Hôm nay,  

Sài Gòn Đứt Đoạn

30/04/202010:20:00(Xem: 4079)


Ngà lật sách, đọc được một đoạn rồi bỏ xuống, không hiểu mình đang đọc cái gì.  Không biết chữ vô nghĩa vô cảm hay đầu óc Ngà tê liệt.  Ngà tự hỏi điều gì đang xảy ra cho mình.  Ngà bắt đầu đếm hơi thở - hít vào 4 nhịp thở ra 7 nhịp, không biết ai chọn ra những con số ấy nhưng mới hít vào chưa kịp đếm đến 4 thì bụng đã căng phồng như cóc, cố thêm e vỡ bụng.  Thở ra phì phò hít vào ì ạch.  Ngà nằm lâu trên giường, đêm vẫn trắng.

Ra phòng khách tìm một quyển sách cũ chưa bao giờ xem tới mang vào phòng.  Nam Hoa Kinh, trang đầu tiên mang chữ ký của anh Lâm, 1987 đọc lần thứ 3.  Ngà tần ngần.  1987, anh chỉ độ 40 ngoài, đọc quyển sách ấy lần thứ 3?  Ngà nhớ những ngày tháng ấy, những ngày tháng xa lìa đứt đoạn với một kiếp đời.  Hóa ra không chỉ mình Ngà thức thâu đêm, không chỉ mình Ngà đi tìm những gì xưa cũ, những bí mật của Sài Gòn đã mất.

Dọc theo sách là những ghi chú suy nghĩ của anh.  Ngà bồi hồi, bởi Ngà chưa bao giờ đến gần anh để biết một điều gì về con người ấy, bây giờ đến thật gần thì anh đã mất.  

Cũng như cô Thảo đã mất.  Cô mất lúc nào Ngà chẳng hay, chỉ biết tin nhờ cái tật tò mò gì cũng đọc.  Ngà nhớ mình đã lật tới lật lui tờ báo Người Việt như thể sẽ tìm thêm ra được chữ trên bài báo về ông giám đốc nhân sự mới của tỉnh.  Chính là anh ta, nét mặt ấy vóc dáng ấy, cái tên ấy, và những chi tiết về cha mẹ - trên đời làm gì có quá nhiều trùng hợp đến thế, và vậy là cô Thảo đã mất được 10 năm, nghĩa là năm cô chỉ khoảng 68 tuổi, còn quá trẻ.  Cô mất vì bịnh gì?  

Ngà thấy buồn mênh mang, bởi cô Thảo là người bạn đầu tiên của Ngà trên đất lạ.  Cô mang cả một Sài Gòn theo với cô, trong tính cách con người, trong cách cư xử với lũ trẻ như Ngà, và cả trong việc cô giễu cợt Ngà dùng chữ Việt Cộng.  Những khi cô Thảo ghẹo Ngà thấy hơi quê, nhưng Ngà tự hiểu, nỗi buồn của Ngà tựa như tự ái của đứa con nhà nghèo phải mặc quần áo chắp vá vạ vịt vì không có gì để mặc, và tủi phận khi bị chê cười.  Còn cô, chọc ghẹo Ngà vậy thôi chứ cô thường bảo Ngà trạc tuổi con trai lớn của cô.  Ngà hiểu, cô thương Ngà hai mươi tuổi bơ vơ trên xứ lạ không một tình thân, không như gia đình cô đủ đôi bên nội ngoại đã đi thoát từ 1975.  Nhưng cô nào hiểu, tuổi 20 Ngà không hề muốn khóc trao nỗi lòng dù với mẹ cha huống gì kẻ lạ, Ngà nào muốn ai thương hại mình khốn khó bơ vơ.  Cô càng thương Ngà càng muốn xa, và rồi Ngà đã bỏ cái hãng nhỏ ấy để lấy một việc làm khác có lương cao hơn và nhiều quyền lợi.

