Hôm nay,  

Một Lần Về Quê

20/04/202009:45:00(Xem: 6418)


 Thôi thì khỏi nói, mọi người tay bắt mặt mừng, ai ai cũng vui như hội. Bà Tám đầu hẻm oang oang:

 - Thằng nhỏ coi bộ phổng phao ghê vậy ta, hồi còn ở đây gầy nhom, da bánh mật. Nó qua bển một thời gian giờ thay da đổi thịt quá, nếu đi ngoài đường chắc tui nhận hổng ra. 

 Cả nhà quây quần tíu tít, bia bọt khui lốp bốp. Tuị bạn ngày xưa bá vai kề cổ giờ cũng ra ông nọ bà kia hết trơn. Chỉ có mỗi thằng An là lẹt đẹt làm anh công chức quèn thôi! 

 - Dô trăm phần trăm nhe bay, mừng thằng Hoà về thăm quê. 

Tiếng dô dô, tiếng hò rộn cả con hẻm Bà Bân. Mấy nhà kế trong hẻm cũng qua chung vui. Chú Ba nói: 

 - Mày qua bển sung sướng quen, giờ về laị con hẻm này thấy sao? 

 Hoà cười:

 - Cũng vẫn như xưa, chẳng có gì khác cả chú ơi! 

 Thằng Quân bảo:

 - Tối nay phải đưa thằng Hòa đi rửa mắt nha anh em. 

Cả bọn hưởng ứng cuồng nhiệt

 Mười một giờ đêm cả bọn kéo đến vũ trường Golden Golf, vừa lọt qua cánh cữa cách âm là cả một khung cảnh khác mở ra, tiếng nhạc với âm bass dội như muốn nổ tung  tim, ánh đèn màu mờ ảo và những tia led quét loang loáng trên sàn. Không biết đây là cảnh tượng thiên đàng hay địa ngục nhưng rõ ràng đầy dụ khị mê hoặc. Một anh bồi xìa tay mời vào một cái bàn trống rồi nhanh nhảu bưng một bình Hookah đặt lên bàn, những ống hút tòng ten làm cho Hoà liên tưởng đến những con rắn trên đầu của Medusa. Bình Hookah bằng thủy tinh trông giống như những bình hồ lô trong phim Tàu vậy. Đám bạn và mấy em cave vây quanh chia nhau hút phả khói mịt mù. Một em đưa cái vòi hút cho Hoà. Hoà cầm lấy nhưng hơi ngần ngại. Cô ta Cười ha hả nói:

 - Ngón chân em anh còn mút được, ngại gì cái vòi này? 

 Máu sĩ diện nổi lên, Hoà đáp:

 - Dân chơi sợ gì mưa rơi!

 Nói xong hút một hơi và nhả khói thật sành điệu, quả thật rất phê, cái mùi hóa chất tổng hợp cho cảm giác lâng lâng. Anh bồi đứng sau lưng hỏi:

 - Mấy anh uống gì? 

Chưa ai trả lời thì anh ta gợi ý luôn:

 - Chivas đang thịnh nhất đấy! 

 Hoà không nhìn anh ta:

 - Ừ, thì Chivas. 

 Chai rượu vừa đem ra, mấy em cave khui liền và rót hết một lượt

 - Em xin mời mấy anh ly đầu tiên.

 Cả bàn hò dô làm cạn ly đầu, rồi cứ thế mấy em cứ rót liên tục và cũng uống tự nhiên luôn. Một hồi sau sần sần, mọi người một em dìu nhau nhảy tưng tưng. Hoà áp sát Diễm Hoa, quấn quít như sam, bàn tay Hoà mân mê. Cô ta ỡm ờ: 

 - Ở đây là thành đô, không phải hải ngoại nha anh! 

 Hoà rút tờ hai mươi đô nhét vào khe ngực trễ tràng của cô ta, cô ta cười thích thú và kéo đầu Hoà dụi vào ngực: 

 - Anh ga lăng lắm! 

 Nếu thời gian đi làm hàng ngày nó dài bao nhiêu thì đêm vũ trường thời gian nó ngắn bấy nhiêu. Cuộc chơi mới đó mà đã tàn canh, Hòa về khách sạn với Diễm Hoa, đêm ấy Hoà trổ hết ngón nghề mà bấy lâu nay anh vẫn thường xem từ mấy cuốn phim cấp ba.

