ thời “toàn cầu hoá”, biết đâu có thể khơi dậy lại sự chú ý đến thi ca như một đỉnh cao của sáng tạo con người, đã tắc nghẽn từ hơn nửa thế kỷ nay, kể từ thời “Howl” của Allen Ginsberg vào thập niên ’50 của thế kỷ trước tại Hoa Kỷ đã lay động thế giới thi ca, và sau đó là một thời gian dài ca nhạc thời trang đã làm tan hoang truyền thống thi ca với những bài thơ không vần vô hồn mà không ai thèm để tâm tới.
 

Sơ kết, cho đến nay, tôi đã có hơn 20 tác phẩm Việt, Anh và song ngữ ra mắt người đọc, và lần đầu tiên được một nhà xuất bản bên Anh chiếu cố, với triển vọng một tác phẩm ra mắt ngay tại Hoa Kỳ trong thời điểm không xa.
 
Trong thời gian sắp tới, tôi hy vọng có thể thử sức mình ở những năm cuối đời khi bắt đầu một ý định “điên rồ” là một trường thiên tiểu thuyết về lịch sử mang dấu ấn “nghìn người viết”, một điều mà tôi tha thiết muốn làm, và nếu có duyên may, biết đâu có thể hoàn thành làm quà cho thế gian trước khi giã từ “Planet Earth” này để tiếp tục vui bước trên đường tu học trong một kiếp mới.

