Hôm nay,  

Có thể tái sinh như nguyện?

10/04/202614:03:00(Xem: 233)
blank

Có thể tái sinh như nguyện?
 

Nguyên Giác
 

Phật Giáo Tây Tạng nói rằng có nhiều trường hợp tái sinh như nguyện, và chuyện đó xảy ra rất bình thường. Nghĩa là, vị tôn giả đó không bị nghiệp lôi kéo, mà chính vị đó có thể chủ động được ý nguyện tái sinh để tiếp tục học pháp hay hoằng pháp. Thí dụ, ngài Đạt Lai Lạt Ma, hay một số vị tăng trưởng và ni trưởng đã có năng lực tâm mạnh như thế. Và khi có một vị tôn túc Phật Giáo Tây Tạng được nói là tái sinh tới hoẳng pháp tại Việt Nam, câu chuyện này lại sôi nổi dư luận. Câu hỏi chúng ta nêu ra trong bài này là: Trong các kinh sơ kỳ -- trong các tạng Kinh Nikaya và Kinh A Hàm -- đã nói như thế nào về các trường hợp tái sinh như nguyện?
 

Chúng ta có thể thấy các Kinh Bản Sanh (Jataka) trong nhóm Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikaya) đã ghi lại nhiều kiếp trước của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, cho thấy một chúng sinh hữu tình (vị Bồ Tát) chủ động lựa chọn các kiếp tái sinh nhằm hoàn thiện những phẩm hạnh Ba-la-mật cụ thể để rồi sau cùng thực hiện sứ mệnh giáo hóa thế gian. Tuy nhiên, phần rất lớn trong Kinh Bản Sanh được viết xuống vào khoảng ba thế kỷ sau khi Đức Phật viên tịch, cho nên có thể có một phần sai lạc vì trí nhớ truyền lại không chắc là chính xác.
 

Dò lại kinh trong các bộ Nikaya tiếng Pali và Agama tiếng Hán, chúng ta thấy Đức Phật nói rằng sự tái sinh thường được mô tả là do nghiệp và sự tham ái chi phối. Tuy nhiên, có một số trường hợp cụ thể mà Đức Phật mô tả cách một người có thể định hướng sự tái sinh của chính mình thông qua ý chí (cetana) và nguyện vọng (patthana), với điều kiện là họ đã có sẵn nền tảng tu dưỡng đạo đức cần thiết.
 

Chúng ta thấy rằng, Đức Phật dạy trong Kinh AN 4.55 về trường hợp hai vợ chồng muốn kiếp sau cũng gặp lại nhau thì phải tu dưỡng tương đồng, theo bản dịch của Thầy Minh Châu, trích:

Vậy này các Gia chủ, khi cả hai vợ và chồng muốn thấy mặt nhau trong đời này, và cũng muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa, và cả hai người là đồng tín, đồng giới, đồng thí, đồng trí tuệ, thời trong đời hiện tại, các người được thấy mặt nhau, và trong đời sau, các người cũng được thấy mặt nhau.”(1)
 

Như thế, cho dù là cư sĩ, hai vợ chồng này cũng  phải có năng lực tu dưỡng để cùng có tín tâm vào Tam Bảo, cùng giữ giới luật nghiêm túc (bản dịch Bhikkhu Bodhi: same virtuous behavior), cùng có tâm bố thí cúng dường rộng rãi (same generosity), và cùng đẳng cấp trí tuệ (same wisdom) thì kiếp sau hai người sẽ gặp nhau nơi cõi trời (delighting after death in a deva world). Chứ không phải gặp nơi cõi người, bởi vì tín, giới, thí, tuệ siêu đẳng như thế tất nhiên là lên cõi trời gặp nhau.

 Trong Kinh MN 120, Đức Phật cũng dạy cụ thể về tái sinh như nguyện để một người có thể trong kiếp sau được sinh vào một cảnh giới mà người đó muốn  --- Kinh MN 120 ghi rõ lời Đức Phật dạy cho người muốn tái sinh vào trong đại gia tộc Sát đế lỵ, hay trong đại gia tộc cư sĩ, hay trong các cõi chư Thiên, hay sẽ giải thoát ngay trong kiếp này.
 

