Hôm nay,  

Nỗi Đau Còn Mãi

29/04/202014:04:00(Xem: 6533)
blank


          

Tôi không có kỷ niệm đau đớn uất hận trong tháng tư như những người lính buông súng thất thiểu trở về thành phố, không có những giây phút kinh hoàng trong dòng người di tản giữa mưa pháo trên những đại lộ vương vãi xác chết, không có cảm giác cuống cuồng chạy loạn xuống biển lên rừng để tìm đường thoát hiểm khỏi thảm họa Cộng Sản. Tôi cũng không có nỗi hốt hoảng lo lắng của kẻ thua cuộc trước sự thay đổi cả một xã hội miền Nam trong cái ngày gọi là giải phóng với những đợt đổi tiền tức tưởi hay đánh tư sản trắng tay mạt vận...

 

Tôi lúc đó bình yên trong ngôi nhà treo cờ đỏ của mình, để thấy người thân hân hoan chào đón ngày vui thống nhất đất nước. Bà Nội tôi cười móm mém “Hòa bình rồi, hết lo bị tụi Việt Cộng pháo kích” tôi lúc đó có ngây ngô cỡ nào cũng nhìn ra “tụi Việt Cộng” là ai. Thấy như mình bị hụt hẫng thất vọng cái gì đó không gọi được tên, cảm giác bồn chồn khó chịu trước sự thay đổi quá đột ngột mà mình chưa sẳn sàng để chấp nhận sự thật. Ở một nơi mà mình đã nhìn thấy đầu tiên khi mở mắt chào đời, nó hiện hữu thiêng liêng từ  ánh đèn ấm áp trong đêm tối hay vạt nắng sáng lung linh ngoài khung cửa sổ,  thấy ngôi nhà thân thương mà mình đã sống ở đó với bao buồn vui kỷ niệm êm đềm, rồi chợt có một ngày ai đó xồng xộc bước vào quát tháo, dẹp cái bàn thờ, gỡ mấy bức tranh phong cảnh, lấy đi cái lu , cái tủ, đuổi mọi người ra đường rồi ngang nhiên chiếm hết mọi thứ của cải và tự xưng mình là đầy tớ của nhân dân, nghe sao ngang ngược  và bực bội hết sức.

 

Tâm trạng của tôi lúc đó chỉ có vậy. Sự ngây thơ đến ngu ngốc, tôi lúc đó vô tư đến độ không phân biệt được chế độ Cộng hòa và Chủ nghĩa Xã hội khác nhau ra sao, không có khái niệm về Thế Giới Tự Do và khối Cộng Sản hay dở ở chỗ nào. Chiến tranh xảy ra ở đâu đâu trong miền Nam và không liên quan tới cái hẻm nhỏ của tôi, khi hàng ngày chúng tôi vẫn đến trường hồn nhiên vui đùa, hàng xóm vẫn chợ búa tấp nập, rạp chiếu bóng vẫn có phim hay cuối tuần và bác xích lô già đạp vài cuốc xe đủ sống là thong thả nằm khềnh đọc báo. Cuộc sống bình yên quá mà...

Gia đình tôi đâu có ai tử thương tử trận để thấy cuộc chiến khốc liệt tàn nhẫn đến thế nào khi lá vàng khóc lá xanh rơi, khi đàn bà con nít nháo nhào lo tản cư chạy giặc, đàn ông con trai tới tuổi quân dịch phải bỏ ruộng hoang nhà trống mà nhập ngũ hay vô bưng...Tất cả đều còn rất trẻ, cái tuổi còn sung sức, còn nhiều hoài bảo cho tương lai.

Vậy mà chiến tranh đã cướp mất tuổi trẻ của họ, giết chết mọi ước mơ của họ một cách tàn nhẫn.

 

Cái từ giải phóng miền Nam đã dạy cho tôi một bài học nhớ đời, đó là sự dối trá và phản bội.Không có giải phóng gì hết, chỉ có bên thua cuộc và bên thắng cuộc, tuổi trẻ miền Bắc chiến đấu vì một chủ nghĩa Cộng Sản ngoại lai, tuổi trẻ miền Nam thì chiến đấu chống lại sự xâm lược của miền Bắc để giữ vững thành trì Tự Do.
 

