Hôm nay,  

"Bond" Là Gì

01/08/202019:04:00(Xem: 6155)

Vừa bước vào xe để cô con Út đưa đi bác sĩ, ông Kiên vừa đùa:

-Dữ hôn! “May” mà Ba có hẹn với bác sĩ Ba mới được gặp con!

Út phải đáp nửa Tây nửa Ta, vì Út đến Hoa Kỳ từ khi còn bé:

-Ba cứ như vậy cho nên mấy anh chị không ai muốn gặp Ba.

-Trời đất! Ba làm gì mà mấy anh chị không muốn gặp Ba?

Vừa sang số xe, Út vừa đáp:

-Mỗi lần gặp Ba, Ba cứ “nag” như vậy ai mà muốn gặp!

-Con à! Ba vẫn có thể lái xe đi bác sĩ được. Nhưng vì dạo này Covid-19 “tung hoành” quá, con làm việc online chứ không phải vô sở – và cũng vì Ba muốn gặp “cô gái Út của Ba” – cho nên Ba mới nhờ con. Con đừng “cự nự” Ba!

-Con không “cự nự” Ba. Con chỉ nói rằng Ba không nên “nag” tụi con.

Im lặng. Không hiểu vì muốn “làm hòa” với con hay là vì lâu ngày không được nói tiếng Việt, ông Kiên lại gợi chuyện:

-Anh chị của con và mấy cháu khỏe không?

-Dạ khỏe.

-Lâu quá Ba không gặp được đứa nào cả.

Im lặng. Bất chợt, không hiểu tại sao ông Kiên lại liên tưởng đến cái chết cô đơn của bà Margaret Thatcher– một phụ nữ đầy uy quyền của nước Anh – ở khách sạn Ritz, tại Piccadilly, Anh quốc, năm 2013. Bà Thatcher chết tại khách sạn không phải vì bà du lịch, ở lại khách sạn rồi chết đột ngột mà chỉ vì bà không thể bước lên cầu thang trong dinh thự của bà, đành phải đến ở khách sạn của một người ái mộ bà để bà được chăm sóc hằng ngày. Ông Kiên hỏi:

-Út! Ba nhớ dường như lúc bà Thatcher chết, báo chí bàn tán về thái độ thờ ơ, lạnh nhạt của hai người con của bà ấy đối với bà ấy. Đúng không, con?

-Con đâu có thì giờ để lưu tâm mấy chuyện đó. Ba hỏi để làm gì?

-Vì Ba nhớ dường như báo chí bảo hai người con của bà Thatcher bảo rằng giữa bà Thatcher và hai người con không có cái “bond”. Hai người con không có được những vòng tay ôm – “hug” – của Mẹ.

-Đúng rồi! Nếu bà Thatcher không có cái “bond” với con của bà ấy thì con của bà ấy lạnh nhạt với bà ấy là đúng!

Ông Kiên nghẹn lời! Cuộc đời của ông – một sĩ quan tác chiến – gắn liền với chiến trận nhiều hơn là thời gian về phép thăm vợ con. Sau 1975, ông lại bị cộng sản Việt Nam (csVN) cầm tù suốt thời gian dài thì làm thế nào ông có thể tạo được cái “bond” giữa các con và ông? Ông Kiên hỏi:

-“Bond” là cái gì mà khi không có “bond” thì tình Cha con, Mẹ con bị rạn nứt, Út?

-Không có “bond” không có nghĩa là tình Cha con, Mẹ con bị rạn nứt. Tiếng Việt của con “nghèo”. Nhưng con nghĩ chữ “bond” có thể tạm dịch là “khắn khít”.

Chợt nhớ đến Mẹ của Út –  vợ cũ của ông Kiên – ông Kiên hỏi:

-Nếu con nói như vậy thì trường hợp của Mẹ – người đã cực khổ, tảo tần nuôi các con ở kinh tế mới rồi đưa các con vượt biển sang đây – có được cái “bond” hay không? Nếu không có “bond” thì tại sao? Nếu có “bond” thì lý do nào Mẹ của con phải sống thui thủi một mình trong senior living sau khi thằng Niên bỏ đi? 

-Tại sao mỗi khi đề cập đến Mẹ thì Ba lại “lôi” chú Niên ra và Ba có vẻ cay đắng? Chú Niên là người tốt. Chú Niên bỏ đi – ngay sau khi Ba sang Mỹ theo diện HO – không phải chú hết thương Mẹ mà chỉ vì chú Niên muốn để Ba Mẹ sum họp. Nhưng Ba chỉ vì sĩ diện, không chấp nhận Mẹ. Ba biết Mẹ phải cơ cực như thế nào ở kinh tế mới khi Ba ở tù cộng sản và trên xứ Mỹ này để cho tụi con được như ngày hôm nay hay không? Ba tưởng, trên xứ Mỹ, một người đàn bà với năm đứa con dại, trong tay không có tiền, dễ sống lắm hay sao?