Ôi, cô Thảo, Ngà cứ cảm nghĩ mình thiếu nợ cô mà không biết nợ nần gì, và Ngà cũng đã muốn xa cô thật xa mà chả biết tại sao.  Cũng không phải là không biết, chỉ là biết mơ hồ.  Nếu màu da xác nhận với người địa phương cái gốc Á châu của Ngà thì những chữ trời ơi nơi cửa miệng xác nhận với người đồng chủng rằng Ngà đến từ xứ cộng sản.  Nhưng làm sao xóa được cái hậu Sài gòn khi Ngà đã ở lại 4 năm, đã rước vào đầu những chữ vớ vẩn dẫu thâm tâm không thể nào chấp nhận được họ.  Ngà không có lỗi dẫu nói sai, mà cô Thảo càng chẳng có lỗi khi nói đúng tiếng Sài Gòn.  Ngà và cô như bộ đồ trà đã bể vụn, 2 miếng sành vỡ không còn ghép lại được, bởi cô biết đến Ngà qua phim ảnh báo chí truyền thông và Ngà biết cô bằng quá khứ cho dẫu cô với Ngà là hai cảnh đời xa lạ.  

Quá khứ của cô là trường Marie Curi đài các, là ngồi cát xê quán kem Phi Điệp của gia đình, là anh thiếu úy phi công hào hoa, thông gia với chỉ huy trưởng Tân Sơn Nhất.  Sài Gòn của cô thật dày bóng mát.  Còn Ngà, cái trường Gia Long là kỷ niệm hiển hách và duy nhất của cuộc đời quá khứ.  Cái hiển hách ấy bao gồm 2 tấm áo dài tê tơ rông trắng mỗi năm và ngày ngày đạp xe ra phố giúp má dọn hàng.  Và Ngà cũng có hình bóng một người lính trong lòng dẫu không biết mặt và không thể là người tình.

Tuổi mười lăm nhiều mắc cở vụng về, ăn chưa no lo chưa tới.  Ngà đạp xe mini yên sau chở thùng đựng đá chứa trăm thứ lẩm cẩm từ cửa hàng lụp xụp về nhà.  Tới ngã tư đèn đỏ thì thùng nghiêng lệch sửa soạn đổ mà cái xe mini không cho phép Ngà dựng chân để sửa.  Xe Suzuki đỏ bên cạnh là hai người lính, anh ngồi sau lẹ làng nhảy xuống sốc thùng đồ trên xe Ngà lên ngay ngắn cột lại chặt chẽ.  Vừa kịp đèn xanh lên, anh thót trở lại yên sau và chiếc xe lăn nhanh theo dòng lưu chuyển.  Ngà không kịp nhìn mặt, anh không chờ lời cám ơn.  Tấm áo lính mờ bụi in xuống lòng đường Ngà đã qua, in vào quá khứ của Ngà một cách êm đềm không cầu gợi chút niềm thân mật.

Sài Gòn của Ngà rồi còn gập ghềnh hơn những năm sau chiến tranh.

Làm sao tránh được cái tranh giành chụp giựt cả trong những việc thật nhỏ mọn bởi chậm là đói.  Làm sao không dòm ngó người khác bởi sơ ý thì sẽ mắc nhiều cái vạ không biết đâu mà gỡ.  Có bao nhiêu lần Ngà thấy ngượng cho mình vì không muốn nói lập trường tào lao thì phải đành moi xấu nhau cái chuyện quần thấp guốc cao trong những buổi họp hành kiểm thảo.  Hoặc nói dối hoặc nói bậy, người ta không có quyền im, không có quyền Take The Fifth!!!  Ngà đã bỏ đi không luyến tiếc, đâu ngờ vết dao quá lớn quá sâu.  Ngà cứ ngỡ mình bỏ đi rồi thì Sài Gòn chỉ còn là mảnh đất chập chờn ẩn hiện lúc nhớ thương, chứ nào biết nó ngày đêm theo với cuộc sống của Ngà trên đất lạ.

Khác với cô Thảo yên tâm xây lập cuộc đời mới trên đất mới, Ngà sống quanh cái miệng chén Sài Gòn.  Tay nào đi làm kiếm sống, túi nào dành chút tiền lẻ gửi về, và những đêm nào mộng mị miệt mài đi tìm Sài Gòn đã mất. 

