Hôm nay,  

Kiềng Ba Chân

01/06/202016:43:00(Xem: 4337)

 



 Tiếng khánh réo rắt ngân dài và lan toả trong không gian như những vòng sóng tròn, càng loang xa vòng tròn càng lớn, bao trùm cả đất trời. Âm thanh bay lên tận trời xanh, xuyên thấu vào lòng đất như mũi dùi chọc thủng cả địa ngục A Tỳ. Bọn quỷ đói rùng rùng kéo về hướng phát ra tiếng khánh, chúng đông hơn quân Nguyên, hình thù quái dị, trông gớm ghiếc vô cùng. Cứ thường lệ mỗi buổi chiều, chúng ngóng đợi tiếng khánh để được ăn bữa chiều.
 

 Chùa Tâm Tịnh rất nhỏ bé và đơn sơ, vốn là ngôi nhà cũ cải gia vi tự,  chánh điện nhỏ, tôn trí pho tượng Thích Ca ở chính vị và sau lưng là bộ Tây Phương tam thánh. Vật có giá trị nhất có lẽ là quả đaị hồng chung, quả chuông to bự sư vừa mới đúc năm rồi, màu đồng còn sáng choang chưa lên màu thời gian. Tuy là chuông mới nhưng âm thanh laị có nội lực không khác những quả chuông vài trăm tuổi, tiếng chuông đã sớm trở thành một điều không thể thiếu của cư dân khắp các tổng quanh chùa. 

 Tiếng khánh vừa dứt thì bọn quỷ đói đã đầy sân, chúng ồn ào, nhốn nháo trông lộn xộn quá. Con qủy đầu đàn tên là Hoả Diện Bạch Trảo Nha gằn giọng:

 - Chúng mày im lặng và trật tự, ăn uống chẳng mất phần! đứa nào quậy phá thì Hộ Pháp đập cho một chùy thì ba má chúng mày cũng nhận không ra. 

 Một con quỷ nữ bước laị gần nó, hình dong cũng rất dễ sợ không khác gì bọn quỷ kia cả nhưng nếu tinh ý thì sẽ thấy nó là một con quỷ đẹp nhất trong bọn, nét son sắc má đào của nó ẩn dưới lốt quỷ. Nó cất giọng ỏn ẻn:

 - Đaị vương, em đói quá, em phải ăn trước! 

 Hoả Diện Bạch Trảo Nha gật đầu:

 - Dĩ nhiên, em phải trên trước bọn chúng! 

 Những con quỷ đứng gần nghe thế bèn lùi ra xa hơn một tí, có đứa không hài lòng nhưng không dám ho he. Ni sư Minh Lý vẩy mấy muổng cháo, lập tức cháo biến hoá  đầy cả hư không. Bầy quỷ ăn no nê, không cần phải tranh làm gì, thế mà chúng vẫn tranh. Con quỷ chúa phải canh chừng la hét kẻo không chúng làm loạn lên. Buổi thí thực xẩm tối chấm dứt, bọn quỷ ăn xong biến mất nhanh như lúc chúng kéo đến.

 Tối cuối tuần, ni sư Minh Lý cùng những đệ tử và mấy Phật tử tại gia ngồi trì chú trong chánh điện. Tiếng trì chú rì rầm, tiếng mõ lốc cốc, thỉnh thoảng tiếng chuông boong vang lên, đánh thức sự hôn trầm của vài người, vực dậy cái âm bình bình và không khí trầm lắng. tiếng chuông như đập vỡ cái vỏ ảo giác vô minh trong phút giây hiện tại, laị như đoá hoa sen vượt lên khỏi đầm bùn mà nở hoa. Trong đám ngạ quỷ ấy, có vài đứa ăn cháo xong chẳng chịu đi, mà nán laị nghe chú, nghe kinh. Hoả Diện Bạch Trảo Nha và con quỷ cái kia thường ở laị cho xong khoá lễ đêm. Con nữ quỷ ấy tên Mỹ Diện Tế Yêu, nó thì thầm với qủy chúa:

 - Mấy cô điệu nhỏ quá, sao laị đi tu chi cho cực? 