-Ba không cay đắng với thằng Niên mà Ba chỉ tiếc cho Mẹ của con. Thời điểm đó Mẹ con còn trẻ, đẹp, có học. Thà Mẹ lấy Mỹ, hay một người nào khá hơn một tý, Ba không trách. Đằng này…

-Chuyện tình cảm Ba không thể đo lường, cân, đong. Ba nói đúng! Mẹ có nhiều ưu điểm. Nhưng những ưu điểm của Mẹ kèm với năm đứa con thơ và sự nghèo khó thì không người đàn ông nào có trình độ tương xứng với Mẹ muốn “nhào” vô! 

-Chính phủ Mỹ có chương trình trợ giúp gia đình nghèo nuôi con mà.

-Lúc đó làm thế nào Mẹ biết được có chương trình food stamps and housing assistance? Vã lại, như Ba nói lúc nãy, Mẹ có học, tại sao Mẹ không tự đứng trên đôi chân của Mẹ mà Mẹ phải nhờ chính phủ Mỹ? Mẹ phải thể hiện tinh thần tự lập của Mẹ chứ!

-Có tinh thần tự lập thì tại sao phải lấy thằng Niên? Con biết gốc gác thằng Niên mà.

-Ba! Tụi con biết chú Niên là thuộc ấp của Ba. Nhưng người thuộc cấp đó, ngày trước từng lo cho Ba rất chu đáo, từng vui đùa với tụi con. Sau này gặp lại Mẹ và tụi con bơ vơ nơi xứ lạ, cũng chính người thuộc cấp đó giúp Mẹ lo cho tụi con. Nếu không có người thuộc cấp cũ của Ba thì chẳng có đứa con nào của Ba có thể theo học đại học được! Còn Mẹ, dù là một người nặng tinh thần tự lập, Mẹ cũng không thể kiêm luôn công việc của một  handyman! Mẹ không thể cả tuần phải làm hai việc rồi về nhà nấu cơm, đi chợ, cắt cỏ, sửa ống nước, thay bóng đèn, thông nhà cầu, thay dầu xe, rửa xe, v.v…

-Còn mấy thằng anh của con để làm gì?  

-Lúc đó tụi con còn nhỏ, Mẹ lại cứ ép tụi con phải học. Thấy chú Niên phụ giúp Mẹ tụi con mừng cho Mẹ. Sau khi xong trung học, mấy anh chị phải học nghề để phụ với Mẹ gửi tiền về Việt Nam giúp ông bà Nội – và nhờ các cô chú đi tăm nuôi Ba – giúp ông bà Ngoại; còn mấy đứa nhỏ như con thì phải đi học xa.

-Nếu con biết Mẹ của con cực khổ như vậy, tại sao các con không dành cho Mẹ nhiều tình thương?

-Ba! Tụi con để Mẹ – cũng như Ba – vô senior living cho được an toàn chứ không phải tụi con không thương Ba Mẹ.

-Lúc nãy con nói Mẹ có tinh thần tự lập tại sao không đứng trên đôi chân của Mẹ. Bây giờ Ba hỏi con: Mẹ tảo tần nuôi các con khôn lớn, tại sao bây giờ các con chối từ bổn phận của các con để đưa Mẹ vô senior living do chính phủ trợ giúp?

-Ba! Senior living là một nơi đầy đủ tiện nghi để cho người lớn tuổi sống một cách thoải mái, tự do chứ senior living không phải là nhà tù! Lý do chính phủ trả giúp phần nào là vì tiền hưu của Ba Mẹ không đủ trả. Đó là luật. Số tiền chính phủ trả giúp phần nào cho Ba Mẹ ở senior living có thể đến từ tiền thuế của tụi con. 

-Lúc nãy con vừa tỏ ý tán đồng về việc hồi trước Mẹ không xin trợ cấp của chính phủ; bây giờ con lại bảo chính phủ trợ cấp một phần tài chính cho Ba Mẹ sống trong senior living là luật. Như thế con có tự mâu thuẫn hay không?