Ngà lại cầm cuốn sách của anh Lâm để lại đây lần bỏ qua Texas.  Sài Gòn của triết Đông triết Tây.  Sài Gòn của Chiến Tranh và Dân Tộc.  Những năm 80 ấy Ngà cũng đọc bá vạn thứ như vầy, chả biết tại sao mình muốn đọc, phải đọc.  Anh Lâm đã đi qua Sài Gòn bằng một phần của tuổi trẻ, Ngà chỉ mới bước khỏi thềm tuổi thơ.  Phải chăng mất cội rễ người ta phải tìm, và tìm đâu hơn là tìm ở những gì từ vạn thuở xa xưa đã nuôi lớn một dân tộc cho dẫu nó chỉ còn lưu lại trên trang giấy.  Nhưng Nam Hoa Kinh, Ngà nghĩ, cũng chỉ là một cứu cánh cho anh Lâm thấy vết thương của mình chẳng là gì cả sẽ không là gì cả, để lòng bớt đau hồn bớt mỏi, để thoát ra cái bế tắc của cuộc đời hiện tại.  Còn Ngà, ngày Ngà đi làm hết cả hơi, đêm về dỗ giấc ngủ bằng cuốn kinh thánh dày như tự điển Nguyễn Văn Khôn cũng qua được từng đêm.

***

Ngà thức dậy đã 11 giờ sáng.  Ngày bây giờ trọn vẹn của mình, không phải chạy với kim đồng hồ thật sướng.  Bao người hăm rằng sẽ buồn chán, sẽ bị trầm cảm, thiệt vậy không?  Ngà chỉ biết đời mình đã rẽ, rẽ vào chặng cuối cùng, và cho dẫu vào hơi sớm cũng chẳng có gì để luyến tiếc con đường bụi loạn vừa bỏ lại.  Hưu rồi mới thấy ra, mình đã quá mệt mỏi từ biết bao lâu nay và không hiểu mình đã loay hoay ra sao để cáng đáng những ngày 25 tiếng đã qua.  Nhưng thật buồn cười, hưu việc rồi cũng hưu cả nhà thờ - Ngà không còn nhớ lần cuối mình đến nhà thờ là lúc nào.  Ngà thấy dường như mình chẳng còn muốn gì và chẳng còn thấy có gì quan trọng.  Mới ngày nào còn thơ Ngà đã từng đếm tuổi – rằng đến cái năm mà mọi người lo tận thế mình vẫn chưa được nửa trăm năm!

Ngà vào bàn bắt đầu thoa kem bôi phấn.  Ngà vẽ mắt thật tỉ mỉ sao cho mắt lớn rộng ra để bù đắp cái co cụp tuổi đời đè xuống.  Vẽ mắt rồi lại chậm thêm phấn đặc che cái “thượng thọ” nơi quầng dưới mắt.  Rồi lại phấn nâu để thuôn má phệ.  Rồi lại mascara cho đen dài tấm mi thưa…  Ôi, nhan sắc.  Ngà bật cười nhớ lần đầu Má giúp đánh phấn, Má quét cho một lớp thật dày trắng xóa, mi mày chẳng còn thấy chi.  Kịp đến anh chàng phó nhòm chụp cho một loạt hình kiểu cũng cho người dặm lên mặt mình không biết bao nhiêu là những má hồng với chì với son với mày với tóc.  Ngà biết ra mình cần thấy chính mình và tự trang điểm cho chắc ăn!  

Mặc vào bộ quần áo trắng, giờ tha hồ mặc màu nhạt không sợ cọ quẹt lấm lem, Ngà lên xe lần theo địa chỉ để đón Mai.

Mai đích thị tiểu thư, đời nhung lụa nhàn nhã, sống bên kia cửa thiên đường mộng mơ nên dẫu học chung lớp mà có bao giờ Ngà bước lại gần để kết bạn.  Cả cái trường đại học theo đuổi Mai, từ trò đến thầy, từ bạn đến thù dẫu Mai yểu điệu tơ đào thì làm gì có kẻ thù - chỉ là những kẻ khổ đau không được kết bạn kết tình với một cánh sao kiêu sa.  Ngà không biết sau 40 năm xa cách thì Mai ra sao và cuộc gặp gỡ này rồi có trở thành tai vạ.  Nghĩ, rồi lòng chợt bâng khuâng.  Phân cách xã hội đã đeo đẳng hoài trong tâm trí mà Ngà chả bao giờ nhận ra.