 Bình minh của Hoà ngày hôm sau vào lúc mười một giờ, đầu óc còn váng vất lắm, chẳng biết  Diễm Hoa đã về tự lúc nào. An đến chở Hoà đi ăn sáng, hai thằng ngồi trên gác quán nhìn xuống con đường tấp nập xe cộ. Hoà nói: 

 - Sướng thì sướng thật, làm vua một đêm bằng tiền làm cu li một tuần ở bển. Bọn trẻ xứ mình giờ ăn chơi, tiêu xài kinh khủng quá! tiền đâu mà chơi như thế hả mậy? 

 An cười cười:

 - Đó là chưa nói đến chuyện chơi thuốc lắc, đập đá đó mày! tụi nó giờ xài tiền như giấy lộn. Bọn con cháu các quan và đaị gia thì không nói làm gì, vì tiền có phải chúng làm ra đâu mà biết xót. Còn bọn con nhà thường dân nhưng đua đòi ăn chơi thì chúng cướp giật, buôn bán thuốc, làm bảo kê…Gì cũng làm, miễn có tiền là không việc gì chúng từ chối cả. 

 Hoà trầm ngâm:

 - Xả láng một đêm kể cũng vui nhưng lãng phí quá, dù rằng tiền mình làm ra nhưng trong cuộc sống này còn bao nhiêu cảnh đời bất hạnh, nếu xét kỹ thì thật bất nhẫn. Nội chai Chivas cũng đủ đóng học phí cả năm cho một em học sinh, hoặc là đủ tiền gạo cho một người nghèo trong mấy tháng. 

 Tô phở còn ăn dở, chợt điện thoại reo. Hoà bắt máy thì nghe tiếng thằng Thảo: 

 - Tối nay qua vũ trường Super Moon chơi nhé! ở đấy có nhiều em bốc lửa hơn và có những trò  độc nhất ở thành đô này.

 Hoà từ chối:

 - Tao bệnh rồi, đau nhức lắm, hẹn lần khác vậy! 

 Thằng Thảo cười khi dễ:

 - Bệnh gì mày, dân chơi nửa mùa. 

 Nói xong nó cúp máy. Hoà kể cho An nghe, An bảo: 

 - Thằng Thảo giờ giàu kinh khủng lắm, Việt kiều như mày chơi không laị nó đâu. Nó giờ nhiều tiền nên kinh khỉnh và chảnh lắm, kệ nó đi. 

 Hoà tâm sự: 

 -Mình về chơi hai tuần chứ sống lâu dài ở đây chắc không nổi, không chỉ là tiền bạc mà còn cái môi trường sống như thế này mình chịu thôi! ở bển sống chừng mực, ngày đi làm, tối về nghỉ ngơi, cuối tuần đi chùa hay tham gia việc cộng đồng…không có cái cảnh đêm đêm la cà phố xá, ăn chơi đàn đúm như thế này. Ở bển đôi khi cũng có đi coi gái nhảy ở hộp đêm nhưng không đến nỗi nhầy nhụa như những trò chơi của hộp đêm ở thành đô này. 

 An ăn xong phần của mình, bỏ đũa xuống:

 - Mầy ở bển may mắn lắm, tao sống ở đây mà còn chịu hổng nổi huống chi mày! Tao và những người ở đây không có đường lựa chọn nào khác, phải chấp nhận vậy thôi! 

 Xong bữa ăn và cà phê sáng. An chở Hoà đến thăm chùa Long Ân , ở đấy đang nuôi mấy mươi em bé mồ côi. Có em dị tật bẩm sinh, có em thì cha mẹ bỏ, phần nhiều do các cô công nhân ở các khu công nghiệp lỡ daị rồi đem bỏ trước cổng hoặc người dân nhặt được đem đến…Nhìn những ánh mắt ngây thơ mà thấy tội nghiệp làm sao. Anh cúng chùa và ủng một một ít tiền phụ thức ăn cho các em, ra về lòng xốn xang ray rức.

 - Khi chơi thì dốc cả túi không tiếc, khi làm việc thiện có bao giờ dám dốc hết hầu bao; thế mới biết việc thiện, việc tốt khó làm. Cái tôi nó luôn đòi hỏi thõa mãn, nó chẳng chịu hy sinh bao giờ. Chỉ có người buông được cái tôi thì mới là người tốt thật sự. Mình nhiều lúc cũng cảm thấy xấu hổ với chính bản thân mình. 

