Hôm nay,  

Mẹ

04/09/202008:59:00(Xem: 7294)

 

Ho Thi Kim Tram
Mẹ không làm việc ở Tổng Nha Điền Địa nữa, không còn mỗi ngày lên xuống xe buýt sáng chiều. Mẹ chuyển về làm việc ở Ty Điền Địa cho gần nhà, chỉ cần đi bộ.

Ngày nào cũng vậy, từ nhà, mẹ đi dọc vỉa hè đường Công Lý quẹo phải ngã tư đường Yên Đỗ, quen thuộc đến nỗi nhắm mắt mẹ cũng đi tới nơi. Suốt nhiều năm làm việc, mẹ chưa bao giờ phàn nàn về phương tiện đi lại. Thời gian của mẹ như chiếc đồng hồ, chính xác lắm! Mẹ còn một cuốn sổ ghi chép đầy đủ các mục thu chi hàng ngày, dù mẹ chẳng hề học qua lớp kế toán. Tôi chưa bao giờ xem thử mẹ viết những gì trong cuốn sổ nhỏ đó, nhưng đoán là nó đã rất có ích cho cuộc sống của mẹ con chúng tôi.

Những năm 60-70, khi đi làm hoặc ra phố, mẹ luôn mặc những bộ áo dài rất lịch sự. Tóc mẹ bới gọn sau gáy, kẹp cây kẹp tăm nhỏ hai bên mái cho tóc khỏi xòa ra mặt. Mẹ còn không quên xịt tí nước hoa, thói quen lúc xưa khi đi chơi với cha. Trông mẹ thật quý phái, xinh đẹp với nụ cười có hai đồng tiền nơi khóe miệng. Nhiều lúc nhìn mẹ sửa soạn đi công chuyện tôi thấy thương mẹ quá, rồi dại dột suy nghĩ tại sao cha mất sớm để mẹ phải sống hoài phí tuổi thanh xuân với năm đứa con thơ dại.

Một ngày, đi học về tôi đã thấy mẹ trong nhà. Một điều rất lạ! Đợi đến buổi cơm chiều, mẹ bình thản kể lại chuyện bị té xỉu trên đường đi làm về lúc trưa. Cũng may mẹ ngã trước cửa nhà, là phòng mạch tư của một ông bác sỹ. Ông đã sơ cứu, cho mẹ nằm nghỉ tại phòng mạch của ông tới lúc mẹ tỉnh táo để về nhà. Đó là lần đầu tiên tôi biết mẹ bị cao huyết áp, dễ đưa đến tai biến nguy hiểm. Bác sỹ khuyên mẹ nên vào bịnh viện làm các xét nghiệm để phòng tái phát. Từ đó, mẹ thường xuyên ra vào viện Y Học Dân Tộc của bác sỹ Trương Thìn. Có lần mẹ phải nằm bịnh viện điều trị ba tuần. Mẹ ưu tư lắm! Việc làm ở sở, việc học của các con, việc thăm nuôi người bịnh, v..v... Lo lắng nhiều vậy mà mẹ không một lần xin bác sỹ cho về nhà. Tôi chưa thấy ai thích ở bịnh viện hơn ở nhà như mẹ. Mẹ là vậy, thà chịu cô đơn trong bịnh viện còn hơn để con cái phải chăm sóc mà xao lãng việc học. Có lẽ bản năng sinh tồn của mẹ là sự tồn sinh của anh em chúng tôi.



Từ ngày xảy ra tai nạn, thực đơn của mẹ bắt đầu thay đổi: cá hấp hoặc nướng với ít gia vị, rau xanh hấp hoặc luộc, v..v... thường do mẹ tự làm. Mẹ uống thuốc, đo huyết áp thường xuyên. Mẹ tôn trọng lời khuyên của bác sỹ vì đã từng nuôi cha bịnh. Thấy mẹ ngày ngày đi làm, tự chăm sóc chính mình, tôi không dám hỏi han. Tôi sợ nhìn nét mặt bình thản của mẹ. Không phải tôi sợ bị mẹ la mắng, chỉ sợ mẹ có chuyện gì buồn trong lòng mà không ai biết. Tôi sợ lời nói nghiêm khắc của mẹ làm trái tim nhỏ bé của tôi tổn thương. Tôi chẳng bao giờ tâm sự với mẹ, vì tôi tuy hiền lành nhưng tính độc lập và bướng bỉnh. Lớn lên tôi hiểu, mẹ có một cuộc sống nội tâm sâu sắc mà bà cố che dấu bằng vẻ ngoài lạnh lùng. Mẹ sống quá nguyên tắc dễ bị nhầm tưởng là khô khan.