Ngà bước vào, Mai đang nói điện thoại với bà dì, chỉ nhẹ nhàng đến ôm Ngà hôn lên má.  Xong cuộc nói chuyện, Mai đến xoay người Ngà ngắm nghía cười khanh khách, “Ngà vẫn như xưa!”  Cái hồn nhiên vui vẻ cười thành tiếng của Mai nói với Ngà rằng lớp vỏ e dè khép nép vì xã hội vì cách biệt của buổi đổi đời đã được bóc gột sạch.  Nơi trời đất mới, cánh mai nay được nở bung bừng tươi sức sống.  Mai mang theo mình cái ăn diện tỉ mỉ của những cô gái Sài Gòn xưa, như trong hàng ngàn hàng trăm những tấm ảnh mà đâu đó người ta đã lưu lại để bây giờ mang ra cho mình xem mà nhớ mà thương.  Ôi Sài Gòn của Ngà.  Ôi tuổi thơ của Ngà.  Ngà nào đã được biết gì, được đi đến đâu được sống bao nhiêu trong cái thành phố hằng thương tưởng ấy.  Ngà như đóa hoa chưa kịp nở đã phải bị héo quặt bứt rời mà hồn chẳng cam nên cứ hoài lưu luyến.

Hai đứa vào quán ăn đã hẹn trước với một vài bạn.  Tiếng cười gọi tiếng cười, chuyện quẩn quanh vẫn là những gì đã xảy ra cho từng đứa khi mọi người đứng bên nhau mà lòng văng muôn ngả.  Những mảnh vụn được dần ghép lại để Ngà thấy ra lứa của Ngà đã thiếu mất một phần niên thiếu.  Tâm trí Ngà lại từ từ trôi giạt, tiếng cười nói như những mảnh vụn bánh mì rơi xuống mặt bàn.  Ngà nhìn Mai, nhìn chị Thi, nhìn Thiện, nhìn ngược lại mình.  Ngà buồn rầu nghĩ mình chỉ còn là con ma sống dai trên dương thế.

Con ma ấy ngày ngày qua phố Sài Gòn Nhỏ, đi len lỏi trên lề hẹp đầy những quầy bán sách báo vàng nhang ảnh tượng quần áo thời trang từ Việt nam gửi sang, những loại cây cảnh quê nhà phải ương trồng 5,7 năm mới ra hoa trái, những rổ rau quả các cụ lấy từ vườn nhà đem bán mua vui, để thấy bồi hồi tưởng mình đi trên khúc đường Lê Thánh Tôn ngày cũ với tủ kính mát, sạp hoa ni lông, sạp áo thun, sạp nón, sạp giày, tiệm thuốc tây, tiệm huy chương An Thành, tiệm quần áo trẻ con, tiệm vân vân.  À, tiệm thuốc tây, tiệm thuốc tây có cô chị cao lớn mặc áo dạ hội vai trần bó ngực dài phết đất, má phấn môi son đẹp như tài tử ngoại quốc đi dạ vũ ở Maxim, có cô em nhỏ người xinh như búp bê cũng không kém phần lộng lẫy một lúc lâu sau mới ra tưởng như em là cô bé lọ lem mãi rồi mới lựa thóc đậu xong để được bộ quần áo kiêu sa mà đi phó hội.  Ôi, Sài Gòn của Ngà, cái Sài Gòn xưa với đủ mọi sắc màu tươi thắm lấm lem, cổ tích với dân dã, ngọt ngào lẫn tủi cực, cái Sài Gòn mà người ta nhất quyết bôi xóa, nó đã mọc lên ở đây, ở cái khe đất người bản xứ không chú ý, như những cây me con con đã nhờ gió thổi hạt bay tứ phương rồi lén lút trồi lên ở bất cứ rãnh đất trống nào, trong khi Sài Gòn ngày nay ở quê nhà lại như những con phố ngoại quốc lòe loẹt cửa hàng thời trang với những tòa nhà chọc trời che hết thổi bay hết các sắc mùi quê hương yêu dấu.  

Đâu chỉ cô Thảo, anh Lâm, những người mà Ngà đã biết đã gặp trong buổi đầu đời trên đất lạ nay mất đi.  Chính Ngà cũng biệt tăm, như những khe trống của đường ranh giới đoạn nổi trên tấm bản đồ của một thành phố đã mất.



