Hôm nay,  

Bỏ Đi Tám

05/09/202011:04:00(Xem: 6027)


 Chợ Cây Me xưa nay có tiếng sầm uất và rộn ràng nhất xứ này, dân quanh chợ làm ăn khấm khá, mỗi hôm nhóm chợ thì phải nói là rất ồn ào nhưng mà vui. Người các tổng gần xa đem đến nông sản, gia cầm: gạo, bắp, rau, hoa, củ, quả, gà, vịt, heo… ê hề, đồ ăn thức uống la liệt: chè cháo, bún, bánh, cơm…mấy cô hàng xén, hàng vải nổi tiếng xí xọn và có lẽ cũng là những cô đẹp nhất chợ, lúc nào cũng mắt xanh, môi đỏ, má hồng. 

 Sáng hôm phiên chính, chợ vốn đã ồn ào ấy vậy mà giờ còn ầm ĩ dễ sợ. Người ta bu đen bu đỏ quanh sạp chè bà Ba Bê, chỉ trỏ bàn tán. Có người cười hả hê, có kẻ tỏ vẻ thông cảm nhưng chẳng ai ra tay can gián, một số bà thì tỏ vẻ thích thú và hưng phấn. Mấy nồi chè lật đổ tứ tung nhầy nhụa, ly và chén bị xô đổ bể trên sàn sạp. Cô Mận mặt mày đỏ gay, túm tóc bà Ba Bê cắt nham nhở, miệng tru tréo:

 - Đồ đĩ ngựa, mầy dám giựt chồng người khác! Tao oánh, tao làm nhục cho chừa cái thói mèo mỡ. 

 Xởn tóc xong, cô Mận tát tới tấp vào mặt bà Ba Bê. Bà Ba Bê co quắp như con tôm, run rẩy sợ sệt van xin:

 - Tui hổng có trai gái, hổng có giựt chồng ai hết! 

 Cô Mận nghiến răng:

 - Con đĩ già mồn, đã mèo mỡ còn chối hả? 

 Mỗi tiếng hả là một cái tát nảy đom đóm, cô Mận xé áo bà Ba Bê, bà co người ôm lấy ngực, hoàn toàn tê liệt như con khỉ khi đối diện cái nhìn dữ dội của con trăn gấm, nước mắt, nước mũi lẫn máu chảy trên mặt bà Ba Bê. Cô Mận thủ sẵn muối ớt, móc ra xát vào mặt bà Ba Bê, bà rú lên đau đớn thảm thiết. Đám đông bu quanh nhiều kẻ hả hê phụ hoạ:

 - Ai biểu trai gái chi cho người ta oánh! 

 Bà Hai hàng xén tỏ vẻ thương haị:

 - Chỉ là đồn đaị, có bằng chứng chi đâu mà oánh người ta dữ vậy! 

 Nghe ồn ào, bọn bảo vệ gác chợ chạy lại nhưng cũng giả lả chứ chẳng giúp gì bà Ba Bê. Cô Mận dường như cũng mệt và hả cơn giận nên ngừng tay quay trở laị sạp của mình ngồi nghỉ nhưng miệng vẫn không ngớt xỉ vả:

 - Con đĩ già, đồ gái già mà nứng…Bày đặt trai gái. Tao oánh cho chừa cái tật già dâm, già mất nết, già mà ngựa. 

 Sạp hàng cô Mận vừa là nhà, ngay mặt tiền chợ nên thuận tiện mua bán làm ăn. Chồng cô Mận đi bộ đội, sau khi về xin vào làm ở ngân hàng huyện, vốn chẳng trình độ gì, chỉ đi học thêm bổ túc, chuyên tu… âý vậy mà giờ lên làm giám đốc luôn. Cô Mận vốn sắc sảo, giờ cậy thế chồng càng hồ đồ và dữ hơn. Bà con chợ búa xì xầm:

 - Con Mận dựa hơi chồng, làm tàng, ăn hiếp người ta! 

