Hôm nay,  

Có thể tái sinh như nguyện?

10/04/202614:03:00(Xem: 116)
blank

Có thể tái sinh như nguyện?
 

Nguyên Giác
 

Phật Giáo Tây Tạng nói rằng có nhiều trường hợp tái sinh như nguyện, và chuyện đó xảy ra rất bình thường. Nghĩa là, vị tôn giả đó không bị nghiệp lôi kéo, mà chính vị đó có thể chủ động được ý nguyện tái sinh để tiếp tục học pháp hay hoằng pháp. Thí dụ, ngài Đạt Lai Lạt Ma, hay một số vị tăng trưởng và ni trưởng đã có năng lực tâm mạnh như thế. Và khi có một vị tôn túc Phật Giáo Tây Tạng được nói là tái sinh tới hoẳng pháp tại Việt Nam, câu chuyện này lại sôi nổi dư luận. Câu hỏi chúng ta nêu ra trong bài này là: Trong các kinh sơ kỳ -- trong các tạng Kinh Nikaya và Kinh A Hàm -- đã nói như thế nào về các trường hợp tái sinh như nguyện?
 

Chúng ta có thể thấy các Kinh Bản Sanh (Jataka) trong nhóm Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikaya) đã ghi lại nhiều kiếp trước của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, cho thấy một chúng sinh hữu tình (vị Bồ Tát) chủ động lựa chọn các kiếp tái sinh nhằm hoàn thiện những phẩm hạnh Ba-la-mật cụ thể để rồi sau cùng thực hiện sứ mệnh giáo hóa thế gian. Tuy nhiên, phần rất lớn trong Kinh Bản Sanh được viết xuống vào khoảng ba thế kỷ sau khi Đức Phật viên tịch, cho nên có thể có một phần sai lạc vì trí nhớ truyền lại không chắc là chính xác.
 

Dò lại kinh trong các bộ Nikaya tiếng Pali và Agama tiếng Hán, chúng ta thấy Đức Phật nói rằng sự tái sinh thường được mô tả là do nghiệp và sự tham ái chi phối. Tuy nhiên, có một số trường hợp cụ thể mà Đức Phật mô tả cách một người có thể định hướng sự tái sinh của chính mình thông qua ý chí (cetana) và nguyện vọng (patthana), với điều kiện là họ đã có sẵn nền tảng tu dưỡng đạo đức cần thiết.
 

Chúng ta thấy rằng, Đức Phật dạy trong Kinh AN 4.55 về trường hợp hai vợ chồng muốn kiếp sau cũng gặp lại nhau thì phải tu dưỡng tương đồng, theo bản dịch của Thầy Minh Châu, trích:

Vậy này các Gia chủ, khi cả hai vợ và chồng muốn thấy mặt nhau trong đời này, và cũng muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa, và cả hai người là đồng tín, đồng giới, đồng thí, đồng trí tuệ, thời trong đời hiện tại, các người được thấy mặt nhau, và trong đời sau, các người cũng được thấy mặt nhau.”(1)
 

Như thế, cho dù là cư sĩ, hai vợ chồng này cũng  phải có năng lực tu dưỡng để cùng có tín tâm vào Tam Bảo, cùng giữ giới luật nghiêm túc (bản dịch Bhikkhu Bodhi: same virtuous behavior), cùng có tâm bố thí cúng dường rộng rãi (same generosity), và cùng đẳng cấp trí tuệ (same wisdom) thì kiếp sau hai người sẽ gặp nhau nơi cõi trời (delighting after death in a deva world). Chứ không phải gặp nơi cõi người, bởi vì tín, giới, thí, tuệ siêu đẳng như thế tất nhiên là lên cõi trời gặp nhau.

 Trong Kinh MN 120, Đức Phật cũng dạy cụ thể về tái sinh như nguyện để một người có thể trong kiếp sau được sinh vào một cảnh giới mà người đó muốn  --- Kinh MN 120 ghi rõ lời Đức Phật dạy cho người muốn tái sinh vào trong đại gia tộc Sát đế lỵ, hay trong đại gia tộc cư sĩ, hay trong các cõi chư Thiên, hay sẽ giải thoát ngay trong kiếp này.
 