 An an ủi:

 - Mày đâu cần phải dằn vặt như thế, mày biết dừng và làm nhiêu đó cũng khá rồi. Nếu mày cố gắng hôm nay tốt hơn hôm qua là quý lắm! cái khổ của cuộc đời là vô hạn, năng lực con người thì có hạn, đừng nói chi người. Phật, Bồ Tát cũng không làm sao giúp hết được mọi người. Khi cái quả đã trổ, nghiệp đã thành thì phải tự chịu vậy. Phật, Bồ Tát chỉ đường thoát khổ, chỉ đường giác ngộ chứ không gánh giùm nghiệp được! 

 Chạy được một quãng đường cũng khá xa, gió và nắng rát mặt, may nhờ có nón bảo hiểm nên cũng không sao nhưng khá ngột ngạt và nóng bức. An tấp vào quán nước bên đường nghỉ ngơi một lát. An kêu hai trái dừa tươi, nằm trên võng đung đưa nhắc nhở Hoà:

 - Mày ở bển lâu rồi, tư duy và nhận thức đã khác. Gặp bạn cũ đừng tranh luận bất cứ chuyện gì nhé! Tranh luận chỉ tổ bất hòa và phiền não mà thôi. Con người là sản phẩm của xã hội, con người thế nào nó phản ảnh chân thực cái xã hội ấy. Mày bây giờ không phải là thằng Hoà hai mươi năm trước nhưng bạn cũ của mày thì vẫn y vậy! 

 Hoà cười:

 - Cảm ơn mày, nhưng mày không như những thằng bạn “ vẫn y vậy”! 

 Ngày ra sân bay về laị, Hoà nắm chặt tay An:

 - Đi thì nhớ, ở không xong. Tớ vẫn cố gắng về thăm cậu, thằng bạn không như những thằng bạn “ vẫn y vậy”.


