Hôm nay,  

Một Lần Về Quê

20/04/202009:45:00(Xem: 6412)


 Thôi thì khỏi nói, mọi người tay bắt mặt mừng, ai ai cũng vui như hội. Bà Tám đầu hẻm oang oang:

 - Thằng nhỏ coi bộ phổng phao ghê vậy ta, hồi còn ở đây gầy nhom, da bánh mật. Nó qua bển một thời gian giờ thay da đổi thịt quá, nếu đi ngoài đường chắc tui nhận hổng ra. 

 Cả nhà quây quần tíu tít, bia bọt khui lốp bốp. Tuị bạn ngày xưa bá vai kề cổ giờ cũng ra ông nọ bà kia hết trơn. Chỉ có mỗi thằng An là lẹt đẹt làm anh công chức quèn thôi! 

 - Dô trăm phần trăm nhe bay, mừng thằng Hoà về thăm quê. 

Tiếng dô dô, tiếng hò rộn cả con hẻm Bà Bân. Mấy nhà kế trong hẻm cũng qua chung vui. Chú Ba nói: 

 - Mày qua bển sung sướng quen, giờ về laị con hẻm này thấy sao? 

 Hoà cười:

 - Cũng vẫn như xưa, chẳng có gì khác cả chú ơi! 

 Thằng Quân bảo:

 - Tối nay phải đưa thằng Hòa đi rửa mắt nha anh em. 

Cả bọn hưởng ứng cuồng nhiệt

 Mười một giờ đêm cả bọn kéo đến vũ trường Golden Golf, vừa lọt qua cánh cữa cách âm là cả một khung cảnh khác mở ra, tiếng nhạc với âm bass dội như muốn nổ tung  tim, ánh đèn màu mờ ảo và những tia led quét loang loáng trên sàn. Không biết đây là cảnh tượng thiên đàng hay địa ngục nhưng rõ ràng đầy dụ khị mê hoặc. Một anh bồi xìa tay mời vào một cái bàn trống rồi nhanh nhảu bưng một bình Hookah đặt lên bàn, những ống hút tòng ten làm cho Hoà liên tưởng đến những con rắn trên đầu của Medusa. Bình Hookah bằng thủy tinh trông giống như những bình hồ lô trong phim Tàu vậy. Đám bạn và mấy em cave vây quanh chia nhau hút phả khói mịt mù. Một em đưa cái vòi hút cho Hoà. Hoà cầm lấy nhưng hơi ngần ngại. Cô ta Cười ha hả nói:

 - Ngón chân em anh còn mút được, ngại gì cái vòi này? 

 Máu sĩ diện nổi lên, Hoà đáp:

 - Dân chơi sợ gì mưa rơi!

 Nói xong hút một hơi và nhả khói thật sành điệu, quả thật rất phê, cái mùi hóa chất tổng hợp cho cảm giác lâng lâng. Anh bồi đứng sau lưng hỏi:

 - Mấy anh uống gì? 

Chưa ai trả lời thì anh ta gợi ý luôn:

 - Chivas đang thịnh nhất đấy! 

 Hoà không nhìn anh ta:

 - Ừ, thì Chivas. 

 Chai rượu vừa đem ra, mấy em cave khui liền và rót hết một lượt

 - Em xin mời mấy anh ly đầu tiên.

 Cả bàn hò dô làm cạn ly đầu, rồi cứ thế mấy em cứ rót liên tục và cũng uống tự nhiên luôn. Một hồi sau sần sần, mọi người một em dìu nhau nhảy tưng tưng. Hoà áp sát Diễm Hoa, quấn quít như sam, bàn tay Hoà mân mê. Cô ta ỡm ờ: 

 - Ở đây là thành đô, không phải hải ngoại nha anh! 

 Hoà rút tờ hai mươi đô nhét vào khe ngực trễ tràng của cô ta, cô ta cười thích thú và kéo đầu Hoà dụi vào ngực: 

 - Anh ga lăng lắm! 

 Nếu thời gian đi làm hàng ngày nó dài bao nhiêu thì đêm vũ trường thời gian nó ngắn bấy nhiêu. Cuộc chơi mới đó mà đã tàn canh, Hòa về khách sạn với Diễm Hoa, đêm ấy Hoà trổ hết ngón nghề mà bấy lâu nay anh vẫn thường xem từ mấy cuốn phim cấp ba.