Đức Phật dạy trong Kinh MN 120, bản dịch của Thầy Minh Châu, trích: “Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ tín, đầy đủ giới, đầy đủ văn (suta), đầy đủ thí, đầy đủ trí tuệ. Vị ấy nghĩ như sau: “Mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ sanh cọng trú trong đại gia tộc Sát đế lỵ!” Vị ấy chuyên định tâm ấy, an trú tâm ấy, tu tập tâm ấy. Những hành ấy của Tỷ-kheo được an trú, tu tập, làm cho sung mãn như vậy đưa vị ấy thọ sanh tại chỗ ấy. Này các Tỷ-kheo, đây là đạo, đây là lộ trình đưa đến tái sanh tại chỗ ấy.” (2)
 

Đoạn văn trên. Tiếp theo, cũng lặp lại với ý nguyện muốn tái sinh nơi khác, nơi các cõi cao hơn, nơi các cõi trời, vân vân. Điều kiện là phải tu dưỡng tín, giới, văn, thí, tuệ.

Đức Phật cũng nói về các trường hợp tinh tấn tu học để kiếp sau sẽ tu thêm tới nơi giải thoát. Cụ thể, đó là các vị tinh tấn tu cho tới bậc Thánh quả Bất Lai (A na hàm). Thí dụ, trong hai Kinh AN 4.123 và Kinh AN 4.124, Đức Phật nói về các vị tu tới các bậc trong Tứ thiền. Nơi đây, chúng ta ghi lời Phật dạy trong Kinh AN 4.124, bản dịch Thầy Minh Châu:
 

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người ly dục, ly ác pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất. Ở đây, về các pháp thuộc sắc, thuộc thọ, thuộc tưởng, thuộc hành, thuộc thức, vị ấy tùy quán là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là bất hạnh, là bệnh hoạn, là hướng ngoại, là hoại diệt, là trống không, là vô ngã. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư Thiên ở Tịnh cư Thiên. Sự sanh khởi này, này các Tỷ-kheo, không có chung cùng với các hàng phàm phu.” (3)
 

Một trường hợp rất đặc biệt, nơi đây cho thấy có thể là cội nguồn của truyền thống Bắc Tông, khi lời đại nguyện được tuyên thuyết. Kinh AN 3.103, ghi lời Đức Phật kể lại về những kiếp trước, khi Ngài còn là Bồ Tát, Ngài đã khởi quyết tâm lúc đó là phải tu tới mức giác liễu vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, theo bản dịch Thầy Minh Châu, trích:
 

Này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa chánh đẳng giác, còn là Bồ-tát, ta suy nghĩ như sau: “Cái gì là vị ngọt ở đời? Cái gì là nguy hại, cái gì là xuất ly?”. Rồi này các Tỷ-kheo, về vấn đề ấy, tư tưởng sau đây khởi lên nơi ta: “Do duyên với đời, khởi lên lạc hỷ gì, đây là vị ngọt ở đời. Cái gì ở đời là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, đấy là nguy hại ở đời. Điều phục dục tham ở đời, đoạn tận tham dục, đấy là xuất ly ở đời”. Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào ta chưa như thật giác tri vị ngọt ở đời là vị ngọt, nguy hại là nguy hại, xuất ly là xuất ly, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, ta không có xác nhận Ta đã giác liễu vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cùng với thế giới gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.” (4)
 

Tuy nhiên, chúng ta không nên chấp rằng có một “cái tôi” hay một “cái tự ngã” nào trong hiện tượng tái sinh. Hãy hình dung như Kinh dạy rằng, khi lửa ngọn nến này tắt, lửa truyền sang ngọn nến khác, và hai ngọn lửa của ngọn nến trước và của ngọn nến sau không phải là một và cũng không phải là khác.

Trong Kinh Milinda Vấn Đạo (trong các bản dịch cổ tương tự, một bản phổ biến dịch là Kinh Na Tiên Tỳ Kheo), Trưởng lão Nagasena trả lời nhà vua về chuyện tái sinh, trích bản Việt dịch của ngài Bhikkhu Indacanda như sau:
 

Đức vua Milinda đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, người đi tái sanh thì cũng chính là người ấy, hay là người khác?”

Vị trưởng lão đã nói rằng: “Không phải là người ấy, mà cũng không phải là người khác.”

“Xin ngài cho ví dụ.”

“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Khi đại vương còn nhỏ, trẻ thơ, bé bỏng, nằm ngửa, có phải chính đứa bé ấy là đại vương hiện nay đã được trưởng thành?”

“Thưa ngài, không phải. Đứa nhỏ, trẻ thơ, bé bỏng, nằm ngửa ấy là khác, trẫm hiện nay trưởng thành là khác.”

