Hôm nay,  

Hội Đêm Rằm

07/05/202009:56:00(Xem: 3985)

 


 Chùa Châu Lâm nằm ẩn mình dưới những tàng cây bồ đề xanh mướt quanh năm, trước sân là mảnh vườn đủ hoa xinh cỏ biếc, rộn ràng tiếng chim. Chùa tuy không to lớn bề thế nhưng rất đẹp với lối kiến trúc truyền thống, tuổi đời cũng gần trăm năm, tuy qua nhiều lần tu sửa nhưng vẫn giữ nguyên vẹn dáng vóc thuở ban đầu. Chùa nằm giữa lòng Hạnh Hoa trấn, tháng năm đã lên màu rêu xanh. Dân trong trấn sống về chùa cầu nguyện, tịnh tâm, phó hội…chết gởi cốt nghe kinh, hưởng hương khói, dựa Phật. Người làng quen thuộc đến độ có người bảo:” mỗi khi lên chùa, có nhắm mắt đi cũng không lạc đường”.

 Sáng hôm nay chùa trở nên sáng lạn vô cùng, lá đaị kỳ năm sắc bay lất phất trong nắng gió ban mai, những dây cờ ngũ sắc giăng mắc khắp sân chùa, lễ đài trang hoàng rất đẹp và trang nghiêm. Sau khi ba hồi chuông trống bát nhã vang lên, tiếng trống thì thùng trầm hoà với tiếng chuông ngân bổng thánh thót như đánh thức tâm niệm của mọi người và vang vọng đến những cung trời. Tiếng niệm danh hiệu đức bổn sư hoà với tiếng khánh bay cao bay xa vượt cả không gian. Sau khi thầy trụ trì đọc lời khai mạc là những tiết mục muá dâng hoa cúng dường của các em nhỏ, lễ tụng kinh và lễ tắm Phật diễn ra trong không khí thành kính, trang nghiêm. Lòng người xúc động tạ thâm ân của đức bổn sư. Hoà thượng Thanh Đồng Chương ban đạo từ:

 - Hôm nay ngày Phật đản sinh, hàng tứ chúng về đây dâng hương hoa cúng dường Thế Tôn. Lão tăng tôi có đôi lời nhắn nhủ cùng mọi người: Thế giới này vốn tăm tối đã lâu, con người, phi nhơn, chư thiên quanh quẩn trong sáu đường. Từ khi Thế Tôn thị hiện ở cõi Sa-bà, khai phá con đường giải thoát, đem laị lợi lạc  cho hàng trời người. Ánh sáng chánh pháp xua tan vô minh , pháp vốn chỉ có một nhưng vì căn tánh chúng sanh thiên sai vạn biệt nên mới có tám vạn bốn ngàn pháp môn. Hơn hai mươi lăm thế kỷ truyền thừa, chánh pháp của Như Lai không tránh khỏi những sai sót, thậm chí sửa đổi và thêm thắt. Chánh Pháp của Thế Tôn truyền đến đâu thì mang màu sắc văn hoá bản địa và phù hợp với đặc tính của cư dân nơi ấy, đó là tính khế lý, khế cơ, phù hợp nhân tâm. Có nhiều pháp môn tu học, nhiều trường phái Phật giáo khác nhau nhưng tất cả cùng công nhận cái cốt lõi: Tứ diệu đế, bát chánh đạo, thập nhị nhân duyên, ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Dù tu pháp môn nào cũng phải bám lấy cái cốt lõi ấy thì không thể sai lạc. Chánh pháp chỉ có một vị giải thoát. Ngày khánh đản đức từ phụ, chúng ta dâng lên hương hoa, đèn nến để cúng dường, thực hiện các nghi lễ… là để tỏ lòng thành, phép tắc tôn giáo. Muốn báo ân Phật một cách chân thật nhất, đúng đắn nhất, hữu hiệu nhất đó là làm theo những gì Phật dạy. 

 Buổi sáng mừng ngày Phật đản sinh, trời trong sáng như thanh minh, lễ tiết trang nghiêm, kính cẩn và hoan hỷ.

Dòng nước thơm tắm pho tượng Thích Ca sơ sinh như tẩy đi những cấu uế phiền não, những sân si tham đắm của đời thường. Lòng người thư thái, an hoà như giải thoát, ít ra trong giây phút hiện tại này.