Ho Thi Kim Tram 02
Người mẹ nào chẳng muốn ôm con vào lòng nựng nịu lúc con nhỏ, hoặc lắng nghe con nói chuyện như một người bạn thân khi con lớn lên? Mẹ tôi cũng vậy! Nhưng tôi lại không có thói quen kể lể nỉ non với mẹ như cách của em gái tôi. (Cũng may mẹ rất hiểu tâm tính của mỗi đứa con). Cho đến khi mẹ được anh cả bảo lãnh sang Mỹ, và nhiều năm sau mẹ lâm bịnh nặng. Lúc bấy giờ Mỹ chưa lập bang giao với Việt Nam, tôi vẫn cố đem giấy tờ đi Thái Lan với niềm tin sẽ được gặp mẹ. Lần đầu bị từ chối, tôi vẫn nuôi hy vọng khi trở lại Thái Lan lần thứ nhì, và Tòa Đại Sứ Mỹ đã chấp thuận hồ sơ của tôi.

Có tôi bên cạnh, mẹ trở nên yêu đời và khỏe hơn rất nhiều, có thể cùng con cháu đi chơi mỗi cuối tuần khiến cho anh cả và em trai tôi phải ngạc nhiên. Chúng tôi không ngờ đó là khoảnh khắc vui vẻ cuối cùng của cuộc đời mẹ!

Một tháng phép do Tòa Đại Sứ Mỹ chấp thuận qua rất nhanh. Lúc chỉ còn ở chơi với mẹ vài ngày trước khi trở về Việt Nam, tôi nấu những thức ăn mẹ thích để dành trong tủ lạnh cho mẹ. Vậy mà, tôi vẫn chưa nói được một câu rất bình thường “Mẹ, con thương mẹ” để rồi ân hận khóc thầm trên chuyến bay dài xuyên Thái Bình Dương...