Kim Vũ



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
nhà báo kỳ cựu Don Oberdorfer trên tờ Washington Post ngày 3/3/1987 nhấn mạnh lời tuyên bố của trưởng đoàn IRAC: “Chúng tôi (người tị nạn) vẫn bị coi là một vấn đề cần giải quyết. Nay chúng tôi nhất định sẽ góp phần vào giải pháp.”
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Chết phải là một chuyến du lịch tuyệt vời vì chưa có một ai đã trở về!(“La mort doit être un beau voyage puisque personne n'en est revenue”). Thông thường trong những dịp Tết, người đời thường chúc tụng lẫn nhau sống thọ đến trăm tuổi. Không phải ai muốn chết lúc nào là chết được đâu. Phải tới số mới chết. Trời kêu ai nấy dạ mà Sống quá thọ có tốt, có cần thiết không? Không có ai nghĩ giống ai hết. Đặt câu hỏi như trên có thể làm nhiều người cảm thấy khó chịu, nhưng đó là sự thật. Tuổi thọ (longévité) trong điều kiện sức khoẻ bình thường, không ngừng gia tăng thêm lên mãi tại các quốc gia kỹ nghệ giàu có... Sự gia tăng nầy thật ra phải được xem như là một sự kéo dài của tuổi trẻ (jeunesse) hơn là một sự kéo dài của…tuổi già (vieillesse). Tại sao chúng ta già? Tuổi thọ đến lúc nào sẽ dừng lại? Nhân loại đã đạt được đến mức nầy hay chưa?
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Vào lúc 5:00 giờ chiều Chủ Nhật 26/04/2020, Hòa Thượng Thích Phước Tịnh đã có buổi nói chuyện trên mạng lần thứ hai với nhóm Phật tử Giớ Trẻ Mây Từ, với chủ đề những điều Phật tử nên làm trong mùa đại dịch COVID-19 đang tiếp tục hoành hành.
New York bị thiệt hại nặng nề hơn bất cứ khu vực nào tại Hoa Kỳ bởi đại dịch vi khuẩn corona tính đến nay, 26 tháng 4, và ác mộng của tiểu bang vẫn còn chưa hết. Hôm Thứ Bảy, 25 tháng 4, có 5,902 người đã thử nghiệm dương tính với vi khuẩn corona, và trong khi đó là sự sút giảm từ cao điểm của tiểu bang (khi một ngày chứng kiến hơn 10,000 người thử nghiệm dương tính), tiểu bang này vẫn còn nhiều trường hợp bị lây mới hơn 25 tiểu bang đã bị trong tổng số hơn 3 tháng kể từ vụ lây lan của vi khuẩn vào Mỹ bắt đầu.
Nam Hàn tiếp tục đổ nước vào suy đoán gia tăng về sức khỏe của lãnh đạo Bắc Hàn Kim Jong Un, nói với CNN rằng ông ấy “còn sống và khỏe.” “Lập trường của chính phủ chúng tôi là vững vàng,” theo Moon Chung-in, cố vấn hàng đầu về chính sách đối ngoại cho Tổng Thống Nam Hàn Moon Jae-in, nói với CNN. “Kim Jong Un còn sống và khỏe. Ông ấy đã và đang ở tại khu vực Wonsan kể từ ngày 13 tháng 4. Không có biến đổi gì đáng nghi ngờ tính đến nay được phát hiện cả.”
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Hiện nay đã có 10 nước trong đó có Hoa Kỳ, Anh Quốc, Úc Châu, và Canada đang bàn tính đưa đơn kiện Trung Cộng phải chịu trách nhiệm về những hành động xấu xa của họ (Chinese government to pay for their malign actions). Việc đòi bồi thường nay thực ra chỉ là con số tượng trưng vì thực tế chưa có một thống kê nào liệt ra được tổn thất về kinh tế, tài chánh, đời sống tinh thần vật chất của 210 nước đang có người bị nhiễm bệnh này lên đến bao nhiêu ngàn ngàn tỷ USD. Đó là chưa kể đến thiệt hại về nhân mạng đã trên 2 triệu 200 ngàn người đang bị bệnh và gần 200 ngàn tử vong trên thế giới. Bởi vì sự thiệt hại nhân mạng quá lớn này, không thể ước tính số tiền như thế nào mới đền bù lại được những đau thương của người thân mất người thân trong suốt hơn bốn tháng qua.
Nước Mỹ hiện nay đã có chừng 50 ngàn người chết vì đại dịch Covid-19. Dịch đến trễ hơn nhiều nơi khác, nhưng Mỹ đã nhanh chóng trở thành quốc gia với số người bị nhiễm cũng như tử vong cao nhất thế giới. Phản ứng của chính phủ Mỹ thay đổi theo đà tăng của đại dịch. Trong khoảng hai tháng, Tổng thống Trump tỏ ra lạc quan và không cho đây là nguy cơ. Đột nhiên, khi dịch đã gia tăng đến mức không chối cãi được nữa, chính phủ vội vã phản ứng. Người ta khám phá là nước Mỹ khắp nơi bị thiếu thốn trầm trọng phương tiện để chống dịch, và số người chết tăng vọt.
Hôm Thứ Bảy, nhiều người ra biển chơi, bất kể lệnh cách ly. Carrie Braun, phát ngôn nhân Ty Cảnh Sát Quận Cam, nói chỉ đóng cửa các sân đậu xe bên bãi biển, nhưng không đóng cửa các bãi biển.
Hôm Thứ Bảy, 25 tháng 4 năm 2020, nhiều tin đồn xoay quanh việc nhà độc tài Bắc Hàn Kim Jong Un đã chết hay gần chết sau cuộc giải phẫu tim, với nhiều bản tin trích thuật từ Nhật và Trung Quốc. Phó giám đốc Đài Truyền Hình Vệ Tinh Hồng Kông HKSTV, hệ thống tại Hồng Kông có trụ sở tại Bắc Kinh, cho rằng Kim đã chết, trích “nguồn tin rất chắc chắn,” và đăng tải thông tin trên ứng dụng nhắn tin Trung Quốc Weibo khiến các phương tiện truyền thông xã hội xôn xao, theo báo International Business Times tường trình cho biết.
Tính tới Thứ Bảy, 25 tháng 4, số tử vong trên toàn cầu từ đại dịch vi khuẩn corona đã vượt hơn 200,000 trong khi nhiều quốc gia và một số tiểu bang tại Mỹ đang nới lỏng các hạn chế phong tỏa. New York là trung tâm đại dịch tại Hoa Kỳ, đã báo báo số người vào bệnh viện và thiệt mạng tiếp tục giảm, trong khi nhiều bác sĩ và chuyên gia trên thế giới cân nhắc việc thử nghiệm, điều trị và thuốc chủng ngừa. Theo CNBC hôm Thứ Bảy, cho biết, trên toàn cầu hiện có hơn 2.8 triệu trường hợp bị lây vi khuẩn corona, với 201,502 người thiệt mạng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.