-Con không tự mâu thuẫn. Ngày Mẹ và tụi con mới đến Mỹ, chưa ai trong gia đình đóng thuế income tax cho cơ quan IRS – Internal Revenue Service. Bây giờ Ba biết mỗi năm vợ chồng con phải đóng bao nhiêu tiền thuế cho IRS hay không?

-Nếu con lý luận senior living là một nơi cung cấp nhiều tiện nghi cần thiết chứ không phải là nhà tù thì con hãy nhớ lại, ngày Ba đi tù, csVN tịch thu nhà, đuổi Mẹ và các con đi kinh tế mới. Lúc đó Mẹ khổ như thế nào mà Mẹ cũng không nỡ đem các con giao cho viện mồ côi – nơi cung cấp cho trẻ em cuộc sống khá hơn nhiều so với cuộc sống ở kinh tế mới – Con nghĩ đi?

-Con nghĩ, lúc ở kinh tế mới, giữa Mẹ và tụi con đã có cái bond ràng buộc.

-Thế thì lý do nào cái bond đó rã ra? 

- Cái bond giữa Mẹ và tụi con rã ra vì: Thời gian ở kinh tế mới, dù không quen cuộc sống cơ hàn, đói khát nhưng Mẹ vẫn phải mót lúa, mót khoai, buôn đầu nọ bán đầu kia, bỏ tụi con ở nhà suốt ngày. Sang Mỹ – trước khi gặp lại chú Niên – Mẹ làm hai việc. Năm giờ sáng Mẹ phải thức dậy nấu cơm, làm đồ ăn sẵn cho tụi con rồi Mẹ đi làm đến một giờ đêm Mẹ mới về! Tụi con không gặp được Mẹ, không nhận được cái “hug” nào của Mẹ.

-Người Á Đông mình, khi con còn bé thì Cha Mẹ hôn và bồng, bế; nhưng khi con lớn, Cha Mẹ không “hug” con như người Âu Mỹ.

-Con hiểu. Nhưng, cái mà tụi con không hiểu được là tại sao mỗi khi tụi con phạm lỗi gì thì Mẹ đánh tụi con không nương tay, mắng nhiết tụi con không tiếc lời? Những lúc đó, tụi con có cảm tưởng như là Mẹ muốn trút tất cả phẫn hận, tất cả đau khổ và bất hạnh của đời Mẹ lên người của tụi con!

-Con nên biết rằng trên đời không ai thương con bằng Mẹ! Người Việt mình có câu “Thương cho roi cho vọt; ghét cho ngọt cho ngào”. Nhưng, thời đi học, Ba thoáng đọc đâu đó câu này: "Trong vũ trụ có lắm kỳ quan nhưng kỳ quan đẹp nhất vẫn là trái tim của người mẹ". Và Ba nghĩ rằng Mẹ nặng lời hoặc dùng roi vọt với các con là chỉ với mục đích dạy bảo các con nên người chứ không bao giờ Mẹ có ý định ghét bỏ các con.

Những lời của ông Kiên làm cho Út cảm thấy nặng nơi lồng ngực như các tĩnh mạch đang bị thắt lại. Nếu đúng như lời giải thích của Ba thì Mẹ đáng thương biết dường nào! Mẹ chỉ là nạn nhân của sự giáo dục nệ cổ!

Nhận ra sự xúc động trên nét mặt của Út, ông Kiên hỏi:

-Khi “bond” đã rạn vỡ, mình có thể hàn gắn lại được không, con?

-Dạ được.

-Nếu muốn hàn gắn cái “bond” đã rạn nứt với các con thì những người già như Ba Mẹ phải hành động như thế nào?

-Muốn tạo dựng lại điều gì, bất cứ về tình cảm hay là vật thể, người ta thường tận dụng những điều như tay chơi tennis trứ danh của Mỹ – Arthur Robert Ashe, Jr – đã nói: “Start where you are. Use what you have. Do what you can.”

-Nếu nói như Arthur Robert Ashe Jr. thì những người “rơi” vào trường hợp như Ba Mẹ, mỗi khi cần hoặc nhớ con, gọi điện thoại thăm con thì phải để lại lời nhắn chứ ít khi được nói chuyện với các con. Ngoài ra không còn một phương tiện nào khác để Ba Mẹ được thường xuyên gặp và nói chuyện với các con. Như vậy thì làm thế nào những người già như Ba Mẹ có thể tạo dựng lại cái bond đã tan rã?

-Ba Mẹ cứ muốn tụi con có sự nghiệp vững vàng thì chính cái sự nghiệp đó nó chiếm toàn thời gian của tụi con. Còn câu hỏi của Ba, không ai có thể giải đáp được!