 Âm thanh niệm danh hiệu bổn sư vang khắp sân chùa, xuyên qua tán lá bồ đề, bay lên hư không, trời xanh dường như xanh hơn, mây trắng tụ hoá vô số hoa, từng đàn chim trắng bay qua giữa bầu trời. Lòng người hân hoan liên tưởng như chư thiên đồng hội tụ về đây đảnh lễ Phật, mừng ngày đản sinh.

 Buổi chiều có thời pháp thoại và vấn đáp, một Phật tử nêu câu hỏi:

 - Phật Thích Ca Mâu Ni là giáo chủ cõi Sa-Bà, là một vị Phật hiện tại đang giáo hoá, tại sao Tịnh Độ laị tu niệm hồng danh Phật A Di Đà?

 Hoà thượng Thanh Đồng Chương cười hiền hoà:

 - Phật Phật đạo đồng, đồng đức, đồng năng, đồng giải, đồng hành hoàn toàn không có sai biệt và phân chia như tâm chúng ta. Niệm một vị Phật cũng là niệm tất cả chư Phật, sở dĩ chúng ta niệm Phật A Di Đà là  căn cứ vào chỉ dạy của tam kinh Tịnh Độ: A Di Đà, Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lương Thọ. Kinh Kim Cang cũng có câu:” Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” với chúng ta thì “ vô sở trụ” khó quá, thật khó, khó hành, khó hiểu chỉ có cách trụ vào câu Phật hiệu là dễ nhất, dễ tu, dễ hành…Cái tâm chúng ta luôn loạn động như khỉ chuyền cành, như ngựa chạy rông. Cái tâm chúng ta chấp vào sắc-thanh-hương-vị-xúc-pháp, dính mắc ở Tài-sắc-danh-thực-thùy, cuốn theo dòng bộc lưu lục dục thất tình. Bây giờ niệm danh hiệu A Di Đà, trụ vào câu Phật hiệu, dùng phương pháp trụ vào Phật hiệu để buông bỏ những thứ kia thì còn gì tuyệt diệu hơn!



 Thầy dứt lời thì một Phật tử khác laị hỏi:

 - Chúng con lâu nay niệm Phật cũng ít nhiều an lạc, bây giờ có nhiều ý kiến cho là Tây Phương Cực Lạc không có Thật, không có Phật A Di Đà. Chúng con thật hoang mang, nhiều người thối thất tâm. 

 Thầy từ tốn:

 -Vấn đề này không mới mẻ gì, tuy có lúc lắng và cũng có lúc nổi lên. Vũ trụ vô cùng tận, hành tinh chúng ta chỉ như một hạt buị, thế giới không biên tế, cái thấy biết chúng ta quá nhỏ bé. Không có ai dám khẳng định ngoài thế giới loài người còn có thế giới khác hay không! Nhà Phật có câu:” Nhất thiết duy tâm tạo”, sơn hà đại địa, tinh tú, con người, muôn loài, trời, thần, phi nhân…không ngoài một tâm niệm. Vậy cho thế giới này có thế giới khác không có thì câu kinh kia để vào đâu? Kinh sách cũng thường viết:

 “Thập phương hư không bất ly đương xứ

     Cổ kim tam thế bất ly đương niệm”

 Thời gian vô thủy vô chung, không gian không ngằn mé, quốc độ biến thiên vô cùng, tử-sanh bất tận… tất cả không ngoài một niệm tâm! Vậy thì sao có thể bảo thế giới này có thế giới kia không? Phật này có Phật kia không? Có những sự việc ở ngay hiện đời, trước mắt mà còn chưa thấu rõ thì nói gì đến tha phương thế giới, ba ngàn thế giới, vô cùng tận thế giới. Nhà thiền có câu:” Tự tánh Di Đà duy tâm tịnh độ” tâm tịnh thì độ tịnh, mình niệm Phật mà tâm bình khí hoà thì cứ thế mà niệm. Mình niệm Phật mà giảm bớt sân hận, si mê, tham lam thì cứ thế mà niệm. Mình niệm Phật mà sống giữa đời an lạc thì cứ thế mà niệm. Thà bỏ lý lấy sự vẫn có ích, nếu mà chấp lý bỏ sự thì nguy to! 

 Thầy vừa trả lời xong thì đaị chúng vỗ tay giòn dã, tiếng vỗ tay tưởng chừng như không dứt.