 Quỷ chúa trả lời rằng:

 - Với những cô đã đủ tuổi trưởng thành thì đó là tâm nguyện của họ, còn những cô quá bé có thể là những đứa trẻ mồi côi do chùa nuôi, hoặc con nhà quá nghèo, nuôi hổng nổi nên đem lên gởi cho chùa. 

 Nữ quỷ laị hỏi:

 - Vậy khi lớn lên, họ không muốn tu nữa mà muốn về nhà thì có được không?

 - Dĩ nhiên! đạo Phật rất tự do, dân chủ. Ai cũng có thể tu và ai cũng có thể rời bỏ, đạo Phật không có trừng phạt hay nguyền rủa như những tôn giáo khác. 

 Mỹ Diện Tế Yêu laị hỏi:

 - Vậy bọn người họ tu chi vậy?

 - Để thoát kkhổ, để vượt qua sinh tử, còn nếu như thấp hơn thì để kiếp sau tái sanh vào một hoàn cảnh tốt đẹp hơn, thân tướng xinh đẹp hơn... 

 - Thế những người vốn giàu có, xinh đẹp, thông minh rồi thì còn tu để làm gì? 

 - Nếu kiếp hiện tại là thế nhưng chắc gì kiếp sau còn được như vậy, bởi thế mới tu để duy trì hoặc là thăng tiến hơn.

 - Bố thí để kiếp sau giàu có, học kinh để kiếp sau thông minh, tu tâm tu tướng để kiếp sau thân tướng xinh đẹp.  Nhưng khi giàu sang xinh đẹp rồi thì sanh hưởng thụ, gây nghiệp xấu thế là laị đọa, há chẳng phải luẩn quẩn vô ích sao?

 Quỷ chúa ngần ngừ chưa đáp thì lúc ấy có vị thiên vương hiệu là Đa Văn hiện thân tướng rực rỡ trước mặt chúng và nói rằng:

 - Tu để để đời sau giàu sang, xinh đẹp, thông minh… là phương tiện mà nói, đấy không phải mục đích của nhà Phật. Việc dùng phương tiện để dẫn dụ cũng giống như bọc đường cho viên thuốc dễ uống. Con đường tu tập vất vả gian nan và dài lâu, không dễ gì đạt được thánh quả, nhất là trong đời mạt pháp này. Không đạt thánh quả thì sinh tử luân hồi vẫn còn, bởi vậy tu để đời sau tốt đẹp hơn cũng quan trọng lắm, giữ được thân người đã khó, được thân người mà đầy đủ phước báo thì còn khó hơn khó. Năm xưa Thế Tôn từng dạy:” Được thân người như đất dính ở móng tay, mất thân người như đất ở đaị địa”. Vì vậy tu phước tu huệ để đời sau có thân tướng xinh đẹp, thông minh, giàu sang cũng là quý lắm. Đời sau đủ phước báo laị tạo nghiệp thì đời kế tiếp bị đọa, nhà Phật gọi là tam thế oan. Đạo Phật là đạo xuất thế, không chủ trương mưu cầu phước báo nhân thiên mà mục đích chính là trí huệ để liễu sanh thoát tử. 

 Vị thiên vương dứt lời thì tiếng chuông hậu kết khoá lễ cũng vang lên. Vị thiên vương ấy cùng với quỷ chúa Hoả Diện Bạch Trảo Nha và nữ quỷ Mỹ Diện Tế Yêu đồng bái tạ Phật xong rồi biến mất. Ni sư Minh Lý xuống trai đường cùng các sư muội và mấy đệ tử taị gia ăn nhẹ bữa tối. Cô điệu Diệu Liên hỏi:

 - Bạch sư cô, giới luật bảo ngày ăn một bữa mà chùa mình ngày ăn ba bữa, vậy có phải là phạm giới chăng? 