“Tâu đại vương, trong khi là như vậy thì cũng sẽ không có người gọi là ‘mẹ,’ cũng sẽ không có người gọi là ‘cha,’ cũng sẽ không có người gọi là ‘thầy,’ cũng sẽ không có người gọi là ‘nghệ nhân,’ cũng sẽ không có người gọi là ‘bậc giới đức,’ cũng sẽ không có người gọi là ‘bậc trí.’ Tâu đại vương, phải chăng người mẹ của bào thai mới tượng là khác, người mẹ của bào thai thời kỳ thứ hai là khác, người mẹ của bào thai thời kỳ thứ ba là khác, người mẹ của bào thai thời kỳ thứ tư là khác, người mẹ của người con lúc bé là khác, người mẹ của người con trưởng thành là khác, người học nghề là người khác, người thạo nghề là người khác, người làm việc ác là người khác, người có tay chân bị chặt là người khác?”

“Thưa ngài, không phải. Thưa ngài, nếu được nói như vậy thì ngài có thể đáp lại điều gì?”

Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, chính tôi đã là đứa nhỏ, trẻ thơ, bé bỏng, nằm ngửa, chính tôi hiện nay đã được trưởng thành, tất cả các sự việc ấy được tổng hợp chung lại nương vào chính thân xác này.”” (5)
 

Nhìn chung, có nhiều trường hợp tái sinh như nguyện đã được nói trong các kinh sơ kỳ, thí dụ, như trường hợp vợ của Thái Tử Tất Đạt Đa (tên khai sanh của Đức Phật Thích Ca) là bà Da-du-đà-la (Yaśodharā) và tôn giả La Hầu La (Rahula) đều có mật nguyện tái sinh nhiều đời với Đức Phật.

Thực tế, không phải ai cũng có năng lực để tái sinh như nguyện. Đức Phật đã nói rằng muốn chủ động tái sinh như nguyện là phải tu ráo riết về tín, giới, thí, văn (học Chánh pháp), tuệ. Nhưng chắc chắn rằng đã có nhiều vị tái sinh như nguyện.
 

Nhiều thập niên trước, bổn sư của tôi là cố Hòa Thượng Tịch Chiếu (chùa Tây Tạng Bình Dương) dạy tôi rằng khi đi ra ngoài phố, ngay cả khi thấy một thiếu niên, cũng nên đối xử như gặp một vị đạo cao đức trọng tái sinh. Tôi vẫn luôn giữ thái độ đó với bất kỳ ai trong đời, ngay cả với những người đã từng làm tôi không vui. Không phải là hạnh phúc sao, khi tự thấy chúng ta đang đi đứng nói cười giữa những truyện được kể trong Kinh Phật.
 

GHI CHÚ:

(1) Kinh AN 4.55: https://suttacentral.net/an4.55/vi/minh_chau  

(2) Kinh MN 120: https://suttacentral.net/mn120/vi/minh_chau  

(3) Kinh AN 4.124: https://suttacentral.net/an4.124/vi/minh_chau   

(4) Kinh AN 3.103: https://suttacentral.net/an3.103/vi/minh_chau   

(5) Kinh MMilinda Vấn Đạo: https://suttacentral.net/mil3.2.1/vi/indacanda   

 

 