 Bình minh của Hoà ngày hôm sau vào lúc mười một giờ, đầu óc còn váng vất lắm, chẳng biết  Diễm Hoa đã về tự lúc nào. An đến chở Hoà đi ăn sáng, hai thằng ngồi trên gác quán nhìn xuống con đường tấp nập xe cộ. Hoà nói: 

 - Sướng thì sướng thật, làm vua một đêm bằng tiền làm cu li một tuần ở bển. Bọn trẻ xứ mình giờ ăn chơi, tiêu xài kinh khủng quá! tiền đâu mà chơi như thế hả mậy? 

 An cười cười:

 - Đó là chưa nói đến chuyện chơi thuốc lắc, đập đá đó mày! tụi nó giờ xài tiền như giấy lộn. Bọn con cháu các quan và đaị gia thì không nói làm gì, vì tiền có phải chúng làm ra đâu mà biết xót. Còn bọn con nhà thường dân nhưng đua đòi ăn chơi thì chúng cướp giật, buôn bán thuốc, làm bảo kê…Gì cũng làm, miễn có tiền là không việc gì chúng từ chối cả. 

 Hoà trầm ngâm:

 - Xả láng một đêm kể cũng vui nhưng lãng phí quá, dù rằng tiền mình làm ra nhưng trong cuộc sống này còn bao nhiêu cảnh đời bất hạnh, nếu xét kỹ thì thật bất nhẫn. Nội chai Chivas cũng đủ đóng học phí cả năm cho một em học sinh, hoặc là đủ tiền gạo cho một người nghèo trong mấy tháng. 

 Tô phở còn ăn dở, chợt điện thoại reo. Hoà bắt máy thì nghe tiếng thằng Thảo: 

 - Tối nay qua vũ trường Super Moon chơi nhé! ở đấy có nhiều em bốc lửa hơn và có những trò  độc nhất ở thành đô này.

 Hoà từ chối:

 - Tao bệnh rồi, đau nhức lắm, hẹn lần khác vậy! 

 Thằng Thảo cười khi dễ:

 - Bệnh gì mày, dân chơi nửa mùa. 

 Nói xong nó cúp máy. Hoà kể cho An nghe, An bảo: 

 - Thằng Thảo giờ giàu kinh khủng lắm, Việt kiều như mày chơi không laị nó đâu. Nó giờ nhiều tiền nên kinh khỉnh và chảnh lắm, kệ nó đi. 

 Hoà tâm sự: 

 -Mình về chơi hai tuần chứ sống lâu dài ở đây chắc không nổi, không chỉ là tiền bạc mà còn cái môi trường sống như thế này mình chịu thôi! ở bển sống chừng mực, ngày đi làm, tối về nghỉ ngơi, cuối tuần đi chùa hay tham gia việc cộng đồng…không có cái cảnh đêm đêm la cà phố xá, ăn chơi đàn đúm như thế này. Ở bển đôi khi cũng có đi coi gái nhảy ở hộp đêm nhưng không đến nỗi nhầy nhụa như những trò chơi của hộp đêm ở thành đô này. 

 An ăn xong phần của mình, bỏ đũa xuống:

 - Mầy ở bển may mắn lắm, tao sống ở đây mà còn chịu hổng nổi huống chi mày! Tao và những người ở đây không có đường lựa chọn nào khác, phải chấp nhận vậy thôi! 

 Xong bữa ăn và cà phê sáng. An chở Hoà đến thăm chùa Long Ân , ở đấy đang nuôi mấy mươi em bé mồ côi. Có em dị tật bẩm sinh, có em thì cha mẹ bỏ, phần nhiều do các cô công nhân ở các khu công nghiệp lỡ daị rồi đem bỏ trước cổng hoặc người dân nhặt được đem đến…Nhìn những ánh mắt ngây thơ mà thấy tội nghiệp làm sao. Anh cúng chùa và ủng một một ít tiền phụ thức ăn cho các em, ra về lòng xốn xang ray rức.