Tôi nghĩ VNCH có chính nghĩa trong cuộc chiến này,  nên khi Cộng Sản miền Bắc cưỡng chiếm miền Nam thành công, những hô hào reo mừng của kẻ chiến thắng đã làm tôi thất vọng, bực tức. Bên nào cũng là người Việt, bên nào cũng máu đỏ da vàng.Cuộc chiến kéo dài quá lâu với biết bao thảm cảnh mất mát đau buồn của cả hai miền đất nước. Nhưng ngay cái ngày tang tóc thương tâm đó Cộng Sản Bắc Việt lại giăng đèn kéo hoa để chào mừng mùa Xuân đại thắng, họ đã hát trên những xác người, trên các tử thi còn nằm lăn lóc suốt đoạn đường di tản giữa những đại lộ kinh hoàng vì bom đạn trong tháng tư đen tối ấy.

Đã mấy chục năm trôi qua tôi vẫn thấy đau buồn mỗi khi nghĩ đến những năm tháng đáng nguyền rủa đó.

Tôi nhớ những tên cách mạng hùa mang băng đỏ chạy vòng vòng thành phố như thị uy đe dọa, nhưng trong mắt dân chúng miền Nam lúc bấy giờ thì bọn chúng chỉ bẩn thỉu như những con chó săn. Và ngày nay cái đám dư luận viên hay công an đàn áp những người yêu nước biểu tình ôn hòa trong nước cũng chỉ là loại côn đồ đê tiện.

 

Tôi nhớ hoài ánh mắt như có lửa của người đàn ông đứng ở ven đường nhìn tên việt cộng xé lá cờ vàng vùi trong thùng rác, bàn tay anh nắm chặt để ghìm cơn phẩn nộ. Sau này tôi thắm cái đau của các vị tướng lãnh đã tự sát ngay trong thời điểm đó Họ chọn cái chết đứng thẳng kiêu hùng.

 

Gần nửa thế kỷ trôi qua, những đứa trẻ đã sinh ra sau 4/1975 và lớn lên trong chế độ Cộng Sản, như những hạt giống vô tình, gieo ở nơi nào thì ảnh hưởng thổ nhưỡng nơi đó, không khó khăn khi nhận dạng những hạt giống nhuộm đỏ bạo lực và gian manh trong xã hội Việt Nam ngày nay.

 

Dĩ nhiên không phải là tất cả nhưng tìm nam thanh nữ tú thanh lịch như ngày xưa thì nay đã hiếm hoi. Không ai có thể chọn lựa nơi mình sinh ra, nhưng có thể chọn lựa Tổ Quốc để mình yêu quý, có thể nhận thức được giá trị tốt đẹp để mà noi theo sống cho tử tế đàng hoàng. Điều đáng buồn là có rất nhiều giới trẻ ngày nay không nhận ra vị trí của mình.

 

Sau mấy mươi năm cai trị Cộng Sản đã biến đất nước Việt Nam giàu đẹp thành bãi rác, biến người thanh lịch thành lớp tư bản đỏ kệch cởm, hống hách, biến những đứa trẻ tiểu học đã biết chửi thề và bạo lực, biến những người dân lương thiện thành cừu non và xưng tụng tên lưu manh làm kẻ chăn dắt.

 

Cái đau luôn âm ỉ trong trái tim của người Việt lưu vong như chúng tôi, không phải đợi đến tháng tư đen mới kêu gào than thở nhưng đó là cái mốc thời gian của một lịch sử bi thảm nhất, khủng khiếp nhất mà dân tộc Việt Nam phải xót xa viết bằng máu của hàng triệu triệu đồng bào.

Mãi mãi chúng tôi không bao giờ quên Cộng Sản miền Bắc đã bức tử dân miền Nam bằng mọi thủ đoạn tàn ác sau ngày đại thắng vinh quang đó, trại tù đã mọc lên suốt chiều dài đất nước, kéo theo biết bao gia đình tan nát, khốn khổ bởi sự trả thù hèn hạ của bên thắng cuộc, những cái chết vùi dập như xác con thú hoang bên ven rừng.