Đức Phật dạy trong Kinh MN 120, bản dịch của Thầy Minh Châu, trích: “Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ tín, đầy đủ giới, đầy đủ văn (suta), đầy đủ thí, đầy đủ trí tuệ. Vị ấy nghĩ như sau: “Mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ sanh cọng trú trong đại gia tộc Sát đế lỵ!” Vị ấy chuyên định tâm ấy, an trú tâm ấy, tu tập tâm ấy. Những hành ấy của Tỷ-kheo được an trú, tu tập, làm cho sung mãn như vậy đưa vị ấy thọ sanh tại chỗ ấy. Này các Tỷ-kheo, đây là đạo, đây là lộ trình đưa đến tái sanh tại chỗ ấy.” (2)
 

Đoạn văn trên. Tiếp theo, cũng lặp lại với ý nguyện muốn tái sinh nơi khác, nơi các cõi cao hơn, nơi các cõi trời, vân vân. Điều kiện là phải tu dưỡng tín, giới, văn, thí, tuệ.

Đức Phật cũng nói về các trường hợp tinh tấn tu học để kiếp sau sẽ tu thêm tới nơi giải thoát. Cụ thể, đó là các vị tinh tấn tu cho tới bậc Thánh quả Bất Lai (A na hàm). Thí dụ, trong hai Kinh AN 4.123 và Kinh AN 4.124, Đức Phật nói về các vị tu tới các bậc trong Tứ thiền. Nơi đây, chúng ta ghi lời Phật dạy trong Kinh AN 4.124, bản dịch Thầy Minh Châu:
 

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người ly dục, ly ác pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất. Ở đây, về các pháp thuộc sắc, thuộc thọ, thuộc tưởng, thuộc hành, thuộc thức, vị ấy tùy quán là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là bất hạnh, là bệnh hoạn, là hướng ngoại, là hoại diệt, là trống không, là vô ngã. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư Thiên ở Tịnh cư Thiên. Sự sanh khởi này, này các Tỷ-kheo, không có chung cùng với các hàng phàm phu.” (3)
 

Một trường hợp rất đặc biệt, nơi đây cho thấy có thể là cội nguồn của truyền thống Bắc Tông, khi lời đại nguyện được tuyên thuyết. Kinh AN 3.103, ghi lời Đức Phật kể lại về những kiếp trước, khi Ngài còn là Bồ Tát, Ngài đã khởi quyết tâm lúc đó là phải tu tới mức giác liễu vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, theo bản dịch Thầy Minh Châu, trích:
 

Này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa chánh đẳng giác, còn là Bồ-tát, ta suy nghĩ như sau: “Cái gì là vị ngọt ở đời? Cái gì là nguy hại, cái gì là xuất ly?”. Rồi này các Tỷ-kheo, về vấn đề ấy, tư tưởng sau đây khởi lên nơi ta: “Do duyên với đời, khởi lên lạc hỷ gì, đây là vị ngọt ở đời. Cái gì ở đời là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, đấy là nguy hại ở đời. Điều phục dục tham ở đời, đoạn tận tham dục, đấy là xuất ly ở đời”. Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào ta chưa như thật giác tri vị ngọt ở đời là vị ngọt, nguy hại là nguy hại, xuất ly là xuất ly, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, ta không có xác nhận Ta đã giác liễu vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cùng với thế giới gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.” (4)
 

Tuy nhiên, chúng ta không nên chấp rằng có một “cái tôi” hay một “cái tự ngã” nào trong hiện tượng tái sinh. Hãy hình dung như Kinh dạy rằng, khi lửa ngọn nến này tắt, lửa truyền sang ngọn nến khác, và hai ngọn lửa của ngọn nến trước và của ngọn nến sau không phải là một và cũng không phải là khác.

Trong Kinh Milinda Vấn Đạo (trong các bản dịch cổ tương tự, một bản phổ biến dịch là Kinh Na Tiên Tỳ Kheo), Trưởng lão Nagasena trả lời nhà vua về chuyện tái sinh, trích bản Việt dịch của ngài Bhikkhu Indacanda như sau:
 

Đức vua Milinda đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, người đi tái sanh thì cũng chính là người ấy, hay là người khác?”

Vị trưởng lão đã nói rằng: “Không phải là người ấy, mà cũng không phải là người khác.”

“Xin ngài cho ví dụ.”

“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Khi đại vương còn nhỏ, trẻ thơ, bé bỏng, nằm ngửa, có phải chính đứa bé ấy là đại vương hiện nay đã được trưởng thành?”

“Thưa ngài, không phải. Đứa nhỏ, trẻ thơ, bé bỏng, nằm ngửa ấy là khác, trẫm hiện nay trưởng thành là khác.”

“Tâu đại vương, trong khi là như vậy thì cũng sẽ không có người gọi là ‘mẹ,’ cũng sẽ không có người gọi là ‘cha,’ cũng sẽ không có người gọi là ‘thầy,’ cũng sẽ không có người gọi là ‘nghệ nhân,’ cũng sẽ không có người gọi là ‘bậc giới đức,’ cũng sẽ không có người gọi là ‘bậc trí.’ Tâu đại vương, phải chăng người mẹ của bào thai mới tượng là khác, người mẹ của bào thai thời kỳ thứ hai là khác, người mẹ của bào thai thời kỳ thứ ba là khác, người mẹ của bào thai thời kỳ thứ tư là khác, người mẹ của người con lúc bé là khác, người mẹ của người con trưởng thành là khác, người học nghề là người khác, người thạo nghề là người khác, người làm việc ác là người khác, người có tay chân bị chặt là người khác?”