 Sư cô Minh Lý nhẹ nhàng cười:

 - Giờ con ăn ngày một bữa chịu nổi không? tất nhiên là không rồi, giới luật là thế, nhưng vào sâu đời mạt pháp căn cơ con người càng xuống thấp, trí huệ kém, đạo hạnh yếu, đã thế những bậc tòng lâm thạch trụ bị đồng đạo cô lập, quyền lực thế tục bao vây phong toả… Bọn chúng mình chỉ là những kẻ giữ chùa mà thôi, không mong gì chứng đắc giải thoát trong kiếp này. Duy có việc ráng tu để đời đời được gặp Phật pháp, gặp chánh pháp là có hy vọng lớn nhất. Tuy kiếp này không chứng đắc liễu sanh thoát tử nhưng chúng ta giữ gìn ngọn đèn chánh pháp, giữ gìn mạng mạch Phật pháp tại thế gian này. Chúng ta là gạch nối tiếp nhận từ lịch đaị tổ sư và truyền laị cho thế hệ sau. Việc duy trì Phật pháp ở thế gian không chỉ lợi ích cho người mà còn lợi ích cho chư thiên thần và vô số chúng sanh mà mắt mình không thấy được. Chúng ta tuy là phàm tăng, phàm ni nhưng vẫn là con Phật, là hạt giống Phật pháp ngày đêm thực hành sứ mạng Như Lai phó chúc.
 

 Cô Phật tử Quảng Hương là một Phật tử siêng năng và thành tâm, luôn hộ trì chùa và những công việc lợi ích cho đạo cho đời. Cô tâm sự:

 - Bạch ni sư, đời bây giờ có nhiều vị lạm dụng của cải tam bảo, tiền bạc của đàn na tín thí, mua đất, tích trữ tài sản riêng, du hí khắp nơi, thậm chí làm những việc bại hoại xấu xa làm cho hàng Phật tử chúng con rất hoang mang, nhiều người bỏ chùa, xa rời đạo, mất niềm tin ở qúy thầy. Có nhiều vị lên ti vi công khai xu nịnh quyền thế, phát biểu linh tinh, thế tục hoá chuyện đạo…Nhiều Phật tử bất bình, dân chúng mỉa mai, các tín đồ đạo khác lợi dụng cơ hội bài bác đạo Phật.
 

 Ni sư Minh Lý lắng nghe và im lặng hồi lâu.

 - Đúng thế, truyền thông và mạng xã hội đưa tin khá nhiều, đây là điều đáng tiếc! Ni tôi giữ Bát kỉnh pháp nên không thể nói gì, chỉ mong các Phật tử giữ gìn chánh tín, đừng để những việc sai trái của các vị ấy làm suy giảm đạo tâm của mình. Việc ai sai người ấy chịu, tuy nhiên chúng ta cũng dính lây vì cùng cộng nghiệp. Đạo Phật cũng như mọi pháp của thế gian, không thể tránh khỏi việc thăng trầm, không thể nằm ngoài quy luật thành- trụ- hoaị- không. Kiếp người ngắn ngủi, không kịp thấy được thời gian thịnh suy của đạo pháp,  ni tôi mong mỏi các Phật tử giữ vững niềm tin vào chân lý mà Thế Tôn đã dạy, hãy tu học Phật pháp bằng lý trí, đừng dụng cảm tình, nhiều khi cúng dường không đúng cũng là cái duyên tạo nghiệp xấu vậy!  Đêm cũng khuya, các Phật tử về nghỉ, ni và các sư muội cũng cần nghỉ một tí để sáng sớm dậy công phu.