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
An cười, nhưng chợt khựng lại với ý nghĩ không biết bao giờ mới có thể cùng Mẹ đến những chỗ đông vui như vậy. Hơn hai tuần lễ thực hiện điều “ở yên trong nhà” mà thấy lâu như cả năm. Mặc dù An đã kéo hết công việc về làm tại nhà, không phải đi đến sở, An thấy vẫn còn nhiều thì giờ trống. Chính là những lúc trước đây dành cho việc chạy bộ tập thể dục, là những lúc đẩy xe cho Mẹ đi dạo để hít thở chút khí trời trong lành, là những buổi họp mặt bạn bè, đàn ca hát xướng cho vui… Nhiều lắm! Khi bình thường không ai để ý những điều đó, đến khi phải sống trong một bầu không khí mới, sẽ thấy có sự khác biệt rõ ràng.
Thắp nhang tụng thời kinh công phu buổi sáng, tôi mỉm cười đón tia nắng mai đầu Xuân đang lạnh tràn lên chiếc áo tràng và thành tâm cầu nguyện “âm siêu dương thái, dịch bệnh tiêu trừ” cho đệ tử và chúng sanh không phân biệt. Tiếng chuông hồi hướng đưa tôi vào ngôi chùa Tự Tại để được sống thêm một giờ, một ngày hay bao lâu nữa cũng được trong thanh tịnh và an vui.
Để tưởng nhớ đến các đồng bào Việt Nam đã bỏ mình trên bước đường đi tìm tự do Elizabeth Becker (When the War Was Over, 1986) cites the UN High Commissioner on Refugees: 250,000 boat people died at sea; 929,600 reached asylum . Bà Elizabeth Becker trong quyển sách "Khi chiến tranh đã chấm dứt , 1986" dẫn chứng lời của vị Đặc Ủy Tối cao Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc: 250.000 thuyền nhân chết trên biển cả; 929.600 người được tỵ nạn. Tâm trạng hắn lúc đó thật là phức tạp. Hắn vừa hồi hộp, vừa lo lắng, vừa bùi ngùi đứt ruột vì phải xa lìa đất mẹ, nhưng đồng thời hắn cũng cảm thấy vô cùng phấn khởi náo nức khi nghĩ đến mỗi bước đi tới sẽ là những bước đưa gia đình hắn đến gần một chân trời mới đầy tự do và hy vọng… Tất cả mọi người đều bị ếm trong khoang ghe, không được gây tiếng động. Mấy cháu bé đều bị cho uống thuốc ngủ trước đó hết. Trong khoang ghe, tất cả được chia nhau ngồi chen chúc dọc theo hai bên vách. Mọi người đều im lặng.
Biển mùa hạ xanh biếc, màu xanh tưởng chừng như thông suốt từ đáy biển lên tận bầu trời, cái màu xanh mát mắt lạ thường, chỉ nhìn thôi đủ thấy khoan khoái, bao nhiêu bực dọc và phiền não như tan trong làn gió. Hàng ngàn người đang vùng vẫy trong làn nước xanh mát ấy.
Mỗi lần mùa đông trở về với Cali, tôi lại bồi hồi nhớ lại những mùa đông ở một nơi khác. Không phải là những mùa đông êm ả, thân quen của Đà Lạt, nơi tôi sinh ra và lớn lên, mà là những mùa đông lạnh lẽo, vô cùng khắc nghiệt ở một nơi khác, xa lăng lắc. Nơi chốn đó đã cho tôi bao nhiêu kỷ niệm vui buồn, nhớ nhung của tuổi thanh xuân. Thành phố nhỏ bé đó có tên là Komsomolsk, ở tận xứ Ukraine xa tít mù, nơi tôi đã sống và làm việc trong suốt bốn năm trời, và cũng là nơi đã hun đúc nên một tình yêu cho mãi đến bây giờ.
Trong tình hình "cấm túc tại gia", hầu hết mọi người ở nhà, không lái xe đi xa, tai nạn xe cộ gần như không có, vì đường nhỏ, đường lớn đều "đường thênh thang gió lộng một mình ta", công ty AllState sẽ hoàn lại 600 triệu tiền bảo hiểm cho những người mua bảo hiểm xe hơi của họ. Hy vọng AAA, Công ty bán bảo hiểm lớn và lâu đời nhất ở Mỹ cũng sẽ theo bước chân của AllState . Điều buồn nhất là theo nhiều ý kiến chuyên môn, phải mất một khoảng thời gian dài, rất dài trước khi cuộc sống trở về bình thường. Coronavirus không chỉ đến rồi đi, mà còn ở lại và tung hoành ngang dọc. Đời sống vốn buồn nhiều hơn vui,trong tình hình này dường như phải đổi thành đời sống vốn dĩ buồn lo.