Hồ Thị Kim Trâm

Ý kiến bạn đọc
15/09/202019:37:57
Khách
Vâng, cám ơn chị rất nhiều,tôi đồng ý với chị có rất nhiều người con rất thương yêu cha mẹ nhưng chưa bao giờ nói.Vâng, người mẹ Việt Nam là một suối nguồn không bao giờ cạn cho con cái và gia đình.
Cám ơn chị
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cậu Hà người Bắc di cư năm 1954, cậu di cư có một thân một mình khi còn trẻ, nên cậu cũng không có nhiều phương tiện được học hành nhiều. Khi lớn lên ở miền Nam, lối chừng 19, 20 tuổi khoảng năm 1965-1966, cậu từ giã học đường đăng lính, cậu đi lính Việt Nam Cộng Hòa ngành Biệt Động Quân. Sau chuyển qua Thám Báo. Cậu đóng quân như ở miền đồng ruộng, lúc bấy giờ còn loáng thoáng xa xa, ít dân cư, tiếp giáp một bên Đồng Ông Cộ, miệt Gò Vấp, Gia Định.
Chị nhớ lại, vào một buổi sáng ngày cuối tháng 1 năm 1973, khi Chị đi lấy bản tin ở bên Macv về cho AP, chị thấy sao hôm nay văn phòng đông thế. Ký giả của AP và cả của NBC News bên cạnh cũng chạy qua chạy lại, Chị nghe ông chánh văn phòng nói: Viêt Nam sắp ngưng bắn rồi, sắp hòa bình rồi…” Văn phòng Associated Press xôn xao, từ ông chánh văn phòng đến các ký giả, nhân viên của AP đều hứng khởi với cái tin “Nóng bỏng” này. Chị thấy các phóng viên của các hãng thông tấn, hãng truyền hình ngoại quốc chạy hối hả sang nhau và chạy qua cả đài phát thanh Quân Đội Việt Nam để cập nhật tin tức viết bài…
Chị đi bằng xe hàng. Là dân Đà Lạt gốc Huế nên chị gọi xe đò là “xe hàng”. Đi xe hàng, tức là xe đò, là xe chở người và cả hàng chứ không chở riêng hàng. Tiếng Việt hay như vậy đó! Đến Gò Công rồi đi xe lam vào Đồng Nguơn. Ấp Đồng Nguơn. Không phải đây là lần đầu tiên chị được thấy cảnh đồng quê. Đồng quê miền nam hầu như đâu đâu cũng giống nhau. Nhưng có đi nhiều mới thấy mỗi nơi có một chút khác. Phải thế không? Hay chính là cảm giác của chị mỗi lần một khác?
Tôi ước mơ có một ngày nào đó, khi thanh bình thật sự trở về trên nước VN, khi chính thể CS hoàn toàn tan rã, khi con người công chính trở lại làm nền tảng trong xã hội mới, chúng ta sẽ trở về, những ngưới bạn từ thời xa xưa, cùng nhau làm lại một bữa tiệc Tất Niên, mời vong linh các thầy, các bạn, các anh em đồng đội đã chết trong khói lửa chinh chiến, trong các biến cố tang thương của đất nước, trong các trại tù, trên biển…cùng nhập tiệc. Kẻ đang sống cùng người thiên cổ bên cạnh nhau hoài niệm đến một miền thùy dương ngọt ngào nhân tính, một ngôi trường thân yêu giàu truyền thống giáo dục và y đức, một thành phố mến yêu thơ mộng. Để nghe những người quá cố tâm sự về cái chết oan khiên của mình. Được như vậy, hương hồn các vị đó sẽ sớm được siêu thoát và vĩnh viễn an nghỉ chốn nghìn thu. Và chúng ta đây giảm khắc khoải đau thương…
Tôi đã có bốn cái Tết trong trại Panatnikhom và Sikiew, Thailand. Tết đầu tiên thật nhiều kỷ niệm và bất ngờ, vì lúc đó chúng tôi vừa nhập trại trong khi còn hơn một tuần nữa là Tết. Tôi và ba cô bạn đi chung chưa kịp gửi thư cho thân nhân ở nước ngoài để ca bài ca “xin tiền”. Ai lo bận bịu đón Tết thì lo, còn chúng tôi thì lo đi mượn tiền để mua vài vật dụng cần thiết như tấm trải nhựa, tre nứa, dây nilon để làm “nhà” (phải “an cư” mới “lập nghiệp” tỵ nạn được chớ).Khoảng một tuần trước Tết, có một nhóm mấy thanh niên đến thăm vì nghe nói chúng tôi là dân Gò Vấp, nên muốn nhận “đồng hương đồng khói”. Họ là những người trẻ như chúng tôi, nên câu chuyện mau chóng trở nên thân mật và rôm rả
Hỏi thăm ông Hai bán hoa lay-ơn gốc Bình Kiến, nhiều người ngơ ngác hỏi nhau. Tôi lại rảo qua thêm mấy vòng chợ hoa, cũng vừa đi tìm ông Hai, cũng vừa ngắm hoa và ngắm những chậu bonsai bày bán cuối năm, cũng tìm lại mình của gần 20 năm trước, năm nào cũng cứ vào những ngày này, tôi theo ba tôi hóng gió đón sương không hề chợp mắt cùng gian hàng cây kiểng rất bề thế của ba ở đây.