-Đa số người già trên xứ Mỹ đều bị hành xử như các con đã đối xử với Ba Mẹ mà tại sao không ai có thể giải đáp được câu hỏi rất đơn giản của Ba?

-Dad! That’s just the way it is.

Im lặng! Ngày xưa, được tin vợ con của ông vượt biển, ông Kiên lo buồn, nhưng lòng vẫn hy vọng sẽ có ngày được gặp lại. Bây giờ, sau khi nghe những lời bộc trực của đứa con cưng, ông Kiên mới thật sự nhận ra được khoảng cách giữa ông và các con mà – từ khi đến Mỹ – ông cứ cố tình chối bỏ!

ĐIỆP MỸ LINH
https://www.diepmylinh.com/ 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Đây là một câu chuyện có thật, đã được nhân vật chính cho phép ghi lại và phổ biến. Hiện nay, nhân vật chính đang sống ở Mỹ, bên cạnh các con cháu thành đạt và hết lòng thương yêu Cô. Ngoài chuyện kể về con đường phấn đấu đem các con sang Mỹ của một người mẹ, câu chuyện còn ghi lại nhiều chi tiết trung thực trong bối cảnh xã hội miền Nam Việt Nam ngay sau tháng Tư, 1975, cũng như tấm lòng của người dân miền Nam đối với nhau trong gian đoạn vô cùng đen tối đó.
Kỷ niệm đầu tiên của tôi liên quan đến nhà văn Mai Thảo. Những ngày mới di cư vào Nam, gia đình tôi cư ngụ tại con hẻm gần nhà thờ Huyện Sĩ. Hai đầu con hẻm nối với hai đường lớn, là đường Võ Tánh và Ngô Tùng Châu. Một anh bạn thân đã chỉ cho tôi một người có bóng dáng rất văn nhân, đó là Mai Thảo. Ông ta thường xuất hiện trong những buổi sáng ở đầu hẻm trên con đường có nhà in mà tôi được biết là ông đang chăm lo cho ra đời tác phẩm đầu tay của ông, đó là cuốn “Đêm Giã Từ Hà Nội”. Tôi đã phải lấy tiền để dành nhỏ nhoi ra mua và nghĩ rằng nó sẽ là một kỷ niệm để đời cho mình. Tôi đọc truyện ngắn “Đêm Giã Từ Hà nội” nhiều lần, và đến nay vẫn còn nhớ mang máng câu “Tôi nhìn xuống nước sông Hồng đục ngầu như máu mà Hà nội đang ở dưới đó…”. Tôi cũng rời Hà nội như ông, cũng ngồi trong một chiếc xe vận tải lớn chở những người di cư qua cầu Long Biên trong buổi tối nửa đêm về sáng sang phi trường Gia Lâm để đáp máy bay vào Saigon.
Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975 đã có nhiều mảnh đời tang thương. Trong số đó có cô bạn thân của tôi. Thu Nguyệt là một cô gái có khiếu thơ văn. 13 tuổi đã có nhiều bài đăng trên Nguyệt san Thiếu Nhi với bút hiệu Tê Hát Nguyệt Thi. Bạn khiến cả lớp chúng tôi ngưỡng mộ. Ngày đất nước im tiếng súng, gia đình bạn từ Trại gia binh ở phi trường Đà Nẵng phải dọn ra ngoài; sống vất vưởng nhờ cậy nhà người quen. Vì không có địa chỉ cố định, ba mẹ bạn cùng đàn con 7 đứa bị xếp vào gia đình phải đi Kinh Tế Mới đợt đầu tiên của thành phố Đà Nẵng. Năm đó tôi đang học lớp 12.
Câu truyện mà tôi kể dưới đây diễn ra trên toàn miền Bắc Việt Nam từ khoảng năm 1965 tới 1972. Trong bẩy năm trời đó, hàng triệu người tham gia vào câu truyện này và là nhân chứng, vậy mà cho tới nay không một báo chí, một truyện ngắn, truyện dài nào nói đến “sự kiện lịch sử” này. Điều này làm cho tôi cứ băn khoăn suy nghĩ trong nhiều năm trời: Tại sao có những sự việc phi lý đến như vậy mà lại có hàng triệu người vui vẻ tuân theo; cho tới bây giờ đang thời kỳ “mở cửa”, tiếp xúc với “Thế giới văn minh” bên ngoài nhưng khi nghe hỏi về sự việc đó thì vẫn có rất nhiều người đồng tình với nó và cho đó là đúng, là hợp lý.