Cứ mỗi độ Xuân về là Phong nhớ lại một mùa Xuân kỷ niệm vào đầu thập niên 60 lúc chàng đang học lớp Đệ Nhất trường trung học Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho. Thuở ấy, mặc dù theo học ban B nhưng Phong lại rất thích văn chương thơ nhạc nên thường tới nhà cậu 9 Hoàng là cậu ruột của Phong để học đàn vì Cậu 9 rất giỏi về băng cầm và Tây Ban Cầm. Sự giao du của hai cậu cháu thân tình tới độ có lúc cả hai tưởng chừng như là hai anh em mặc dù cậu lớn hơn Phong tới 13 tuổi và ngay cả đứa con trai lớn của cậu là thằng Long chỉ nhỏ hơn Phong có 7 tuổi.
Trời ngả chiều nhưng mặt trời vẫn sáng rực rỡ. Nắng vàng ấm và gió nhẹ khiến phố xá thêm êm đềm tươi mát, mà đường phố vắng tanh chỉ lác đác vài chiếc xe vài bóng người. Đại dịch và chỉ thị giới hạn sinh hoạt đã trả cho thành phố cái thanh bình yên ắng. Ngà nhớ những bức ảnh Sài Gòn xưa đăng trên những trang facebook, cái thuở thái hòa những năm 1930’s, 40’, và 50’s, khi Sài Gòn chỉ nhiều nhất một vài triệu dân và mọi sinh hoạt dường như nhỏ nhẹ.
Gương mặt thoáng nụ cười nhẹ nhưng lộ vẻ mãn nguyện, khi một làn sóng đê mê lan toả khắp thân thể. Smith Baron cảm nhận có bàn tay ai đó ve vuốtthân thể mình, bàn tay vô hình áp lên má và ôm ấp lấy ngực… Smith Baron trở mình, mở mắt vì tiếng con puppy sủa ăng ẳng bên giường, thoáng thấy bóng mờ mờ như nhân dạng người đang bước về hướng cầu thang.
Thiếu Tá Lê Hữu Nhân với giọng nói đều đều, có vẻ mệt mỏi vì mất ngủ, anh tự giới thiệu và nói về quá trình anh đi trình diện vào ngày ba mươi tháng Tư bảy lăm: - Tôi là lính địa phương quân đóng ở Bến Tre trước bảy lăm. Tôi bị đưa đi tù cải tạo tận ngòai Bắc: Hoàng Liên Sơn rồi Lào Kai. Đầu năm tám mươi họ chuyển chúng tôi về Nghệ Tĩnh, Lý Bá Sơ. Cuối năm tám mươi tôi được ‘lệnh tha’ thuôc diện sức khỏe. Đi tù cải tạo ở ngòai Bắc nghề chính của tôi là sẻ gỗ. Tôi bị tai nạn cây đè, gẫy kín xương đùi trái…
Một y tá trong Phòng Chăm Sóc Đặt Biệt (ICU) làm việc tại Bệnh Viện của Đại Học Chicago nói với CNN rằng cô sợ hãi khi nghĩ đến một tuần nữa không biết ICU sẽ ra sao, khi nghe người đứng đầu Cơ Quan Phục Vụ Y Tế Công Cộng Hoa Kỳ nói rằng Chicago là một trong những điểm nóng đại dịch corona đang bùng lên tại Hoa Kỳ. “Số bệnh nhân Covid mà chúng tôi nhận gia tăng nhanh mỗi ngày và tất cả chúng tôi đều lo lắng điều gì sẽ xảy ra khi nó ngày càng tồi tệ hơn,” theo cô y tá không muốn nêu danh này cho biết. Và cô ấy không phải là người duy nhất lo sợ, theo cô. “Khi tôi làm việc trong đơn vị Covid, một số y tá đã không muốn ăn hay uống cả 12 giờ đồng hồ bởi vì họ sợ phải tháo ra và mặc vào dụng cụ bảo vệ cá nhân PPE,” cô đã kể lại như thế. Cô thuật lại rằng rất là khó chịu để nhìn thấy sự tổn thất mà vi khuẩn corona gây ra cho những gia đình không thể thăm người thân đang nằm trong bệnh viện. “Thật là đau lòng cho những gia đình của các bệnh nhân này phải nằm ở nhà trong lúc người thân của họ
Mợ nằm im ắng, nét mặt bình thản. Làn da xanh tái và hai má lõm sâu, mợ không còn là mợ của hằng ngày. Mọi người chung quanh đi lại nói năng lao xao một cách nhẹ nhàng, và lũ trẻ trêu chọc nhau cách đó mươi thước cũng không làm dậy lên được khoảng trống âm thầm chung quanh mợ.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.