 Quá nửa đêm, ni sư mơ màng thấy hai vị hộ pháp và thổ địa đến. Thổ địa thưa:

 - Bạch ni sư, đất linh taị đức! thổ địa tôi coi ngạch đất đai, tất nhiên có cuộc đất của chùa Tâm Tịnh này. Tôi luôn hộ trì những nơi giữ gìn Phật pháp và những vị có giới đức, tinh tấn tu học . Cuộc đất ở đây tuy không vượng nhưng dưới sự hộ trì của thổ địa tôi thì không có một việc xấu nào có thể vào được phạm vi kiết giới của chùa. Có những nơi cuộc đất tốt nhưng vì người ở đấy giải đãi, phạm giới, mượn chuyện Phật làm việc ma thì tôi nhất định không ngó ngàng gì đến. Chùa Tâm Tịnh tuy nhỏ và tuổi đời chưa nhiều nhưng tôi hết sức hộ trì.

 Thổ địa thưa gởi xong thì hộ pháp nói:

 - Tôi vừa đến đây, chùa tuy nhỏ, Phật tử còn thưa thớt, cuộc đất không hẳn tốt nhưng đôi khi ấy laị là cái hay. Ni sư chắc cũng biết câu:” Duyên đời thịnh thì duyên đạo suy và ngược laị”. Hộ pháp tôi không câu nệ hình thức chùa to tượng lớn, không quan tâm đệ tử đông, cúng dường nhiều… hễ ai tinh tấn tu học, giữ gìn giới đức, không xu phụ quyền thế thì tôi tận tâm hộ vệ. Cứ mỗi chiều đến giờ thí thực, bọn quỷ đói kéo về rất đông, trong số ấy có không ích đứa phá phách và cũng có nhiều đứa mến mộ Phật pháp. Tôi nhiếp phục những kẻ ngỗ nghịch và hộ trì cho kẻ mộ đạo kia. Sư cô cũng đã cảm hoá không ít kẻ trong bọn chúng bởi đạo hạnh và giới đức. Người đời không biết, không thấy nhưng trời đất quỷ thần chẳng có lầm bao giờ. 

 Sáng hôm sau sư cô nhận được cuộc điện của bà chủ tịch cộng đồng trong thị trấn, bà ấy nài nỉ:

 - Thưa ni sư, chúng tôi mời ni sư đến dự và cắt băng khánh thành cho buổi lễ:” Xúc tiến kinh doanh, thương maị và du lịch” tại thương xá Tân Thịnh Đạt. Trong buổi lễ này chúng tôi sẽ giới thiệu ni sư và gây quỹ cho chùa của ni sư.
 

 Ni sư Minh Lý từ tốn:

 - Xin cảm ơn tình cảm của bà chủ tịch cộng đồng, tôi chúc cho buổi lễ thành công tốt đẹp và mọi việc thịnh đạt như cái tên của thương xá. Tôi không thể tham dự buổi lễ này và cũng xin đừng lạc quyên gì cho chùa Tâm Tịnh, mong bà chủ tịch thông cảm cho.

 Bà chủ tịch cộng đồng vẫn nài nỉ mấy bận nữa và hỏi lý do tại sao thì ni sư bảo:

 - Chùa Tâm Tịnh đủ vật thực để sống và tu nên không cần lạc quyên, người xuất gia không thể tham gia vào những việc của thế gian.
 

 Mấy cô điệu ngồi nghe ni sư Minh Lý từ chối, lòng đầy thắc mắc. Cô điệu Minh Phước hỏi:

 - Bạch ni sư, người ta tạo cơ hội gây quỹ cho chùa, mình sẽ góp dần để xây laị chùa đúc tượng lớn, sẽ có nhiều người biết đến danh tiếng của chùa, các mối quan hệ xã hội sẽ rộng mở hơn… sao ni sư từ chối? 