Ngày đầu khởi hành từ làng Mangkang, đoàn người vừa đi vừa lạy được hai mươi dặm, cứ mỗi bảy bước là một lạy, mọi người lạy dài xuống đất, để cả đầu, mình tay chân chạm đất. Họ lạy với tất cả tâm thành tôn kính đức Phật. Chị Zesay có bầu nhưng vẫn lạy như mọi người, cô bé Ceba mới mười hai tuổi, con gái của Tenzin cũng lạy như mọi người.
Năm 1620 xa xưa con tầu Mayflower đã chở các gia đình người Anh từ Anh Quốc vượt Đại Tây Dương đến châu Mỹ để tìm đất hứa. Ngày nay con tầu này cũng đưa chúng tôi rời khỏi VN để đi tìm một vùng đất hứa như vậy. Chúng tôi đi trong Tháng Tư nên tên tàu April Flower được khai sinh từ đó
Bằng ngôn ngữ không chủ từ, bằng câu kệ không đầu đuôi, tôi cố thuyết phục bệnh nhân rằng chết không phải là chọn lựa thích hợp, rằng đâu đó trên thế gian này vẫn còn một người yêu thương cô hơn yêu thương chính mình, rằng trong những thứ con người có được, không gì quý bằng mạng sống. Tôi nói cho một mình tôi nghe. Tôi kể chuyện mẹ tôi. Tôi kể chuyện cha tôi. Tôi kể chuyện em gái tôi. Tôi kể chuyện nửa đêm tôi quýnh quáng lại nhà người bệnh. Con mắt đứa bé đã đứng tròng, chân tay co giật từng hồi. Muộn lắm rồi. Nhưng người mẹ khóc lóc nài van. Chích cho cháu mũi thuốc hồi sinh. Hay thuốc gì cũng được. Miễn là có chích. Biết đâu cháu nó lại không chết. Mũi kim nhọn ánh lên dưới ánh đèn dầu trong đêm tăm tối. Vậy mà thằng bé lại sống, cô Thắm biết không. Bây giờ cô Thắm biết thằng bé ấy đang làm gì không. Nó học y tá. Nhà nó nghèo không vào trường y được nhưng nó nhất định làm y tá để cứu người. Cô gái vẫn nằm nghiêng quay mặt vào tường. Lạnh băng tượng gỗ. Đôi vai khẽ chuyển động như v
Lão Honda Accord đã quá già, hơn hai trăm ngàn dặm rồi chứ ít sao. Lão đã gắn bó với cậu chủ mười mấy năm nay. Ngày mới về với cậu chủ, lão còn mới toanh, cậu chủ cưng như trứng hứng như hoa, một tí trầy xước trên thân lão cũng đủ làm cậu chủ đau lòng, mỗi tuần cậu chủ tắm rửa đánh bóng lão… Ấy vậy mà giờ cậu chủ chẳng ngó ngàng gì đến lão nữa, lão già và trở nên xấu xí, đôi khi còn giở chứng nữa.
Bất cứ ai sống trên đời, không nhiều thì ít, đều có những kỷ niệm đặc biệt vui buồn in sâu trong tâm trí. Một trong những kỷ niệm này cũng là khi mình từng được lãnh nhận những món quà xem như những kỷ vật tinh thần vô giá được lưu trữ từ đời này đến đời nọ cho con cháu sau này.
Tiếng chuông chùa đòng vọng, vang xa trong không gian buốt lạnh của một chiều cuối Đông khiến quang cảnh quanh chùa trông thật tịch liêu. Mặt trời nghiêng về phía quê xưa. Những tia nắng mong manh nhẹ nhàng ve vuốt từng phiến đá gầy trước sân chùa.
Đăng lại nhớ chuyện con chó bơi qua sông trong một truyện ngắn của sư Giới Đức. Con chó ở chùa nghe chuông, ăn cơm chay, quanh năm quấn quýt với thầy. Một hôm kia nó nghe mùi thịt nướng bên kia sông nên bơi qua bên ấy, bơi đến giữa giòng thì nghe tiếng sư phụ gọi nên bơi quay về, gần tới bờ thì lại thèm mùi thịt nướng nên lại bơi ngược qua sông, cứ như thế nó bơi qua bơi lại đến khi kiệt sức thì chết đuối giữa giòng.
Tôi vẫn tin rằng tương lai một dân tộc, một đất nước sẽ khá hơn khi những công dân trẻ tuổi đặt câu hỏi này cho bản thân. Bởi vì những bạn trẻ đã tự vấn như vậy sẽ không để cho cuộc sống quí giá của mình trở nên lãng phí.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.