Hôm nay,  

Kiềng Ba Chân

01/06/202016:43:00(Xem: 4312)

 



 Tiếng khánh réo rắt ngân dài và lan toả trong không gian như những vòng sóng tròn, càng loang xa vòng tròn càng lớn, bao trùm cả đất trời. Âm thanh bay lên tận trời xanh, xuyên thấu vào lòng đất như mũi dùi chọc thủng cả địa ngục A Tỳ. Bọn quỷ đói rùng rùng kéo về hướng phát ra tiếng khánh, chúng đông hơn quân Nguyên, hình thù quái dị, trông gớm ghiếc vô cùng. Cứ thường lệ mỗi buổi chiều, chúng ngóng đợi tiếng khánh để được ăn bữa chiều.
 

 Chùa Tâm Tịnh rất nhỏ bé và đơn sơ, vốn là ngôi nhà cũ cải gia vi tự,  chánh điện nhỏ, tôn trí pho tượng Thích Ca ở chính vị và sau lưng là bộ Tây Phương tam thánh. Vật có giá trị nhất có lẽ là quả đaị hồng chung, quả chuông to bự sư vừa mới đúc năm rồi, màu đồng còn sáng choang chưa lên màu thời gian. Tuy là chuông mới nhưng âm thanh laị có nội lực không khác những quả chuông vài trăm tuổi, tiếng chuông đã sớm trở thành một điều không thể thiếu của cư dân khắp các tổng quanh chùa. 

 Tiếng khánh vừa dứt thì bọn quỷ đói đã đầy sân, chúng ồn ào, nhốn nháo trông lộn xộn quá. Con qủy đầu đàn tên là Hoả Diện Bạch Trảo Nha gằn giọng:

 - Chúng mày im lặng và trật tự, ăn uống chẳng mất phần! đứa nào quậy phá thì Hộ Pháp đập cho một chùy thì ba má chúng mày cũng nhận không ra. 

 Một con quỷ nữ bước laị gần nó, hình dong cũng rất dễ sợ không khác gì bọn quỷ kia cả nhưng nếu tinh ý thì sẽ thấy nó là một con quỷ đẹp nhất trong bọn, nét son sắc má đào của nó ẩn dưới lốt quỷ. Nó cất giọng ỏn ẻn:

 - Đaị vương, em đói quá, em phải ăn trước! 

 Hoả Diện Bạch Trảo Nha gật đầu:

 - Dĩ nhiên, em phải trên trước bọn chúng! 

 Những con quỷ đứng gần nghe thế bèn lùi ra xa hơn một tí, có đứa không hài lòng nhưng không dám ho he. Ni sư Minh Lý vẩy mấy muổng cháo, lập tức cháo biến hoá  đầy cả hư không. Bầy quỷ ăn no nê, không cần phải tranh làm gì, thế mà chúng vẫn tranh. Con quỷ chúa phải canh chừng la hét kẻo không chúng làm loạn lên. Buổi thí thực xẩm tối chấm dứt, bọn quỷ ăn xong biến mất nhanh như lúc chúng kéo đến.

 Tối cuối tuần, ni sư Minh Lý cùng những đệ tử và mấy Phật tử tại gia ngồi trì chú trong chánh điện. Tiếng trì chú rì rầm, tiếng mõ lốc cốc, thỉnh thoảng tiếng chuông boong vang lên, đánh thức sự hôn trầm của vài người, vực dậy cái âm bình bình và không khí trầm lắng. tiếng chuông như đập vỡ cái vỏ ảo giác vô minh trong phút giây hiện tại, laị như đoá hoa sen vượt lên khỏi đầm bùn mà nở hoa. Trong đám ngạ quỷ ấy, có vài đứa ăn cháo xong chẳng chịu đi, mà nán laị nghe chú, nghe kinh. Hoả Diện Bạch Trảo Nha và con quỷ cái kia thường ở laị cho xong khoá lễ đêm. Con nữ quỷ ấy tên Mỹ Diện Tế Yêu, nó thì thầm với qủy chúa:

 - Mấy cô điệu nhỏ quá, sao laị đi tu chi cho cực? 

 Quỷ chúa trả lời rằng:

 - Với những cô đã đủ tuổi trưởng thành thì đó là tâm nguyện của họ, còn những cô quá bé có thể là những đứa trẻ mồi côi do chùa nuôi, hoặc con nhà quá nghèo, nuôi hổng nổi nên đem lên gởi cho chùa. 