 - Khi chơi thì dốc cả túi không tiếc, khi làm việc thiện có bao giờ dám dốc hết hầu bao; thế mới biết việc thiện, việc tốt khó làm. Cái tôi nó luôn đòi hỏi thõa mãn, nó chẳng chịu hy sinh bao giờ. Chỉ có người buông được cái tôi thì mới là người tốt thật sự. Mình nhiều lúc cũng cảm thấy xấu hổ với chính bản thân mình. 

 An an ủi:

 - Mày đâu cần phải dằn vặt như thế, mày biết dừng và làm nhiêu đó cũng khá rồi. Nếu mày cố gắng hôm nay tốt hơn hôm qua là quý lắm! cái khổ của cuộc đời là vô hạn, năng lực con người thì có hạn, đừng nói chi người. Phật, Bồ Tát cũng không làm sao giúp hết được mọi người. Khi cái quả đã trổ, nghiệp đã thành thì phải tự chịu vậy. Phật, Bồ Tát chỉ đường thoát khổ, chỉ đường giác ngộ chứ không gánh giùm nghiệp được! 

 Chạy được một quãng đường cũng khá xa, gió và nắng rát mặt, may nhờ có nón bảo hiểm nên cũng không sao nhưng khá ngột ngạt và nóng bức. An tấp vào quán nước bên đường nghỉ ngơi một lát. An kêu hai trái dừa tươi, nằm trên võng đung đưa nhắc nhở Hoà:

 - Mày ở bển lâu rồi, tư duy và nhận thức đã khác. Gặp bạn cũ đừng tranh luận bất cứ chuyện gì nhé! Tranh luận chỉ tổ bất hòa và phiền não mà thôi. Con người là sản phẩm của xã hội, con người thế nào nó phản ảnh chân thực cái xã hội ấy. Mày bây giờ không phải là thằng Hoà hai mươi năm trước nhưng bạn cũ của mày thì vẫn y vậy! 

 Hoà cười:

 - Cảm ơn mày, nhưng mày không như những thằng bạn “ vẫn y vậy”! 

 Ngày ra sân bay về laị, Hoà nắm chặt tay An:

 - Đi thì nhớ, ở không xong. Tớ vẫn cố gắng về thăm cậu, thằng bạn không như những thằng bạn “ vẫn y vậy”.