 Đêm Rằm tháng Tư, chùa Châu Lâm lung linh trong muôn ngàn ngọn nến, hoa toả hương, mùi trầm thoang thoảng… tượng bổn sư ngồi an nhiên tự tại dưới cội bồ đề. Một cảnh tượng khiến nhiều người liên tưởng đến một thời pháp hội ở tịnh xá Kỳ Hoàn. Năm ấy, khi Thế Tôn còn tại thế, tịnh xá Kỳ Hoàn có pháp hội lớn. Vương tôn công tử và bá tánh nô nức cúng dường hương thơm và đèn. Có một bà lão ăn mày vét hết túi chỉ được đồng bạc, bà mua đèn và ít dầu đem đến cúng dường Phật. Khi đêm về khuya, các vị tăng đi tắt đèn, bao nhiêu ngọn đều tắt hết, duy chỉ có một ngọn đèn không sao tắt được, có vị vận thần thông mà cũng không tắt được, càng quạt thì càng sáng hơn. Các vị tăng bèn vào thưa với Phật, Phật bảo "Đó là cây đèn cúng dường của bà lão ăn mày, đó là ngọn tâm đăng, các ông không thể dập tắt, không có ai có thể làm tắt được."

 Cảnh tượng chùa Châu Lâm đêm rằm tháng tư thật đẹp và ảo diệu, nhiều người buộc miệng:

 - Chùa Châu Lâm đêm nay sao giống tịnh xá Kỳ Hoàn quá vậy! 

  Một tháng trước đây, khi chuẩn bị công việc tổ chức lễ mừng ngày đản sinh Phật, nhiều Phật tử muốn chùa làm lễ thả hoa đăng ở hồ Tịnh Thủy trước chùa. Thầy ngần ngừ sau đó bảo:

 - Kể cũng hay, cũng đẹp nhưng trước là đèn sau thành rác sẽ làm dơ hồ, ô nhiễm môi trường. Hễ việc gì mà tổn hại đến thiên nhiên, đời sống tự nhiên hay con người thì đều là ác pháp cả. Thả hoa đăng đẹp mắt thật, đẹp trong canh giờ nhưng di haị lâu dài, ý tưởng thả hoa đăng mừng đản sanh Phật cũng hay nhưng không thiết thực. Chi bằng hãy thường xuyên niệm Phật, “ không làm các việc ác, hãy làm các việc lành, giữ tâm ý trong sạch”, luôn làm theo lời Phật dạy ấy là cách cúng dường cao quý nhất, ấy là cách báo ân Phật tốt nhất, ấy cũng là bản hoài của chư Phật nói chung của Phật bổn sư Thích Ca Mâu Ni nói riêng.

 