 Nữ quỷ laị hỏi:

 - Vậy khi lớn lên, họ không muốn tu nữa mà muốn về nhà thì có được không?

 - Dĩ nhiên! đạo Phật rất tự do, dân chủ. Ai cũng có thể tu và ai cũng có thể rời bỏ, đạo Phật không có trừng phạt hay nguyền rủa như những tôn giáo khác. 

 Mỹ Diện Tế Yêu laị hỏi:

 - Vậy bọn người họ tu chi vậy?

 - Để thoát kkhổ, để vượt qua sinh tử, còn nếu như thấp hơn thì để kiếp sau tái sanh vào một hoàn cảnh tốt đẹp hơn, thân tướng xinh đẹp hơn... 

 - Thế những người vốn giàu có, xinh đẹp, thông minh rồi thì còn tu để làm gì? 

 - Nếu kiếp hiện tại là thế nhưng chắc gì kiếp sau còn được như vậy, bởi thế mới tu để duy trì hoặc là thăng tiến hơn.

 - Bố thí để kiếp sau giàu có, học kinh để kiếp sau thông minh, tu tâm tu tướng để kiếp sau thân tướng xinh đẹp.  Nhưng khi giàu sang xinh đẹp rồi thì sanh hưởng thụ, gây nghiệp xấu thế là laị đọa, há chẳng phải luẩn quẩn vô ích sao?

 Quỷ chúa ngần ngừ chưa đáp thì lúc ấy có vị thiên vương hiệu là Đa Văn hiện thân tướng rực rỡ trước mặt chúng và nói rằng:

 - Tu để để đời sau giàu sang, xinh đẹp, thông minh… là phương tiện mà nói, đấy không phải mục đích của nhà Phật. Việc dùng phương tiện để dẫn dụ cũng giống như bọc đường cho viên thuốc dễ uống. Con đường tu tập vất vả gian nan và dài lâu, không dễ gì đạt được thánh quả, nhất là trong đời mạt pháp này. Không đạt thánh quả thì sinh tử luân hồi vẫn còn, bởi vậy tu để đời sau tốt đẹp hơn cũng quan trọng lắm, giữ được thân người đã khó, được thân người mà đầy đủ phước báo thì còn khó hơn khó. Năm xưa Thế Tôn từng dạy:” Được thân người như đất dính ở móng tay, mất thân người như đất ở đaị địa”. Vì vậy tu phước tu huệ để đời sau có thân tướng xinh đẹp, thông minh, giàu sang cũng là quý lắm. Đời sau đủ phước báo laị tạo nghiệp thì đời kế tiếp bị đọa, nhà Phật gọi là tam thế oan. Đạo Phật là đạo xuất thế, không chủ trương mưu cầu phước báo nhân thiên mà mục đích chính là trí huệ để liễu sanh thoát tử. 

 Vị thiên vương dứt lời thì tiếng chuông hậu kết khoá lễ cũng vang lên. Vị thiên vương ấy cùng với quỷ chúa Hoả Diện Bạch Trảo Nha và nữ quỷ Mỹ Diện Tế Yêu đồng bái tạ Phật xong rồi biến mất. Ni sư Minh Lý xuống trai đường cùng các sư muội và mấy đệ tử taị gia ăn nhẹ bữa tối. Cô điệu Diệu Liên hỏi:

 - Bạch sư cô, giới luật bảo ngày ăn một bữa mà chùa mình ngày ăn ba bữa, vậy có phải là phạm giới chăng? 

 Sư cô Minh Lý nhẹ nhàng cười:

 - Giờ con ăn ngày một bữa chịu nổi không? tất nhiên là không rồi, giới luật là thế, nhưng vào sâu đời mạt pháp căn cơ con người càng xuống thấp, trí huệ kém, đạo hạnh yếu, đã thế những bậc tòng lâm thạch trụ bị đồng đạo cô lập, quyền lực thế tục bao vây phong toả… Bọn chúng mình chỉ là những kẻ giữ chùa mà thôi, không mong gì chứng đắc giải thoát trong kiếp này. Duy có việc ráng tu để đời đời được gặp Phật pháp, gặp chánh pháp là có hy vọng lớn nhất. Tuy kiếp này không chứng đắc liễu sanh thoát tử nhưng chúng ta giữ gìn ngọn đèn chánh pháp, giữ gìn mạng mạch Phật pháp tại thế gian này. Chúng ta là gạch nối tiếp nhận từ lịch đaị tổ sư và truyền laị cho thế hệ sau. Việc duy trì Phật pháp ở thế gian không chỉ lợi ích cho người mà còn lợi ích cho chư thiên thần và vô số chúng sanh mà mắt mình không thấy được. Chúng ta tuy là phàm tăng, phàm ni nhưng vẫn là con Phật, là hạt giống Phật pháp ngày đêm thực hành sứ mạng Như Lai phó chúc.
 

 Cô Phật tử Quảng Hương là một Phật tử siêng năng và thành tâm, luôn hộ trì chùa và những công việc lợi ích cho đạo cho đời. Cô tâm sự:

 - Bạch ni sư, đời bây giờ có nhiều vị lạm dụng của cải tam bảo, tiền bạc của đàn na tín thí, mua đất, tích trữ tài sản riêng, du hí khắp nơi, thậm chí làm những việc bại hoại xấu xa làm cho hàng Phật tử chúng con rất hoang mang, nhiều người bỏ chùa, xa rời đạo, mất niềm tin ở qúy thầy. Có nhiều vị lên ti vi công khai xu nịnh quyền thế, phát biểu linh tinh, thế tục hoá chuyện đạo…Nhiều Phật tử bất bình, dân chúng mỉa mai, các tín đồ đạo khác lợi dụng cơ hội bài bác đạo Phật.
 

 Ni sư Minh Lý lắng nghe và im lặng hồi lâu.

 - Đúng thế, truyền thông và mạng xã hội đưa tin khá nhiều, đây là điều đáng tiếc! Ni tôi giữ Bát kỉnh pháp nên không thể nói gì, chỉ mong các Phật tử giữ gìn chánh tín, đừng để những việc sai trái của các vị ấy làm suy giảm đạo tâm của mình. Việc ai sai người ấy chịu, tuy nhiên chúng ta cũng dính lây vì cùng cộng nghiệp. Đạo Phật cũng như mọi pháp của thế gian, không thể tránh khỏi việc thăng trầm, không thể nằm ngoài quy luật thành- trụ- hoaị- không. Kiếp người ngắn ngủi, không kịp thấy được thời gian thịnh suy của đạo pháp,  ni tôi mong mỏi các Phật tử giữ vững niềm tin vào chân lý mà Thế Tôn đã dạy, hãy tu học Phật pháp bằng lý trí, đừng dụng cảm tình, nhiều khi cúng dường không đúng cũng là cái duyên tạo nghiệp xấu vậy!  Đêm cũng khuya, các Phật tử về nghỉ, ni và các sư muội cũng cần nghỉ một tí để sáng sớm dậy công phu.

 Quá nửa đêm, ni sư mơ màng thấy hai vị hộ pháp và thổ địa đến. Thổ địa thưa:

 - Bạch ni sư, đất linh taị đức! thổ địa tôi coi ngạch đất đai, tất nhiên có cuộc đất của chùa Tâm Tịnh này. Tôi luôn hộ trì những nơi giữ gìn Phật pháp và những vị có giới đức, tinh tấn tu học . Cuộc đất ở đây tuy không vượng nhưng dưới sự hộ trì của thổ địa tôi thì không có một việc xấu nào có thể vào được phạm vi kiết giới của chùa. Có những nơi cuộc đất tốt nhưng vì người ở đấy giải đãi, phạm giới, mượn chuyện Phật làm việc ma thì tôi nhất định không ngó ngàng gì đến. Chùa Tâm Tịnh tuy nhỏ và tuổi đời chưa nhiều nhưng tôi hết sức hộ trì.