“Thưa ngài, không phải. Thưa ngài, nếu được nói như vậy thì ngài có thể đáp lại điều gì?”

Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, chính tôi đã là đứa nhỏ, trẻ thơ, bé bỏng, nằm ngửa, chính tôi hiện nay đã được trưởng thành, tất cả các sự việc ấy được tổng hợp chung lại nương vào chính thân xác này.”” (5)
 

Nhìn chung, có nhiều trường hợp tái sinh như nguyện đã được nói trong các kinh sơ kỳ, thí dụ, như trường hợp vợ của Thái Tử Tất Đạt Đa (tên khai sanh của Đức Phật Thích Ca) là bà Da-du-đà-la (Yaśodharā) và tôn giả La Hầu La (Rahula) đều có mật nguyện tái sinh nhiều đời với Đức Phật.

Thực tế, không phải ai cũng có năng lực để tái sinh như nguyện. Đức Phật đã nói rằng muốn chủ động tái sinh như nguyện là phải tu ráo riết về tín, giới, thí, văn (học Chánh pháp), tuệ. Nhưng chắc chắn rằng đã có nhiều vị tái sinh như nguyện.
 

Nhiều thập niên trước, bổn sư của tôi là cố Hòa Thượng Tịch Chiếu (chùa Tây Tạng Bình Dương) dạy tôi rằng khi đi ra ngoài phố, ngay cả khi thấy một thiếu niên, cũng nên đối xử như gặp một vị đạo cao đức trọng tái sinh. Tôi vẫn luôn giữ thái độ đó với bất kỳ ai trong đời, ngay cả với những người đã từng làm tôi không vui. Không phải là hạnh phúc sao, khi tự thấy chúng ta đang đi đứng nói cười giữa những truyện được kể trong Kinh Phật.
 

GHI CHÚ:

(1) Kinh AN 4.55: https://suttacentral.net/an4.55/vi/minh_chau  

(2) Kinh MN 120: https://suttacentral.net/mn120/vi/minh_chau  

(3) Kinh AN 4.124: https://suttacentral.net/an4.124/vi/minh_chau   

(4) Kinh AN 3.103: https://suttacentral.net/an3.103/vi/minh_chau   

(5) Kinh MMilinda Vấn Đạo: https://suttacentral.net/mil3.2.1/vi/indacanda   

 

 