TIỂU LỤC THẦN PHONG

Đồ Bàn thành, 15/04/2020

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tháng 7 năm 1954, hiệp định Genève chia đôi đất nước Việt Nam, người Pháp thất bại ở mặt trận Điện Biên Phủ, trả lại chủ quyền miền Bắc cho việt cộng. Việt Minh kéo từ mạn ngược và khắp nơi chúng đã ẩn náu về tiếp thu thủ đô Hà Nội và sau đó, toàn thể các tỉnh thành phía Bắc cho vào tới vĩ tuyến 17. Chúng ta mất một nửa giang sơn. Pháp có 80 ngày chuyển giao Hà Nội, 100 ngày giao Hải Dương, 300 ngày trả Hải Phòng, rồi chấm dứt. Việt cộng nằm vùng trong miền Nam cũng tự do ra Bắc tập kết, dù rất ít, nhưng làn sóng người miền Bắc di cư vào Nam thì đông nườm nượp… như nước vỡ bờ, họ chạy trốn, họ sợ cộng sản, họ sợ cái chế độ tam vô đang rượt đuổi sau lưng. Họ ra đi lánh nạn, đa phần phải bỏ lại gia sãn của cải, mồ mả cha ông… họ ra đi nhanh, mau lẹ nhất là các thành phố Hà Nội Hải Phòng, các xứ họ đạo công giáo Bùi Chu, Phát Diệm… có người vội vã đến chỉ ôm theo một tấm ảnh đức mẹ Maria… họ rủ nhau cứ xuống Hải Phòng là có tàu há mồm, há mồm chờ sẵn, chờ họ lên tàu và chở họ vô miền Nam.
Hà Nội có mùa Thu, Ninh Thuận quê tôi ở đó chỉ có hai mùa nắng gió. Buổi sáng mai hôm ấy mẹ tôi âu yếm nắm lấy tay tôi dẫn tôi đi qua con đường làng Xóm Động, rồi đến con đường cái quan tráng nhựa. Mẹ tôi nắm lấy tay tôi dẫn tôi đi qua cầu "Ông Cọp", rồi cầu "Nước Đá" và đến tận cửa trường tiểu học Phan Rang. Tôi cúi đầu đi qua cổng trường có tấm biển lớn có hàng chữ Tây: "Indochine Francais- École Primaire De Phanrang"...Giữa sân trường có cột cờ với lá cờ ba màu của Pháp treo tận chót vót. Trường của tôi hình như vừa quét nước vôi và có cửa kiến, tôi thoáng nghe mùi cửa sổ mới sơn.
Trước năm 1975, ngày đó tôi còn là một cậu thiếu niên ham thích đọc tiểu thuyết trinh thám mạo hiểm của Người Thứ Tám với nhiều câu truyện phiêu lưu, hồi hộp của chàng điệp viên Z-28 đào hoa, đẹp trai Tống Văn Bình. Tôi còn nhớ chàng điệp viên tài giỏi, võ nghệ siêu quần của chúng ta được phái đi thi hành một nhiệm vụ tình báo tại Maldives, một đảo quốc mà khi chúng ta nhìn về phía chân trời, nơi Trời và Biển gặp nhau, vì chính chúng ta cũng đang sống trên mặt nước...
Khoảng gần ba giờ chiều tôi rời khách sạn Ninh Kiều, cuối đường Hai Bà Trưng, nhìn ra sông Cần Thơ. Trời hanh nóng và đứng gió. Giấc ngủ trưa dài sau bữa ăn nhẹ, khiến tôi tỉnh táo và phấn chấn hẳn lên. Hãy còn sớm, hai giờ nữa tôi mới có hẹn với gia đình người bạn thân ở nhà hàng Hoa Sứ. Thời gian đủ để tôi dạo chơi và ghé chợ Cần Thơ tìm mua một vài thứ đồ lưu niệm… Vài cơn gió nhẹ mang theo hơi nước từ dòng sông thổi dọc theo công viên thật dễ chịu. Bến Ninh Kiều ngày nay thật khang trang và đẹp. Đi dọc mé sông, từ đây tôi có thể nhìn thấy chiếc cầu treo Cần Thơ sừng sững, hiện đại. Phía trước khách sạn là nhà hàng nổi và không xa là chiếc du thuyền nhà hàng lộng lẫy về đêm. Du khách vừa ăn tối vừa dạo cảnh quanh sông và có cảchương trình văn nghệ thật đặc sắc của miền Tây sông nước
Nàng tỉ tê với nhỏ bạn về những cuộc “thảo luận” sôi nổi của vợ chồng nàng. Bằng mọi giá, nàng muốn giữ cho đứa con có tuổi thơ tươi đẹp, hạnh phúc. Bao năm qua, đã có lúc nàng buồn rầu nghĩ, mình như con gà đẻ trứng vàng. Chỉ được việc, nhờ biết đẻ trứng vàng. Nàng không dám đề cập đến chuyện tiền bạc, sợ làm chồng buồn, cho rằng nàng cậy sức mạnh kim tiền lấn áp chồng. Nàng rất may mắn trong cuộc sống ngoài xã hội. Chưa ra trường, nàng đã nhận được hợp đồng làm việc với một trong những hãng hàng đầu của nước Đức. Ngược lại, chồng nàng quá lận đận. Cả năm trời, anh chạy đôn, chạy đáo tìm việc, mà vẫn phải nằm nhà. Nàng tự nhủ, tài lộc trời ban, gia đình sống thoải mái, chứ tính toán chi mà mất hòa khí vợ chồng. Tháng tháng, nàng thanh toán nợ to, nợ nhỏ, hàng hàng lớp lớp chi phí tất yếu của xã hội văn minh.