 Thổ địa thưa gởi xong thì hộ pháp nói:

 - Tôi vừa đến đây, chùa tuy nhỏ, Phật tử còn thưa thớt, cuộc đất không hẳn tốt nhưng đôi khi ấy laị là cái hay. Ni sư chắc cũng biết câu:” Duyên đời thịnh thì duyên đạo suy và ngược laị”. Hộ pháp tôi không câu nệ hình thức chùa to tượng lớn, không quan tâm đệ tử đông, cúng dường nhiều… hễ ai tinh tấn tu học, giữ gìn giới đức, không xu phụ quyền thế thì tôi tận tâm hộ vệ. Cứ mỗi chiều đến giờ thí thực, bọn quỷ đói kéo về rất đông, trong số ấy có không ích đứa phá phách và cũng có nhiều đứa mến mộ Phật pháp. Tôi nhiếp phục những kẻ ngỗ nghịch và hộ trì cho kẻ mộ đạo kia. Sư cô cũng đã cảm hoá không ít kẻ trong bọn chúng bởi đạo hạnh và giới đức. Người đời không biết, không thấy nhưng trời đất quỷ thần chẳng có lầm bao giờ. 

 Sáng hôm sau sư cô nhận được cuộc điện của bà chủ tịch cộng đồng trong thị trấn, bà ấy nài nỉ:

 - Thưa ni sư, chúng tôi mời ni sư đến dự và cắt băng khánh thành cho buổi lễ:” Xúc tiến kinh doanh, thương maị và du lịch” tại thương xá Tân Thịnh Đạt. Trong buổi lễ này chúng tôi sẽ giới thiệu ni sư và gây quỹ cho chùa của ni sư.
 

 Ni sư Minh Lý từ tốn:

 - Xin cảm ơn tình cảm của bà chủ tịch cộng đồng, tôi chúc cho buổi lễ thành công tốt đẹp và mọi việc thịnh đạt như cái tên của thương xá. Tôi không thể tham dự buổi lễ này và cũng xin đừng lạc quyên gì cho chùa Tâm Tịnh, mong bà chủ tịch thông cảm cho.

 Bà chủ tịch cộng đồng vẫn nài nỉ mấy bận nữa và hỏi lý do tại sao thì ni sư bảo:

 - Chùa Tâm Tịnh đủ vật thực để sống và tu nên không cần lạc quyên, người xuất gia không thể tham gia vào những việc của thế gian.
 

 Mấy cô điệu ngồi nghe ni sư Minh Lý từ chối, lòng đầy thắc mắc. Cô điệu Minh Phước hỏi:

 - Bạch ni sư, người ta tạo cơ hội gây quỹ cho chùa, mình sẽ góp dần để xây laị chùa đúc tượng lớn, sẽ có nhiều người biết đến danh tiếng của chùa, các mối quan hệ xã hội sẽ rộng mở hơn… sao ni sư từ chối? 

 Ni sư Minh Lý nhớ lời của Thổ Địa:” Duyên đời thịnh thì duyên đạo suy” nên cười mỉn:

 - Chùa mình đầy đủ vật thực để sống, tuy nhỏ và cũ nhưng không sao cả, xây chùa to tượng lớn thì cũng đẹp nhưng không quan trọng, quan trọng là ở chỗ tinh tấn tu học, hành trì giới luật. Có trí huệ mới có định, có trí huệ mới giải thoát. Mình đi tu là để buông bỏ chứ không phải tích luỹ . Ngày xưa Thế Tôn bỏ cả của cải, địa vị, danh vọng… mà thế gian này ước ao, nay mình đi cầu một tí danh lợi ấy để làm gì? vừa vô nghĩa vừa uổng cho đường tu của mình. Ni tôi đã thấy nhiều ngôi chùa sau khi xây to lớn xong thì bao nhiêu chuyện xảy ra: điều hành, chức danh, lo tiền chi trả, lo giao tế xã hội, việc thế gian xen vào chùa, hoạt động thế tục lấn át việc tu…và nguy hiểm hơn là những âm mưu chính trị hoá việc chùa. Duyên đời cực thịnh thì duyên đạo suy trầm trọng, thật tình mà nói thì chùa to tượng lớn chỉ thoã mãn thị hiếu khách du lịch, người vãn cảnh chứ chẳng có ích chi cho việc tịnh tu, tấn tu cả! 