 Ni sư Minh Lý nhớ lời của Thổ Địa:” Duyên đời thịnh thì duyên đạo suy” nên cười mỉn:

 - Chùa mình đầy đủ vật thực để sống, tuy nhỏ và cũ nhưng không sao cả, xây chùa to tượng lớn thì cũng đẹp nhưng không quan trọng, quan trọng là ở chỗ tinh tấn tu học, hành trì giới luật. Có trí huệ mới có định, có trí huệ mới giải thoát. Mình đi tu là để buông bỏ chứ không phải tích luỹ . Ngày xưa Thế Tôn bỏ cả của cải, địa vị, danh vọng… mà thế gian này ước ao, nay mình đi cầu một tí danh lợi ấy để làm gì? vừa vô nghĩa vừa uổng cho đường tu của mình. Ni tôi đã thấy nhiều ngôi chùa sau khi xây to lớn xong thì bao nhiêu chuyện xảy ra: điều hành, chức danh, lo tiền chi trả, lo giao tế xã hội, việc thế gian xen vào chùa, hoạt động thế tục lấn át việc tu…và nguy hiểm hơn là những âm mưu chính trị hoá việc chùa. Duyên đời cực thịnh thì duyên đạo suy trầm trọng, thật tình mà nói thì chùa to tượng lớn chỉ thoã mãn thị hiếu khách du lịch, người vãn cảnh chứ chẳng có ích chi cho việc tịnh tu, tấn tu cả! 

 Mấy cô điệu lí nhí cảm ơn ni sư khai thị, ni sư laị nói:

 - Chúng mình ở đây đủ vật thực để sống, đủ hương hoa để cúng dường , đi theo con đường Thế Tôn đã mở… vậy là có phước báo lớn lắm rồi. Các con giữ giới mình đã thọ, tất nhiên cũng phải theo nội quy của bổn tự, nếu các con cảm thấy không thõa mãn thì các con có thể tìm nơi thích hợp hơn với duyên mình. Ni sư không cấm cản các con, nghe thế cả bọn đứng dậy đảnh lễ ni sư và đồng thưa:

 - Chúng con nguyện tu học và noi theo gương ni sư. 

 Ni sư dạy:

 - Chúng mình là con nhà Phật, cách báo ân Phật chân thật nhất, hiệu quả nhất là giữ gìn giới đức, tinh tấn tu học, hiểu rõ nghĩa lý ý thú kinh điển và lời Phật dạy. Chúng mình phải sống sao cho xứng đáng với ba chữ: “ Chúng Trung Tôn”. Nhà Phật có câu:” Sa môn bất bái vương gia”, sa môn là người tu đạo không kể là nam hay nữ, không xu phụ quyền thế, không theo gian nhân ác đảng, không phò thế tục… tuy xuất gia nhưng sa môn cũng là con dân của một nước, chúng mình không thể mũ ni che tai làm ngơ trước thảm cảnh dân oan nước loạn. Người tu đạo ngoài tâm đaị bi còn phải có trí huệ và chút vô uý nữa. Có từ bi mà thiếu huệ và vô uý thì không làm được gì, có trí huệ mà thiếu từ bi và vô uý thì cũng như không, có vô úy mà không có trí huệ và từ bi thì việc sẽ sai vạy…Bởi vậy từ bi, trí huệ và vô úy như cái kiềng ba chân, hễ thiếư một là hỏng, phải có ba thì mới xứng là “ Chúng Trung Tôn”.

 Các tiểu ni và tiểu điệu cảm thấy khoan khoái với lời dạy của ni sư, làn sóng giao thoa của những tâm hồn đồng điệu làm cho ai nấy mặt mày tươi tắn như hoa, rạng rỡ như toả quang và hoan hỷ. 

 Buổi sáng vườn chùa tươi mát trong lành, tiếng chim rít rít rộn ràng, hoa nở hương bay theo làn gió. Các tiểu ni và tiểu điệu vui vẻ đi làm phần công việc của mình.