Xíu tiếp tục cuộc hành trình bất tận của mình, đừng tưởng Xíu chơi hoang hay đi rông, phiêu bạt giang hồ vô tích sự. Chính sự lang bạt kỳ hồ của Xíu và anh em nhà Xíu đã đem lại mưa thuận gió hòa, đem lại nguồn sống cho loài người và vạn vật muôn loài. Lần này Xíu quay về lại góc Đông Nam Á châu, nơi có dòng sông thiêng liêng chảy qua.
Tôi không phải là thi sĩ, nhưng chắc cũng giống như những thi nhân của đất Việt, thường gửi gấm tâm tình u uất vào những vần thơ của mình. Những bài thơ viết xong, tôi cặm cụi chép vào nhật ký, xen vào những lời than thân trách phận, hờn mây khóc gió. Cuốn nhật ký, tôi cất kỹ trong ngăn kéo ở cái table de nuit cũ kỹ bên cạnh chiếc giường nhỏ trong phòng ngủ. Cũng may là má chưa lục ra đọc lần nào...
Cuối cùng, vợ tôi cũng đồng ý một cách vui vẻ cho tôi lấy vợ bé. Một hành động vượt ra ngoài quan niệm ái tình nghiêm túc của bà. Vợ bé tên Hà, do vợ lớn đặt. Tên khai sinh của Hà là Đỗ thị 451. Vợ lớn nói, số này hên, cộng lại là 10. Hà lai Ái Nhỉ Lan. Ở lứa tuổi gần ba mươi, chưa lấy chồng, không có con, một thân hình phước đức cho bất kỳ người đàn ông nào, sáu mươi bảy tuổi, như tôi.
Kế hoạch của anh ấy thật là hợp lý: anh ấy sẽ giấu tôi phía sau cốp xe Austin-Healey, một chiếc xe dạng rất thấp mà anh vừa mới mua bên Áo và đã tháo kính che gió ra. Chúng tôi chỉ cần đi qua bên dưới rào chắn, trong khi mấy tên cảnh sát nhân dân Vopo*2/ thì bận lo kiểm tra giấy tờ như thường lệ. Rolf đã tính toán nhiều lần, tính đi tính lại, anh lại còn xì bớt hơi các bánh xe: như thế cái xe sẽ không vượt quá 90 cms bề cao. Anh chỉ cần cúi đầu xuống, nhấn mạnh vào cần tăng tốc, thế là chúng tôi sẽ qua bên kia địa phận đất Mỹ! Một "bờ thành" nhỏ làm bằng gạch sẽ bảo vệ tôi khỏi những lằn đạn có thể xảy ra. Và rồi sau đó là tự do...
(Viết cho bằng hữu tháng tư 1954. Chúng tôi 300 thanh niên trình diện trại Ngọc Hà động viên vào Đà Lạt cùng hát bài ca Hà Nội ơi, năm 20 tuổi chưa từng biết yêu. Sau 21 năm chinh chiến, tháng tư 75 khóa Cương Quyết hát tiếp. Bao nhiêu mộng đẹp, tan ra thành khói, bay theo mây chiều. Ngày nay, tháng 7-2024 vào nursing home thăm bạn cùng khóa. Ba anh bạn đại tá lữ đoàn trưởng mũ xanh mũ đỏ cùng đại đội võ bị ra đánh trận Quảng Trị chỉ còn Ngô Văn Định. Ghé lại bên tai nghe Định hỏi nhỏ. /Bên ngoài còn mấy thằng,/ Còn liên lạc được 4 thằng. Ngoài 90 cả rồi.Tôi báo cáo./ Thằng Luyện mới đến thăm./ Định nói./ Luyện nhảy Bắc 21 năm biệt giam mà còn sống. Hay thật./ Tôi nói./ Bạn yên tâm. Ngoài này còn thằng nào chơi thằng đó./ OK bạn còn sống lo cho anh em.)
Năm Giáp Ngọ 1954 có thể gọi là năm đại diện cho tuổi thơ tôi. Chỉ trong một năm 1954 đã có quá nhiều biến cố xảy ra dồn dập trước mắt chú bé mười hai tuổi mà suốt trong đời chưa có thời điểm nào đặc biệt như vậy...
Dẫn nhập: chuyện này được viết khi sắp tròn nửa thế kỷ Sài gòn bị mất tên. Qua một phần đời của một vị Thầy dạy Toán, gắn liền với nhiều thăng trầm của lịch sử từ Việt Nam đến Mỹ, cùng nhìn lại những vết chân xưa với hy vọng các thế hệ kế tiếp học hỏi được nhiều điều để đưa được đất nước trở về vị trí "minh châu trời Đông"


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.