 

Người giàu sự nghiệp cũng trắng tay do chánh sách đánh tư sản và mấy đợt đổi tiền, một nền văn hóa nghệ thuật phong phú đa dạng cũng bị tiêu hủy lụi tàn trong tức tưởi uất hận , nền kinh tế công nghiệp phồn thịnh với lượng hàng hóa dồi dào, gạo cá mênh mông của miền Nam bỗng khan hiếm do những chuyến hàng chạy suốt đêm ra Bắc, rừng vàng biển bạc dần dần biến mất bởi lòng tham không đáy của những tay trị nước ngu xuẩn.

Máu đã đổ suốt từ thời chiến tranh cho tới lúc hòa bình 45 năm nay, những giọt máu của người dân trong nước khao khát nền Tự Do Dân Chủ vẫn còn chảy trong nhà tù với những bản án khắc nghiệt dành cho họ và những người đã chết đều có thật. Rất thật.

 

Vinh quang gì trong ngày vui đại thắng mà hàng năm Cộng Sản Việt Nam vẫn tổ chức lễ hội ăn mừng và bắt nhà nhà treo cờ kỷ niệm tháng tư đen?

Xin hãy dẹp cái trò “hát trên những xác người”ấy đi, dẹp những tên côn đồ gian ác trong lớp áo công an nhân dân, chính quyền nhân dân mà áp bức đồng bào, dẹp những tên quan tham bòn rút công quỷ, hút máu dân nghèo, những kẻ lãnh đạo mị dân bằng ngôn từ mỹ miều xảo trá mà sau đó lại quì mọp trước thiên triều phương Bắc để dâng tổ quốc non sông… Nếu toàn dân đồng lòng giải tán đảng Cộng Sản hèn với giặc ác với dân thì may ra chúng ta còn khép lại quá khứ mà cùng hướng tới tương lai chống một kẻ thù chung là bọn bành trướng Trung Cộng đang lăm le nuốt trọn đất nước Việt Nam nhỏ bé này.
 

Xin hãy đứng thẳng lên sau bao nhiêu năm cúi đầu chấp nhận cái Độc Lập -Tự Do- Hạnh Phúc”chỉ có trên trang đầu của các giấy tờ chế độ XHCN, bao nhiêu năm sống trong hòa bình mà lòng dân ly tán, quê Mẹ oan khiên.
 

Lẽ nào dân Việt mình tới bây giờ vẫn còn ngủ mê  khiếp nhược “trước những bất công vẫn không biết kêu đòi”để đến ngày nào đó đất nước rơi vào tay kẻ ác, cả một dân tộc bị đọa đày và tên Việt Nam biến mất trên bản đồ thế giới thì mới tỉnh dậy hay sao?

Tháng tư, nỗi đau còn mãi. 

 



 

Ý kiến bạn đọc
01/05/202014:37:06
Khách
This painful never end.....
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cây Phượng Vĩ Hoa Vàng có tên khoa học là Delonix regia var plavida thuộc họ Fabaceae có nguồn gốc từ Myanmar được sư trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng mang về Việt Nam, đầu tiên được trồng ở Huế một số cây dọc theo con đường ở phố Ngô Quyền, ngã ba Phan Bội Châu, Lê Lợi... đã thu hút nhiều du khách đến ngắm cảnh và chụp hình. Hoa phượng vĩ vàng có tuổi đời lên đến 5, 6 chục năm, cây nhỏ hơn hoa phượng đỏ, ít lá và hoa có màu vàng tươi bắt mắt, thường nở từ tháng giêng, tháng hai và nở rộ và khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, nên còn gọi là loài hoa “ chào mùa hè”. Hoa nở rụng tạo thành một “thảm hoa vàng” trên đường đi, gây nhiều ấn tượng cho những ai đi dạo trên những con đường này. Năm 2005, Công ty công viên cây xanh Sài Gòn mang về trồng một số nơi ở Sài Gòn nhưng chưa được nhiều.
Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ.
Tình yêu không phải là thứ ngôn ngữ nói ra, mà là ngôn ngữ để giữ kín! Tôi đã chôn kín hình ảnh đẹp nhất một đời người. Bây giờ người con gái năm xưa đang ở đâu, sống ra sao trong vạn nẽo đường trần hệ lụy. Có còn nhớ cơn mưa bong bóng chiều nào nơi hiên ngôi chùa nhỏ? Có còn tìm thấy những cơn mưa bong bóng bên đời? Hay tất cả đã phôi pha, đã trôi theo những giọt mưa bong bóng một thời đã mất?


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.