TIỂU LỤC THẦN PHONG 

Georgia, 05312020

 

 

 

Ý kiến bạn đọc
02/06/202014:44:59
Khách
Bài viết của tác giả có ý nghĩa đạo lý của đạo Phật đồng thời cũng nói lên hoàn cảnh hiện nay ở đời sống thế gian.
Xin tán thán công đức của tác giả.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ở Đào bang, hoa đào bạt ngàn, trái đào nhiều không đếm xuể. Hoa đào có nhiều loại: Đào thắm, đào phai, đào bạch, đào đơn, đào kép, đào nhiều màu… Mùa xuân hoa đào nở rực hồng cả một góc trời của Hoàng Hoa trang nói riêng của Đào bang nói chung, cảnh tượng đẹp như cõi thiên thai. Trái đào cũng có rất nhiều loại: Đào vàng, đào trắng, đào tiểu, đào đại, đào lông, đào láng, đào vườn, đào rừng… Trái đào đủ độ già ăn giòn, chua chua ngọt ngọt ngon hơn là đào chín. Mùa xuân hoa đào nở, mùa hạ trái đào rụng, những nhà vườn chuyên môn thì hái bán, những người trồng tài tử thì… trái rụng đầy đất. Nếu mùa xuân hoa đào tạo ra cảnh quan thiên thai thì mùa hạ đào rụng, chín nhũng ra, côn trùng kéo đến trông bầy nhầy như “ Địa ngục”. Thế mới biết thiên đường với địa ngục không hai, cũng từ một tâm niệm mà ra.
Thận Nhiên là một trong những nhà văn thành danh ở hải ngoại vào cuối thiên niên kỷ trước. Cuốn tiểu thuyết “Những ghi chép ở tầng thứ 14” được Văn Đoàn Độc Lập trao giải Sách Hay bộ môn Văn, năm 2018. Gần đây, từ lối viết hiện thực anh chuyển sang siêu hư cấu, mà hai truyện “rất ngắn” đăng trên Việt Báo Xuân Nhâm Dần vừa qua là điển hình. Nhà văn Thận Nhiên đến với Việt Báo lần này với một truyện “chớp”, trong đó cảm xúc như một tia chớp, nhoáng lên rồi tắt ngúm, nhưng để lại dư ảnh đậm đà trong tâm tư người đọc. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
"Chiều nay, Khang ngồi bờ đá lắng nghe sóng vỗ lần cuối vì ngày mai anh sẽ ra đi đến nước thứ ba. Khang đang nghe tiếng vọng bao kỷ niệm từ ngày bước vào mê lộ lịch sử, mang tuổi trẻ đi mải miết mà không tìm thấy lối ra trên chính quê hương mình. Khang nhớ ánh nắng chiều thoi thóp quê nhà luôn cho anh ý niệm dở dang, muộn màng số phận cho đến ngày gặp Lĩnh cùng hai đứa học trò trên chiếc sân nhà. Nơi ấy một thời chứa chấp một con người mà linh hồn đã chết nhưng cố bám víu trần gian, tận tụy mãi võ để kéo dài sự sống cho dù mỗi ngày xiêu vẹo, nghiêng ngả trên chính bước đi của mình." -- Một truyện ngắn mang nặng tâm sự hoài niệm một thời trai trẻ nơi quê nhà, của nhà văn Lê Lạc Giao, Việt Báo trân trọng giới thiệu.
Có xa quê hương đất nước nhiều năm, mỗi khi Tết đến Xuân về, người ta mới cảm nhận không khí chung quanh mình như thiếu thiếu một cái gì rất quan trọng? Không phải vì đất lạ, người không quen biết, không cùng chủng tộc. Cũng không phải vì những đồ ăn, thức uống khi mua về thiếu đi cái hương vị đất nước của quê hương bản quán mà có lẻ chỉ vì... cái không khí chung quanh mình nó khác biệt và cả cái mùi vị của mùa xuân cũng nhiều lạ lẫm.