Có lẽ những rộn ràng, hân hoan nhất trong năm không phải là "ba ngày tết", mà là những ngày cận tết. Bắt đầu vào ngày 23 tháng chạp, tối đưa ông Táo về trời. Tất cả mọi sinh hoạt đều hướng về việc chuẩn bị để đón một mùa xuân mới, chào đón nguyên đán và mấy ngày xuân trước mặt. Lúc nhỏ là mùi vải thơm của bộ đồ mới, mùi gạo nếp ngâm cho nồi bánh và hương thơm ngào ngạt cho sàng phơi mứt dừa, mứt bí, mứt gừng ngoài sân. Những đêm ngủ gà ngủ gật ngồi canh bên nồi bánh tét cùng với má, với gia đình xúm quanh. Mùi bếp lửa, mùi khói hương, mùi áo mới lan tỏa của tuổi thơ ngan ngát những ngày xa...
Người ta được nuôi lớn không chỉ bằng thức ăn, mà còn ở lời ru, tiếng hát, và những câu chuyện kể. Chú bé cháu của bà thích được bà ôm vác, gối đầu lên vai bà. Có khi bà mở nhạc từ chiếc nôi cho chú nghe thay cho lời hát, chiếc nôi chú bé đã nằm khi mới lọt lòng mẹ. Có khi bà hát. Bà không ru à ơi, nhưng âm điệu dân gian len vào trong từng lời hát. Chú bé mãi rồi ghiền nghe giọng hát của bà.
Lóng rày tôi hay tẩn mẩn viết về những hồi tưởng tuổi thơ, nhất là những côn trùng ngày xa xưa đó như chuồn chuồn, bươm bướm, ve sầu, dế mèn…Nhiều lúc ngồi nghĩ lẩn thẩn: tại sao vậy? Chắc đó là tâm trạng của người tuổi sắp hết đếm số, tiếc nuối những khi còn cắp sách tới trường. Cắp sách tới trường không phải là chuyện vui nhưng tuổi học trò thì vui thật. Lúc nào, khi nào, chỗ nào cũng toàn thấy chuyện vui chơi. Bạn chơi là người nhưng nhiều lúc là những côn trùng quanh quẩn bên người. Một ông bạn mới gặp nhướng mắt hỏi tôi viết về những bạn chơi nhiều hơn hai chân nhưng chưa thấy nhắc tới bạn của ông ấy. Đó là bọ ngựa. Ông này thuộc loại rắn mắt. Tôi không chung tuổi thơ với ông nhưng chắc ông cũng thuộc loại phá làng phá xóm. Ông kể chuyện ăn me chua trước mấy ông lính thổi kèn trong hàng ngũ khiến mấy ông thợ kèn này chảy nước miếng thổi không được. Tôi thuộc loại hiền nên không có bạn không hiền như bọ ngựa. Ông ta thì khoái bọ ngựa.
“Mày có vợ hồi nào vậy?” chưa kịp chào, mẹ đã ném ra câu hỏi bất ngờ. Tôi lặng thinh. Cục nghẹn trong cổ họng. Tiếng mẹ đã khàn nhưng nghe vẫn quen, vẫn gần gũi, nhưng đặm chút ngạc nhiên và thấp thoáng chút phiền muộn. Hệt như lần hỏi tôi mười mấy năm trước rằng Sao con trốn học. Đường dây điện thoại chợt kêu ù ù, như thể có máy bay hay xe vận tải cơ giới hạng nặng chạy qua chỗ mẹ đứng. Cũng có thể tại tai tôi ù. Tôi cũng không chắc lắm. Giọng nói mẹ chìm vào khối tạp âm hỗn độn. Mẹ lặp lại câu hỏi trong tiếng động cơ rì rầm. Rồi tất cả im vắng bất ngờ. “Hở con?” Mẹ nói.
Bê, con trai của Mẹ, đã theo Mẹ đến giảng đường từ thuở còn trong bụng Mẹ. Suốt thời gian đại học của Mẹ, Bê có nhiều đóng góp khác nhau theo từng thời kỳ. Khi Mẹ làm bài kiểm tra môn Đầu Tư và Tài Chính trong lục cá nguyệt đầu tiên, Bê mới ba tháng tuổi. Mẹ nhẩm tính, bài thi một tiếng rưỡi, đi về từ nhà đến trường thêm một tiếng rưỡi. Như vậy, Bê phải xa Mẹ ít nhất ba tiếng đồng hồ. Mẹ biết tính Bê, mỗi hai tiếng đồng hồ Bê oe oe đòi bú sữa Mẹ. Bê xấu đói lắm, đòi mà không được, Bê nhăn nhó um sùm. Ngày hôm đó, dì Thành đến giữ Bê. Dì Thành rất hồi hộp. Dì chưa có em bé, chẳng biết phải làm sao cho đúng ý Bê. Mẹ thi xong, phóng ra xe về nhà. Mẹ bắt đầu sốt ruột. Mẹ xa Bê đã hơn ba tiếng đồng hồ. Giờ này Bê chắc Bê đã thức giấc. Hy vọng Bê chịu khó nhâm nhi món trà thảo dược cho trẻ sơ sinh trong khi chờ Mẹ về. Thời đó chưa có điện thoại di động. Bởi vậy, có lo cũng để bụng, chứ Mẹ chẳng biết làm sao. Mẹ ba chân bốn cẳng chạy ba tầng lầu. Vừa đến cửa đã nghe tiếng Bê khóc ngằn ngặt.
Khi chơi những bản nhạc hay, Khang khóc theo giai điệu. Mước mắt chảy, tay kéo tình xuống lên, thân hình diệu dẻo theo cảm hứng. gần như mê cuồng, không biết mình là ai. Tôi cảm nhận được cái hay xuất thần nhưng không hiểu. Khang nói: -- “Cậu Út biết không, cái hay của âm nhạc làm cho lòng sung sướng nhưng cái đẹp của âm nhạc làm cho hồn cảm động. Khi món quà quá lớn, quá sức yêu, không thể cười, chỉ có thể khóc.” Tôi nghĩ, những lúc như vậy, Khang không chơi đàn, mà múa với hồn oan.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.