 Mấy cô điệu lí nhí cảm ơn ni sư khai thị, ni sư laị nói:

 - Chúng mình ở đây đủ vật thực để sống, đủ hương hoa để cúng dường , đi theo con đường Thế Tôn đã mở… vậy là có phước báo lớn lắm rồi. Các con giữ giới mình đã thọ, tất nhiên cũng phải theo nội quy của bổn tự, nếu các con cảm thấy không thõa mãn thì các con có thể tìm nơi thích hợp hơn với duyên mình. Ni sư không cấm cản các con, nghe thế cả bọn đứng dậy đảnh lễ ni sư và đồng thưa:

 - Chúng con nguyện tu học và noi theo gương ni sư. 

 Ni sư dạy:

 - Chúng mình là con nhà Phật, cách báo ân Phật chân thật nhất, hiệu quả nhất là giữ gìn giới đức, tinh tấn tu học, hiểu rõ nghĩa lý ý thú kinh điển và lời Phật dạy. Chúng mình phải sống sao cho xứng đáng với ba chữ: “ Chúng Trung Tôn”. Nhà Phật có câu:” Sa môn bất bái vương gia”, sa môn là người tu đạo không kể là nam hay nữ, không xu phụ quyền thế, không theo gian nhân ác đảng, không phò thế tục… tuy xuất gia nhưng sa môn cũng là con dân của một nước, chúng mình không thể mũ ni che tai làm ngơ trước thảm cảnh dân oan nước loạn. Người tu đạo ngoài tâm đaị bi còn phải có trí huệ và chút vô uý nữa. Có từ bi mà thiếu huệ và vô uý thì không làm được gì, có trí huệ mà thiếu từ bi và vô uý thì cũng như không, có vô úy mà không có trí huệ và từ bi thì việc sẽ sai vạy…Bởi vậy từ bi, trí huệ và vô úy như cái kiềng ba chân, hễ thiếư một là hỏng, phải có ba thì mới xứng là “ Chúng Trung Tôn”.

 Các tiểu ni và tiểu điệu cảm thấy khoan khoái với lời dạy của ni sư, làn sóng giao thoa của những tâm hồn đồng điệu làm cho ai nấy mặt mày tươi tắn như hoa, rạng rỡ như toả quang và hoan hỷ. 

 Buổi sáng vườn chùa tươi mát trong lành, tiếng chim rít rít rộn ràng, hoa nở hương bay theo làn gió. Các tiểu ni và tiểu điệu vui vẻ đi làm phần công việc của mình.


TIỂU LỤC THẦN PHONG 

Georgia, 05312020

 

 

 