Tôi bao giờ cũng hình dung Tết gắn liền với đất Bắc, nơi đi trước mùa Xuân phải có một mùa Đông. Mùa Đông ở nơi này mỗi năm mỗi khác, nó có thể lạnh nhiều hay lạnh ít, độ ẩm có thể cao hay thấp, nhưng nhất thiết không thể không có gió bấc và mưa phùn. Không khí se lạnh làm cho con người phải co ro một chút, rùng mình một chút, chính là sự chuẩn bị không thể thiếu để cho ta bước vào cái mốc thời gian mới đối với mỗi người mỗi nhà.
Ông cụ thường ca cẩm anh con trai nuôi mèo từ một con đến cả đàn, từ đời cụ mèo đến chắt mèo trong khi chuyện vợ con chẳng hề nghĩ đến. Nhiều năm trước đám bạn anh phải tranh nhau mà xin mèo về làm thú cưng. Giờ thì họ không muốn xin nữa vì ngại chăm, hoặc dẫu có muốn chăm thì đã đến lúc chăm cháu nội cháu ngoại chứ không đến lượt thú cưng. Thế là lũ mèo của anh hiện tại còn những bốn con, được cái ông cụ thương anh con trai nên anh có việc đi đâu thì lại cặm cụi cho chúng ăn.
Truyện này viết về một người anh, và nhiều phần là hư cấu. Nghĩa là, chỉ một phần có thực. Nhưng tôi không thể nào nói rõ là phần nào thực, phần nào hư. Nói rõ có khi lại hỏng. Đã viết truyện thì, chẳng tác giả nào nói rõ đâu. Ngay như nhan đề “Bên Trời Đại Lý” cũng thấy là bên kia sự thật rồi, vì Việt Nam mình làm gì có thị trấn Đại Lý, nơi sẽ là bối cảnh của truyện ngắn này. Nhưng, nếu nói thiệt ra là Chợ Lớn, thì lại trần gian quá, chẳng thơ mộng tí nào. Thêm nữa, có một số độc giả có thành kiến với người Tàu -- làm ơn, xin sửa lại, gọi là người Hoa mới đúng và lịch sự hơn – nếu thành kiến, khi đọc, có thể mất vui. Do vậy, trong truyện này, chúng ta đồng ý rằng địa danh Chợ Lớn sẽ được mã hóa thành Đại Lý, một vương quốc cổ trong truyện Kim Dung. Các độc giả không ưa cường quốc phương Bắc xin tưởng tượng rằng Đại Lý chỉ có trong truyện, chớ đừng nhớ rằng nơi này đã bị nhà Minh thâu tóm từ thế kỷ 14.
Cho đến thời đại này, chuyện bói vẫn được tôn trọng, không chỉ trong dân gian, mà còn xảy ra sau lưng sân khấu chính trị, kinh tế. Hầu hết các nhà lãnh đạo ở Đông phương đều xem bói, có khi đã tuyển dụng một thầy bói nổi tiếng để hỏi việc thành bại mỗi lần gặp khó khăn và thầy bói đó chỉ đạo thay vì vị lãnh tụ được lòng tin của dân chúng. Ở Tây phương cũng vậy, ngày xưa họ tin dùng các thầy phù thủy; ngày nay họ dùng những kỹ thuật khoa học để dự đón tương lai. Bất kỳ thứ gì, nếu có chữ “đoán” đều thuộc về dòng họ “Bói”. Bói là những hành động và lời lẽ làm cho “mê” và “tin” một cách “tín” nhiệm. Hầu hết những người có học đều xem bói là mê tín, nhưng cái thứ mê tín này ẩn núp tận xương tủy thần kinh, chỉ chờ đúng dịp sẽ xuất hiện. Từ những chuyện quan trọng như đầu tư kinh doanh, xuất quân viễn chinh, quyết định chính trị, cho đến những chuyện vui chơi: Khi vào một đám đông, bạn chỉ cần bắt đầu xem chỉ tay của một người, lập tức, kẻ lạ người quen kéo đến ngồi chung quanh, chờ đến p