TIỂU LỤC THẦN PHONG 

 Ất Lăng thành, 1/9/19

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Anh cũng như bao nhiêu người sĩ quan khác ở miền Nam. Sau 75, đều bị tập trung cải tạo. Những tháng đầu anh được vợ gửi cho một hai lần đồ ăn, sau đó thì biệt tăm. Anh được phép viết thư về cho gia đình nhiều lần. Nhưng không thấy vợ trả lời...
Bữa đó, vừa mới nhập trại Panatnikhom được vài ngày, bốn đứa chúng tôi đang nằm tán dóc trong nhà thì nghe tiếng bước chân rầm rầm ngoài cửa. Chúng tôi nhìn ra thì thấy bác nhà trưởng và một số người khác đứng lố nhố, những bộ mặt vô cùng nghiêm trọng, nặng nề còn hơn trong “Cái Đêm Hôm Ấy, Đêm Gì?” của Phùng Gia Lộc...
Tôi đứng ôm cặp sách nơi đầu đường con hẻm lớn, mặt hướng về ngã năm chờ đợi chuyến xe, không để ý phía bên phải tôi tiệm Minh Ký Trà Gia đang khách vào ra liên tục...
Sau khi ghé thăm Thành phố Baltimore thuộc Tiểu bang Maryland, hôm nay chúng tôi lại tiếp tục cuộc hành trình để đến thăm Tiểu bang Pennsylvania, một tiểu bang rộng lớn, trù phú, có nhiều cảnh đẹp và di tích lịch sử của quốc gia Hoa Kỳ...
Ngày Thước bước ra, nàng không mang theo bất cứ thứ gì nàng đã sắm trong tám năm. Nhờ nàng, Thụy có ê hề những thứ nàng để lại, nào bàn, ghế, sô pha. Những TV nhỏ, lớn. Những hình, ảnh, những giỏ hoa, nàng thường để trên bàn trang điểm, vẫn còn...
Hải đảo Ga Lang vào thời điểm 1978. Hải âu bay rợp trời. Cơm xấy, cá khô, đậu hộp và là những món ăn quen thuộc của người việt tị nạn trên đảo. Cứ đến giờ là mọi người xếp hàng đi ăn, có khi không phải là đói mà vì cả thói quen, kể cả thói quen chờ đợi, chờ đợi được làm giấy tờ. Chờ đợi được ra đi đến một quốc gia nào đó… Mỹ, Pháp, Úc, Đức… đâu cũng được thôi. Quê hương Việt Nam đã rời bỏ đi rồi, thì nổi trôi đến đâu bám tới đó...
Vài tháng nay rất nhiều bạn bè thân hữu, và nhiều sinh viên, học trò cũ, những người đã từng ngồi chung giảng đường với Nhà Tôi điện thoại hay điện thư hỏi thăm chúng tôi nhưng chúng tôi không đủ sức khỏe cũng như thì giờ để đáp lễ từng người xin Quý Vi thông cảm và vui lòng tha lỗi. Cũng xin hết lòng cảm ơn Giáo Sư Tiến Sĩ Tr. H. Bích, người rất uyên bác văn chương kim cổ đã có nhã ý muốn nhuận sắc bài viết, nhưng biết Ông rất bận rộn nên tôi không dám làm phiền Ông.
Lúc đầu tôi không biết chị bị bệnh tâm thần. Về sau tôi được nghe kể về cuộc đời của chị từ một người phụ nữ Việt Nam khác, tên Loan, đã sống ở đây nhiều năm. Nhưng những chi tiết về cuộc đời ấy hầu như ngay tức khắc trượt ra khỏi trí nhớ của tôi, tôi chỉ còn nhớ người phụ nữ mắc bệnh ấy sống ở thành phố này có lẽ ít nhất cũng hai mươi năm, nhiều người bảo chị khá đẹp khi còn trẻ, bây giờ nhìn cũng vẫn hình dung được điều đó...
Bầu không khí trong phòng giam lúc nào cũng ngột ngạt khó chịu. Nỗi khó chịu ấy cứ liên tục bao trùm đến nỗi mọi người phải quen đi như một lẽ tất nhiên. Tôi càng khổ sở hơn nhiều vì đã vướng phải bệnh ghẻ mấy tháng nay. Ghẻ mỗi ngày mỗi lan ra trên tấm thân gầy còm của tôi kéo theo luôn cả sự tàn tạ về sức khỏe. Mới vài hôm đây tôi lại mắc thêm chứng tê bại, cử động tay chân rất khó khăn. Thuốc men quá thiếu, ăn uống cũng quá thiếu, tình trạng chữa trị đối với tôi thật là bi quan...
Mùa xuân 2023. Ngoài chuyện nhớ lại mùa xuân cách nay 48 năm với “Tháng Ba Gãy Súng” (1) và “Tháng Tư Mất Nước” (2) tôi còn nhớ đến nhiều chuyện khác nữa, nhớ nơi tôi sinh ra, nhớ nơi tôi lớn lên và học hành, nhớ nơi tôi từng công tác, nhớ Sài Gòn, nhớ Đà Lạt, nhớ Nha Trang, nhớ Cần Thơ, nhớ An Giang, nhớ đèo Hải Vân, nhớ sông Vàm Cỏ…và nhớ nhớ nhiều lắm. Nằm trong bộ nhớ của tôi còn có rất nhiều người bạn – bạn thân – bạn rất thân nữa. Một người bạn rất thân là Nguyễn Đức Quang, cùng xứ, cùng trường, cùng chơi Hướng Đạo, cùng hát Du Ca…
Từ ngày ông bà cha mẹ rời miền Bắc 1954, mãi gần 70 năm sau, ngày 18 tháng hai, năm 2023, khi tôi cũng gần nửa đời người, mới lần đầu tiên được về thăm quê cha đất tổ. Đáp xuống sân bay Nội Bài vào xế trưa. Hà thành bận rộn đông đúc hơn là tôi đã mường tượng. Sau buổi chiều dạo quanh Hồ Tây, thăm các phố phường, thưởng thức vài đặc sản của Hà Nội, chúng tôi lên xe có giường nằm để ngủ qua đêm, bắt đầu cuộc hành trình trở về cội nguồn của… yêu thương. Xe chạy suốt đêm. Nhìn ra ngoài chỉ toàn một màu đen xen kẽ những chấm đèn vàng. Mọi người trên xe ai cũng có vẻ ngủ say,… Riêng tôi thì lòng lại cứ nôn nao bồi hồi khó tả!
Có thể nói ai cũng có lần nói lái ở trong đời, đôi lúc chỉ vô tình thôi. Nếu bạn buột miệng nói “đi giữa trời nắng cực quá” hoặc khi đèn điện không sáng mà bạn nói “điện sao lu quá chừng”, người nghe sẽ cho là bạn nói tục, có oan cũng đành chịu vì, dù bạn không cố ý nhưng nắng cực, điện lu nói lái nghe tục thật. Tương tự như thế, hãy cẩn thận đừng nói dồn lại, dồn lên, đồn láo, đồn lầm…


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.