Vào những ngày đầu Xuân các hội đoàn, cộng đồng thường tổ chức những buổi tiệc tùng, hợp nhóm, hợp bạn…để đón Xuân và cũng để hoài niệm, nhớ thương về quê hương, đồng bào thân yêu còn bên kia chân trời xa thăm thẳm.
Một di sản văn hóa độc đáo của dân tộc Việt Nam vừa được Viện Việt Học trình bày trước công chúng: ấn hành tác phẩm “Tuồng Kim Vân Kiều: Truyện Kiều ở Nam Kỳ Lục Tỉnh” (Hồi 1/3) vừa được Giáo sư Nguyễn Văn Sâm phiên âm và giới thiệu
Phiên xử luận tội lần thứ 3 trong lịch sử Hoa Kỳ đã bắt đầu vào Thứ Năm, 16 tháng 1 năm 2020 giữa một loạt các cáo buộc mới về các thương lượng của TT Trump với Ukraine, mà nhiều nhà lập pháp Cộng Hòa đã vội vã hạ thấp mức độ quan trọng khi họ bác bỏ các lời kêu gọi của những nhà lập pháp Dân Chủ đòi điều tra thêm.
Trong vòng một thập niên qua, số lượng – và chiều kích – của viện bảo tàng, phòng trưng bày, hội chợ nghệ thuật, và trường nghệ thuật trên khắp thế giới đã gia tăng dữ dội, và người ta cảm thấy an tâm để nói rằng nhiều nghệ thuật đã được sáng tạo trong vòng 10 năm qua hơn bất cứ thời gian nào khác trong lịch sử nhân loại.
Nghệ sĩ không phải chỉ là người sáng tạo nên tác phẩm. Nghệ sĩ còn là kẻ sáng tạo nên bản thân mình. Không ngừng. Họa sĩ Võ Đình khằng định như vậy trong cuốn Mây Chó. Về cuối đời ông viết nhiều hơn vẽ. Sau 10 năm sống ở Pháp sang Mỹ năm 1960 qua nhiều tiểu bang, nơi đâu ông cũng thích ngụ ở vùng thôn dã.
Lời tòa soạn: Từ Franz Kafka đến Milan Kundera, hai nhà văn kiệt xuất của thế kỷ XX. Cả hai đều có chung một nền tảng văn hóa, một khảo hướng và một chủ hướng văn học: làm mới văn chương và dùng tiểu thuyết để nói những điều chỉ tiểu thuyết mới nói được. Cả hai đều để lại cho hậu thế những kiệt tác văn học, ảnh hưởng bao trùm gần như toàn thể nhân loại. Kafka sống vào đầu thế kỷ, Kundera vẫn còn tại thế dù năm nay, 2020, đã trên 90 tuổi. Việt Báo hân hạnh gửi đến độc giả Việt bốn phương ít dòng tiêu biểu của hai nhà văn lừng lẫy này qua phần chuyển ngữ và giới thiệu của dịch giả Trịnh Y Thư.
Nhà văn Dương Hùng Cường sinh ngày 1/10/1934 tại Hà Nội. Ông gia nhập Không quân và học về cơ khí tại Pháp năm 1953. Ông là hạ sĩ quan phục vụ ở nhiều đơn vị từ 1955, đến những năm 1960 mang cấp bậc Chuẩn úy, làm việc tại Phòng Tâm lý chiến, Bộ Tư lệnh Không quân VNCH.
Một đất nước mà chính quyền bao che cho quan chức từ cao xuống thấp cướp đất của dân để trở thành quốc nạn là điều bất hạnh cho dân tộc, và hiện tượng này đã không dừng ở đó mà còn đi xa hơn nữa để biến nó thành mối hận thù giữa dân oan và nhà nước như trường hợp xảy ra trong tuần qua tại xã Đồng Tâm.
Nhân dịp Xuân Canh Tý Chùa Phật Tổ có liên lạc được với building gần Chùa khoảng 2 Miles, Phật tử có thể đậu xe tại 1305 E . Pacific Coast Highway, Long Beach, CA 92806 lot # 1 Mỗi xe trả lệ phí $2.00 và sẽ có xe đưa đón đến chùa vào những ngày 25, 26 tháng 1 và 1, 2, 8, 9 tháng 2. Rất mong Quý Phật Tử hoan hỉ cảm thông cho sự bất tiện về đi lại và kính mời quí vị về Chùa đón Xuân Canh Tý 2020. LL (562) 599-5100.
Hàng ngàn năm trước, một người phụ nữ trẻ thời Đồ Đá Mới mà hiện nay nằm ở nước Đan Mạch đang nhai một miếng nhựa cây thông. Phân tích DNA của “miếng kẹo cao su đang nhai” của người thời Đồ Đá Mới hiện đã được công bố, trong chi tiết rất đáng lưu ý, người phụ nữ này trông giống gì, theo bài báo được đăng hôm 17 tháng 12 năm 2019 trong tạp chí Nature Communications được phổ biến trên trang mạng www.livescience.com
Mục di trú và bảo lãnh do Văn Phòng tham vấn di trú Robert Mullins International đảm trách hằng tuần, rất hữu ích cho quý vị nào quan tâm đến việc bảo lãnh thân nhân. Đề tài trên đây cũng được thảo luận trực tiếp trên www.Facebook.com/rmiodp vào mỗi tối thứ Tư , từ 7:00-8:00 giờ, hoặc sáng thứ Năm lúc 10:00 sáng, giờ Việt Nam.
Hôm nay nhằm ngày nghỉ, sáng vẫn thức sớm vì thói quen hằng ngày, cơ thể điều khiển chị giờ đó phải ngồi dậy, có muốn nướng thêm chút xíu cho chín đều cái lưng ngày xưa thon thon như cá lòng tong bây giờ bự bự như cá voi, cũng không xong.
Boot cao ống chỉ thích hợp ở những vùng mùa đông rất lạnh, hay có tuyết mà thôi. Nếu ở xứ nóng, không có tuyết mà diện giày boots có hơi khác thường. Có thể chọn loại boots cao tới mắc cá thì thích hợp hơn cho thời tiết lạnh hay mưa.
Thí sinh đi thi rất căng thẳng do đó dễ bị mệt mỏi, khi thi sẽ quên đầu quên đuôi, lập cập, lúng ta lúng túng…
Chọn kiếng mát tùy theo hình dạng của khuôn mặt. Chúng ta có thể phân loại 6 khuôn mặt như: mặt tròn, mặt dài, mặt vuông, mặt trái soan, mặt tam giác, mặt trái tim.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.