Hồi còn nhỏ, tôi nghe nhạc xuân với tinh thần “kỳ thị” cao độ. Nghe “…tình xuân chớm nở đêm qua, khi mùa chinh chiến đã lui ra ngoài đời…” thì thấy phê quá xá! Nhưng lại hết sức bực mình khi nghe bên hàng xóm vẳng sang “… trên đường đi lễ xuân đầu năm… chách chách chách chách bum chách bùm chách bum (tiết tấu habanera) Qua một năm ruột rối tơ tằm…”. Tôi càu nhàu trong đầu “nhạc xuân gì mà buồn thế!...” Sau này lớn lên, tôi mới thấy mình vô lý quá cỡ. Thực ra bài Xuân Thì của Phạm Duy giai điệu buồn cũng không kém gì bài Câu Chuyện Đầu Năm của Hoài An. Vấn đề chỉ là tại mình thích thì khen hay, còn không thích thì chê là buồn, thế thôi!
Những cánh mai đua nở giữa mùa đông, xác rơi phủ mặt đất màu vàng tươi của cái chết còn rất mới. Mới như tuổi thơ của tôi ngày hôm qua. Suốt tuổi trẻ, Tết vẫn đem cho tôi một hạnh phúc buồn bã khi sống lại kỷ niệm, thứ cảm giác hao hao như gốc mai gọi mùa xuân bằng những cánh hoa rơi. Tôi yêu những tập tục ngày xưa mà bây giờ có sự cảm thông rằng không mấy ai đủ sức làm theo. Người ngoài nước thay đổi để hội nhập vào văn hóa mới, cả người trong nước cũng vậy. Tôi hoài niệm sự yên bình của đời sống và sự đơn giản của con người trong mắt tôi ngày ấy.
Bé gái tên Nhiên hầu bà nội đã nhiều năm nay, từ năm cô lên mười. Hầu, là phải luôn gần nội, đôi lúc đọc truyện cho bà nghe, mô tả những gì đang có trước mắt nhưng nay bà không còn nhìn thấy. Cây mai vườn nhà ngày giáp Tết nhiều hoa hay ít. Có đàn chim trời nào đang bay qua trên từng cao kia không? Tính tình bà rất hiền hòa. Hay kể chuyện xưa. Hồi ông nội là một sĩ quan quan trẻ, rất đẹp trai, hào hoa, rất thương yêu bà. Bà bảo, thuở bé, bà đã thấy đàn chim bay từ phương bắc vào nam trốn mùa lạnh, ngày đầu xuân trời quang mây tạnh, khí tiết ấm áp, chúng bay trở về phương bắc. Đại khái bà muốn biết những gì giờ đây bà chỉ cảm, chỉ nghe, chỉ ngửi được, nhưng không thể nhìn thấy được.
Hẳn nhiên rồng được cho là loài linh thú. Ngày xưa cha ông chúng tôi săn rồng ngoài biển, có khi trên núi. Về sau, rồng bị săn giết nhiều, không kịp sinh đẻ, thế giới sợ chúng tuyệt chủng nên đưa vào sách đỏ. Tôi ở xa về, tôi nghĩ mình sống ngang với lịch sử. Tôi thèm thịt rồng. Nga là đại gia, nó làm giàu vô cùng nhanh nhờ buôn đất đai, chứng khoán, và mọi thứ ám muội khác. Nga nói, “Ngày nay không mấy ai biết vị thịt rồng ta ra sao, các nhà hàng sang trọng trong nước phải mua rồng tận bên Tàu. Thịt rồng Tàu tanh lợm, nhưng thèm thì đành phải ăn.”


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.