TIỂU LỤC THẦN PHONG 

 Ất Lăng thành, 1/9/19

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chiếc ghế đá hầu như rất quen thuộc, dù nó cũng như mọi chiếc ghế khác trong công viên. Tháng Sáu. Bầy ve kêu inh ỏi. Chúng vô tư thật! Đoan ngồi xuống. Mấy buổi chiều nay, tan học, Đoan ghé khu vườn rộng lớn này, như một người trở về, cảm giác thật khó tả. Chợt nghe trong đầu vẳng lại lời của một bài thơ:
Cuộc đời trung úy Đỗ Lệnh Dũng, một sĩ quan VNCH, là biểu tượng bi tráng của lòng trung thành, khí phách giữa chiến tranh tàn khốc, và là minh chứng cho nỗi đau kéo dài của những người lính và thương phế binh miền Nam sau cuộc chiến.
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.
Bây giờ trời đã tối, nhiều người đi ngủ sớm. Bọn trẻ học bài dưới bóng ngọn đèn dầu ở ngoại ô, ngọn đèn đường gần bờ sông. Trước hàng rào kẽm gai, một người lính mang súng đi đi lại lại, một đôi tình nhân đi chơi về muộn. Ngọn đèn hỏa châu sáng bừng góc trời một lát rồi tắt. Người yêu quê hương đã đi ra khỏi mảnh đất của những hận thù dai dẳng mà vẫn muốn trở về. Người nông dân muốn cày lại thửa ruộng của mình. Người thợ sửa đồng hồ muốn ngồi lại cái ghế vải nhỏ thấp của mình sau tủ kiếng bày đồng hồ cũ và mới. Lò bánh mì chiếu sáng nhấp nhô bóng những đứa trẻ bán bánh mì đứng trước cửa sổ với bao tải lớn đựng bánh nóng mới ra lò. Con chim về ngủ muộn biến mất trong bụi cây chỗ anh đứng.
Em nằm im lặng nghe đêm thở | Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm | Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc | Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen.(tmt)
Con người ngậm kín cái tốt vào lòng. Để khỏi mua lấy vạ hiềm nghi ghen ghét. Tôi nhìn đứa bé từ sau lưng, sự rung động khẽ của đôi vai nhỏ bé, vẻ hạnh phúc của cái gáy nhỏ xíu măng tơ. Phút này qua phút khác, có lẽ lâu lắm, cho đến khi đứa bé bắt đầu thỏa mãn, bú chậm lại, nhưng nó vẫn ôm lấy bầu ngực của người đàn bà lạ, ngủ thiếp đi.
Biển đêm như vô thức một màu đen mênh mông, nhưng biển chứa toàn bộ lịch sử con người từ lúc còn là tế bào phôi sống cho đến khi biến thành DNA, rồi từ thú vật tiến lên con người. Lịch sử đó đầy ngập dữ liệu nhưng chôn sâu dưới đáy nước. Hồi tưởng chỉ là những con sóng nổi dập dìu, cho dù sóng lớn dữ dằn trong bão tố vẫn không mang được hết đáy nước lên trên mặt. Vì vậy, biển lúc nào cũng bí mật. Vô thức cũng bí mật. Càng gây thêm khó khăn để chứng minh sự thật vì vô thức có khả năng biến đổi dữ liệu hồi tưởng. Chỉ những người thiếu bản lãnh mới tin vào trí nhớ của mình và của người khác. Nhưng toàn bộ nhân loại sống và tạo ra ý nghĩa hầu hết dựa vào bộ nhớ. Một số ít người hiểu rõ điều này, nhưng không làm gì khác hơn, vì hồi tưởng tự động và tự nhiên xuất hiện dù không đầy đủ, kể cả, khi con người kêu gọi ký ức đến, nó cũng đến trên xe lăn, hoặc chống nạn, hoặc bò lết như kẻ tàn tật.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
Tháng Tư chuếnh choáng. Say chẳng phải vì rượu dẫu chỉ nhấp môi hoặc thậm chí trong đám bạn có kẻ chẳng uống giọt nào. Nhưng họ vẫn say như thường. Những hồi ức tháng Tư lần lượt xuất hiện như một chất men nhưng không thể làm người ta quên mà chỉ là giây phút hiếm hoi nhắc nhớ để rồi quên. Quên tạm thời nỗi niềm chất chứa mà không làm sao quên hẳn.
Hai tên đeo băng đỏ đưa tôi đến một căn nhà nằm trên đường Tôn Thất Thuyết. Nay mới biết là cơ sở kinh tài của Việt Cộng. Vào bên trong, tôi thấy có một số người bị bắt trước ngồi trên băng ghế đặt ở góc một phòng lớn rộng rãi. Họ ngước mắt nhìn tôi có vẻ ái ngại. Tôi biết những người ngồi đó là thành phần đặc biệt nằm trong danh sách tìm bắt của chúng. Nhìn họ, tôi thấy mấy người quen quen. Hình như họ là viên chức Chính Phủ trong tỉnh. Tôi được đưa đến ngồi cạnh họ. Tất cả đều im lặng, không ai nói với ai lời nào ngay cả khi bất chợt nhìn thấy tôi. Có lẽ im lặng để che đậy cái lý lịch của mình, làm như không quen biết nhau, nếu có khai láo cũng không liên lụy đến người khác.
Trong cuộc đời, ắt hẳn bạn đã nhiều lần bước trên lối mòn giữa một cánh đồng cỏ hay trong một khu rừng? Thoạt đầu, lối mòn ấy cũng đầy hoa hoang cỏ dại như chung quanh, nhưng những bước chân người dẫm lên qua ngày tháng đã tạo thành một con đường bằng phẳng. Ký ức chúng ta cũng tương tự như lối mòn ấy. Những trải nghiệm với cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ được nhớ đi nhớ lại như những bước chân đi trên lối mòn góp phần hình thành ký ức, và cả con người chúng ta. Người Mỹ gọi loại ký ức này là “core memory” mà ta có thể dịch ra Việt ngữ là ký ức cốt lõi. Với tôi, ký ức cốt lõi ấy là những gì xẩy ra cho tôi và gia đình trong quãng thời gian kể từ khi thị xã Ban Mê Thuột thất thủ ngày 12 tháng Ba năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chưa đến bẩy tuần sau đó. Tôi vẫn nhớ, và nhớ rất rõ.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.