Ý kiến bạn đọc
02/06/202014:44:59
Khách
Bài viết của tác giả có ý nghĩa đạo lý của đạo Phật đồng thời cũng nói lên hoàn cảnh hiện nay ở đời sống thế gian.
Xin tán thán công đức của tác giả.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tháng 7 năm 1954, hiệp định Genève chia đôi đất nước Việt Nam, người Pháp thất bại ở mặt trận Điện Biên Phủ, trả lại chủ quyền miền Bắc cho việt cộng. Việt Minh kéo từ mạn ngược và khắp nơi chúng đã ẩn náu về tiếp thu thủ đô Hà Nội và sau đó, toàn thể các tỉnh thành phía Bắc cho vào tới vĩ tuyến 17. Chúng ta mất một nửa giang sơn. Pháp có 80 ngày chuyển giao Hà Nội, 100 ngày giao Hải Dương, 300 ngày trả Hải Phòng, rồi chấm dứt. Việt cộng nằm vùng trong miền Nam cũng tự do ra Bắc tập kết, dù rất ít, nhưng làn sóng người miền Bắc di cư vào Nam thì đông nườm nượp… như nước vỡ bờ, họ chạy trốn, họ sợ cộng sản, họ sợ cái chế độ tam vô đang rượt đuổi sau lưng. Họ ra đi lánh nạn, đa phần phải bỏ lại gia sãn của cải, mồ mả cha ông… họ ra đi nhanh, mau lẹ nhất là các thành phố Hà Nội Hải Phòng, các xứ họ đạo công giáo Bùi Chu, Phát Diệm… có người vội vã đến chỉ ôm theo một tấm ảnh đức mẹ Maria… họ rủ nhau cứ xuống Hải Phòng là có tàu há mồm, há mồm chờ sẵn, chờ họ lên tàu và chở họ vô miền Nam.
Hà Nội có mùa Thu, Ninh Thuận quê tôi ở đó chỉ có hai mùa nắng gió. Buổi sáng mai hôm ấy mẹ tôi âu yếm nắm lấy tay tôi dẫn tôi đi qua con đường làng Xóm Động, rồi đến con đường cái quan tráng nhựa. Mẹ tôi nắm lấy tay tôi dẫn tôi đi qua cầu "Ông Cọp", rồi cầu "Nước Đá" và đến tận cửa trường tiểu học Phan Rang. Tôi cúi đầu đi qua cổng trường có tấm biển lớn có hàng chữ Tây: "Indochine Francais- École Primaire De Phanrang"...Giữa sân trường có cột cờ với lá cờ ba màu của Pháp treo tận chót vót. Trường của tôi hình như vừa quét nước vôi và có cửa kiến, tôi thoáng nghe mùi cửa sổ mới sơn.
Trước năm 1975, ngày đó tôi còn là một cậu thiếu niên ham thích đọc tiểu thuyết trinh thám mạo hiểm của Người Thứ Tám với nhiều câu truyện phiêu lưu, hồi hộp của chàng điệp viên Z-28 đào hoa, đẹp trai Tống Văn Bình. Tôi còn nhớ chàng điệp viên tài giỏi, võ nghệ siêu quần của chúng ta được phái đi thi hành một nhiệm vụ tình báo tại Maldives, một đảo quốc mà khi chúng ta nhìn về phía chân trời, nơi Trời và Biển gặp nhau, vì chính chúng ta cũng đang sống trên mặt nước...
Khoảng gần ba giờ chiều tôi rời khách sạn Ninh Kiều, cuối đường Hai Bà Trưng, nhìn ra sông Cần Thơ. Trời hanh nóng và đứng gió. Giấc ngủ trưa dài sau bữa ăn nhẹ, khiến tôi tỉnh táo và phấn chấn hẳn lên. Hãy còn sớm, hai giờ nữa tôi mới có hẹn với gia đình người bạn thân ở nhà hàng Hoa Sứ. Thời gian đủ để tôi dạo chơi và ghé chợ Cần Thơ tìm mua một vài thứ đồ lưu niệm… Vài cơn gió nhẹ mang theo hơi nước từ dòng sông thổi dọc theo công viên thật dễ chịu. Bến Ninh Kiều ngày nay thật khang trang và đẹp. Đi dọc mé sông, từ đây tôi có thể nhìn thấy chiếc cầu treo Cần Thơ sừng sững, hiện đại. Phía trước khách sạn là nhà hàng nổi và không xa là chiếc du thuyền nhà hàng lộng lẫy về đêm. Du khách vừa ăn tối vừa dạo cảnh quanh sông và có cảchương trình văn nghệ thật đặc sắc của miền Tây sông nước
Nàng tỉ tê với nhỏ bạn về những cuộc “thảo luận” sôi nổi của vợ chồng nàng. Bằng mọi giá, nàng muốn giữ cho đứa con có tuổi thơ tươi đẹp, hạnh phúc. Bao năm qua, đã có lúc nàng buồn rầu nghĩ, mình như con gà đẻ trứng vàng. Chỉ được việc, nhờ biết đẻ trứng vàng. Nàng không dám đề cập đến chuyện tiền bạc, sợ làm chồng buồn, cho rằng nàng cậy sức mạnh kim tiền lấn áp chồng. Nàng rất may mắn trong cuộc sống ngoài xã hội. Chưa ra trường, nàng đã nhận được hợp đồng làm việc với một trong những hãng hàng đầu của nước Đức. Ngược lại, chồng nàng quá lận đận. Cả năm trời, anh chạy đôn, chạy đáo tìm việc, mà vẫn phải nằm nhà. Nàng tự nhủ, tài lộc trời ban, gia đình sống thoải mái, chứ tính toán chi mà mất hòa khí vợ chồng. Tháng tháng, nàng thanh toán nợ to, nợ nhỏ, hàng hàng lớp lớp chi phí tất yếu của xã hội văn minh.