Từ ngày 22.12, mùa đông trở lại với các nước bắc bán cầu và ở lại cho tới tháng ba năm 2020. Cũng là theo lẽ tuần hoàn của vũ trụ mà thôi, thu đi thì đông tới vả rồi nhường chỗ cho mùa xuân.
Tháng Tám năm nay, nhóm Việt Bút xôn xao vì không thấy anh tham dự buổi họp mặt thân hữu trước ngày giải thưởng Viết Về Nước Mỹ như mọi năm. Ai cũng nghĩ chắc anh đi Việt Nam thăm gia đình, không về kịp.
Mới đặt chân đến Mỹ chưa được mười ngày ông Hai đã được ông James tặng một chiếc xe hơi. Ông James dẫn ông Hai băng qua cái sân rất rộng, vào nhà xe, chỉ một chiếc xe màu xám trắng nằm trên bốn bánh gần như không còn một chút hơi
Bồ Tùng Ma sinh thời là một khuôn mặt thân quen, thương yêu của giải thưởng Viết Về Nước Mỹ. Tác giả tham gia Viết Về Nước Mỹ từ năm 2001, ngay năm thứ hai, Ông được trao tặng giải bán kết Viết Về Nước Mỹ.
Chiều nay, ngày 12-15-2019, ngọn gió thu đông làm bay bay chiếc khăn quàng cổ, rượt những chiếc lá vàng chạy lăng quăng trên lề đường, trời se se lạnh, chúng tôi tới nhìn mặt người bạn thân lần cuối.
Tất cả chúng ta đều có ý tưởng về những gì mà chúng ta nghĩ là tốt và xấu cho sức khỏe của mình, nhưng bao nhiêu điều mà chúng ta tin thì thực sự là thật?
Hầu hết những lệnh hành pháp của ông Trump từng làm cho người ta lo âu đều bị các vị chánh án liên bang chận lại. Nếu những vụ kiện này được đưa lên Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ vào mùa Thu năm 2020 thì sẽ không thể có bất kỳ quyết định nào cho đến mùa Xuân 2021.
Sự kết hợp của khô hạn và các con đập dọc theo Sông Mekong đã làm dậy lên nhiều quan tâm về tương lai của dòng sông dài 4,700 kilômét, mà trên đó có tới 10 triệu người tùy thuộc cuộc sống của họ vào nó tại Trung Quốc, Lào, Miến Điện, Thái Lan và Việt Nam, theo www.asiatimes.com cho biết.
Nhiều người Mỹ đang chật vật tìm các khoản khấu trừ thuế phút cuối trước khi năm 2019 chấm dứt và mùa khai thuế bắt đầu.
Bức vẽ mới được khám phá tại một hang động xa mô tả cảnh đi săn, và nó là câu chuyện cổ xưa nhất mà đã từng được ghi lại. Và nếu nhà khảo cổ Maxime Aubert của Đại Học Griffith University và các đồng nghiệp của ông là đúng, thì nó có thể cũng là ghi nhận đầu tiên về niềm tin tôn giáo – và là sự hiểu biết đầu tiên của chúng ta vào những gì mà những người tạo ra nghệ thuật trong hang động đã suy nghĩ.
Vào ngày 5 tháng 12 năm 2019 vừa qua, Tòa Phúc Thẩm Rộng Quyền Thứ Chín tại San Francisco, tiểu bang California, đã mang lại một phần chiến thắng cho hành pháp Trump bằng cách gỡ bỏ sự ngăn chận quy luật "gánh nặng xã hội". Tuy nhiên, quy luật mới về gánh nặng xã hội vẫn không có hiệu lực vì hai sự can thiệp khác vẫn còn ở Hoa Kỳ.
Một bộ phim tôn vinh vai trò của phụ nữ trong Phong Trào Dân Quyền năm 1968 tại Londonderry đã chia sẻ Giải Thưởng Turner 2019 danh giá, theo bản tin hôm 4 tháng 12 của trang mạng www.bbc.com
Một năm qua với bao nhiêu biến động mà có lẽ ít ai nhớ hết. Chỉ những sự kiện xảy ra rồi để lại dư chấn lớn thì chúng ta mới nhớ tới. Việt Báo xin kể lại theo thứ tự thời gian một số sự kiện thời sự lớn xảy ra trong năm 2019 để hầu chuyện cùng độc giả.
Năm 1949 ông chuyển vào sống ở Sài Gòn làm nghề thầu khoán, cho đến năm 1952 ông làm chủ bút báo Mới của Phan Văn Tươi, rồi cộng tác với tuần báo Phương Đông cho đến hiệp định Genève 1954. Từ năm 1959 ông làm chủ bút cho báo Cách Mạng Quốc Gia, nguyệt san Sáng Dội Miền Nam. Năm 1967 ông được mời dạy một số giờ tại Đại học Vạn Hạnh, Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm ở Sài Gòn.
Buổi ra mắt Dự Án Lịch Sử Truyền Khẩu về Chiến Tranh Việt Nam và giới thiệu tác phẩm “Gọng Kìm Lịch Sử” của Cựu Đại Sứ Bùi Diễm được tổ chức tại hội trường Việt Báo tại thành phố Westminster, miền Nam California, Hoa Kỳ vào chiều Chủ Nhật, 22 tháng 12 năm 2019 đã diễn ra trong bầu không khí sâu lắng của trên 150 người ngồi kín hội trường, gồm các giáo sư sử học, nhà nghiên cứu, giới học thuật, các cơ quan truyền thông báo chí, và đồng hương Việt quan tâm đến lịch sử đất nước Việt Nam.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.