Xíu tiếp tục cuộc hành trình bất tận của mình, đừng tưởng Xíu chơi hoang hay đi rông, phiêu bạt giang hồ vô tích sự. Chính sự lang bạt kỳ hồ của Xíu và anh em nhà Xíu đã đem lại mưa thuận gió hòa, đem lại nguồn sống cho loài người và vạn vật muôn loài. Lần này Xíu quay về lại góc Đông Nam Á châu, nơi có dòng sông thiêng liêng chảy qua.
Tôi không phải là thi sĩ, nhưng chắc cũng giống như những thi nhân của đất Việt, thường gửi gấm tâm tình u uất vào những vần thơ của mình. Những bài thơ viết xong, tôi cặm cụi chép vào nhật ký, xen vào những lời than thân trách phận, hờn mây khóc gió. Cuốn nhật ký, tôi cất kỹ trong ngăn kéo ở cái table de nuit cũ kỹ bên cạnh chiếc giường nhỏ trong phòng ngủ. Cũng may là má chưa lục ra đọc lần nào...
Cuối cùng, vợ tôi cũng đồng ý một cách vui vẻ cho tôi lấy vợ bé. Một hành động vượt ra ngoài quan niệm ái tình nghiêm túc của bà. Vợ bé tên Hà, do vợ lớn đặt. Tên khai sinh của Hà là Đỗ thị 451. Vợ lớn nói, số này hên, cộng lại là 10. Hà lai Ái Nhỉ Lan. Ở lứa tuổi gần ba mươi, chưa lấy chồng, không có con, một thân hình phước đức cho bất kỳ người đàn ông nào, sáu mươi bảy tuổi, như tôi.
Kế hoạch của anh ấy thật là hợp lý: anh ấy sẽ giấu tôi phía sau cốp xe Austin-Healey, một chiếc xe dạng rất thấp mà anh vừa mới mua bên Áo và đã tháo kính che gió ra. Chúng tôi chỉ cần đi qua bên dưới rào chắn, trong khi mấy tên cảnh sát nhân dân Vopo*2/ thì bận lo kiểm tra giấy tờ như thường lệ. Rolf đã tính toán nhiều lần, tính đi tính lại, anh lại còn xì bớt hơi các bánh xe: như thế cái xe sẽ không vượt quá 90 cms bề cao. Anh chỉ cần cúi đầu xuống, nhấn mạnh vào cần tăng tốc, thế là chúng tôi sẽ qua bên kia địa phận đất Mỹ! Một "bờ thành" nhỏ làm bằng gạch sẽ bảo vệ tôi khỏi những lằn đạn có thể xảy ra. Và rồi sau đó là tự do...
(Viết cho bằng hữu tháng tư 1954. Chúng tôi 300 thanh niên trình diện trại Ngọc Hà động viên vào Đà Lạt cùng hát bài ca Hà Nội ơi, năm 20 tuổi chưa từng biết yêu. Sau 21 năm chinh chiến, tháng tư 75 khóa Cương Quyết hát tiếp. Bao nhiêu mộng đẹp, tan ra thành khói, bay theo mây chiều. Ngày nay, tháng 7-2024 vào nursing home thăm bạn cùng khóa. Ba anh bạn đại tá lữ đoàn trưởng mũ xanh mũ đỏ cùng đại đội võ bị ra đánh trận Quảng Trị chỉ còn Ngô Văn Định. Ghé lại bên tai nghe Định hỏi nhỏ. /Bên ngoài còn mấy thằng,/ Còn liên lạc được 4 thằng. Ngoài 90 cả rồi.Tôi báo cáo./ Thằng Luyện mới đến thăm./ Định nói./ Luyện nhảy Bắc 21 năm biệt giam mà còn sống. Hay thật./ Tôi nói./ Bạn yên tâm. Ngoài này còn thằng nào chơi thằng đó./ OK bạn còn sống lo cho anh em.)
Năm Giáp Ngọ 1954 có thể gọi là năm đại diện cho tuổi thơ tôi. Chỉ trong một năm 1954 đã có quá nhiều biến cố xảy ra dồn dập trước mắt chú bé mười hai tuổi mà suốt trong đời chưa có thời điểm nào đặc biệt như vậy...
Dẫn nhập: chuyện này được viết khi sắp tròn nửa thế kỷ Sài gòn bị mất tên. Qua một phần đời của một vị Thầy dạy Toán, gắn liền với nhiều thăng trầm của lịch sử từ Việt Nam đến Mỹ, cùng nhìn lại những vết chân xưa với hy vọng các thế hệ kế tiếp học hỏi được nhiều điều để đưa được đất nước trở về vị trí "minh châu trời Đông"


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.