 Sạp chè bà Ba Bê nằm án trước sạp cô Mận nên cô Mận không ưa, đã thế chè bà Ba Bê ngon có tiếng, nào là chè hoa cau, chè bà ba, chè thưng, chè ba màu, chè đậu ván… hạt đậu mềm, bùi mà nguyên vẹn không bể nát, nước đường ngọt thanh… bởi thế khách ăn đông nghịt, mỗi phiên chợ bà Ba Bê bán cả chục nồi chè to chà bá. Cô Mận thấy thế sanh lòng đố kỵ, vẫn thường chửi bóng gió nhưng bà Ba Bê laị vô ý không hiểu và cũng không ngờ bụng dạ người ta độc đến vậy. Bà vốn người ấp Thạnh Hưng, cách chợ hai mươi cây số, mỗi phiên chợ bà phải dậy từ bốn giờ sáng để đem chè đến chợ. Bà Ba Bê trắng da dài tóc, mặt luôn ửng hồng, con mắt lúng liếng, bà thích mặc cái quần lãnh Mỹ A với cái áo bà ba hoa cà, mà phải công nhận bà mặc bộ đồ ấy trông mướt mát lắm, bà goá chồng đã lâu nhưng chẳng thấy tái giá. Trong số khách thường ăn chè của bà, ngoài mấy anh xe ôm, mấy ông buôn heo mối bỏ sỉ còn có ông Tám Mắm. Ông Tám Mắm là cha chồng cô Mận, nhà có vựa mắm lớn nhất chợ Cây Me, cả mấy anh em ông đều làm chủ vựa, chủ chành mắm cả, vì thế nên khá giàu và cái chữ mắm trở thành tên gọi luôn. Ông Tám Mắm đã bảy mươi nhưng thân thể cường tráng, hàm răng trắng nhởn laị bịt hai cái răng vàng cho sang, giọng nói sang sảng. Ông Tám Mắm nổi tiếng có máu dê, ngoài vựa mắm ông còn có mấy chục sào ruộng cặp con lộ 69. Mỗi khi ông ra ruộng, ông cởi quần để trên bờ, áo buộc ngang bụng cứ thế mà nhổ cỏ, be bờ, dặm lúa… Ông tuy giàu có nhưng chịu khó làm và làm sung sức lắm. Mỗi khi ông xuống ruộng, mấy bà đi chợ ngang qua con lộ là bỏ chạy hoặc nghiêng nón lá che mặt mà đi. Nhiều người chửi thầm:

 - Cha già dê mắc dịch! Cha già mất nết! 

 Thằng Tí, con bà Bảy bánh canh quả quyết:

 - Cu ông Tám Mắm thòng lòng như cặt ngựa.

 Thằng Ròm, thằng Mập cười ngặt nghẽo:

 - Tụi tao thấy dái ổng như dái heo nọc.

 Con Hồng, con Thắm, con Loan… đỏ mặt la oai oái:

 - Đồ vzô duyên! 

 Hổng biết nó nói tuị thằng Tí, thằng Ròm hay là nó nói ông Tám Mắm, cả đám cười toe toét chạy ra hàng bà Ba Bê ăn chè. 

 Ông Tám Mắm thích bà Ba Bê ra mặt, ngày nào cũng ăn chè, ngồi nhìn chằm chặp, có khi bắt ghế ngồi ở sạp cô Mận mà mắt ở bên sạp chè. Mấy bà tám của chợ Cây Me đồn đại:” Ông Tám Mắm cặp bà Ba Bê”.  Ông Tám Mắm thích bà Ba Bê thì ai cũng biết nhưng bà Ba Bê có tình ý với ổng hay không thì chẳng ai dám khẳng định và cũng chẳng có bằng chứng, thế nhưng miệng người đời thích thêm mắm dặm muối, từ đó chuyện lan dần khắp nơi. Cô Mận vốn ghen ghét bà Ba Bê, nay nhân cớ này ra tay oánh ghen giúp mẹ chồng cho bỏ ghét. Nhiều người vốn không ưa cô Mận hống hách nhưng sợ thế lực của nhà cô nên chỉ biết nói thầm thôi. Bà Bốn Lành nói với giọng tức tối như khóc:

 - Tội nghiệp bà Ba Bê, con Mận ghen ăn tức ở, nó cậy thế làm dữ đánh người. Nào ai có bằng chứng chi đâu. Bà Ba Bê ở xa hơn hai mươi cây số, mỗi phiên chợ bán xong là về, thời gian đâu mà trai gái, chợ búa thiên thanh bạch nhựt vậy chỗ đâu mà tòm tem? 

 Nhiều người nữa cũng tỏ vẻ bất bình nhưng không ai dám nói gì, chỉ nói thầm với nhau thôi. Họ sợ khi không laị liên lụy tới mình, nhỏ thì cô Mận thù ghét, lớn thì phải làm chứng mất công, mất thời giờ…Bà Ba Bê bị đánh oan ức, nhục nhã, sạp chè bị đập phá… vừa đau thân vừa mất của mà chẳng làm gì được. Bà Ba Bê hiền lành, laị thân cô thế cô nên đành nuốt hận, ôm nhục cắn răng mà chịu. Chị Hai Lãm hàng xén bảo:

 - Bà Ba Bê phải làm đơn thưa con Mận ra toà! Đòi nó bồi thường thiệt haị

 Có người cũng nói vậy nhưng cũng có người tỏ vẻ nghi ngờ. Bà Chín sạp gạo nói:

 - Thưa chi cho uổng công, nhằm nhò gì! Nhà ông Tám Mắm giàu có, chồng cô Mận làm cán bộ, ăn nhậu với bọn tai to mặt lớn trên huyện, đơn thưa nó quẳng sọt rác, hổng ai xử đâu, có xử cũng huề thôi. Mấy bà quên sao? Năm rồi bà Năm sạp mắm lóc kiện cáo nhưng có ăn thua gì đâu. Bả bán lẻ, lấy hàng từ vựa ông Tám, vậy mà thuế nặng hơn ông Tám. Ông Tám chi cho tụi làm thuế, quản lý hết rồi!  Tốt hơn hết là bà Ba Bê nên nhịn đi, coi như cái xui xẻo của mình, cái năm xui cái tháng hạn của mình. 

 Ông Mười Keo, chủ sạp ngũ cốc cười cười:

 - Đồng tiền đi trước đồng tiền khôn, việc gì cũng phải chi, hổng chi là hổng làm được chi hết ráo! Đồng tiền nó mạnh lắm, bởi vzậy nên người ta mới nói:” Mạnh vì gạo bạo vì tiền”. Bà Ba Bê có đi kiện cũng hổng ai xử đâu, thiệt tình mà nói thì bà Ba Bê chẳng có mèo mỡ gì với ông Tám Mắm cả, tội bà Ba Bê là bán đắt khách, laị đẹp và có sức hút hơn cô Mận, sạp bà laị nằm phía trước sạp cô Mận. Bà Ba Bê vô tình trở thành cái gai trong mắt cô Mận. Cô Mận cũng biết bà Ba Bê hiền và thân côi thế cút nên mới làm tàng, giở thói hồ đồ hung hăng hiếp đáp. Ông Tám Mắm lẹo tẹo với bà Dư ở mé phải chợ, hai người có con rơi mấy năm nay, ông Tám bỏ tiền ra mua sạp cho bà Dư làm ăn mà cô Mận có dám hó hé tiếng nào. Cô Mận biết đụng đến bà Dư không dễ, không chừng còn bị bả quật laị thì chưa biết sẽ rao sao. Bởi thế người đời nói đâu có sai:” mền nắn rắn buông”. 

 Ông Mười Keo dứt lời, hình như được thể, mấy bà nhào vô kể khổ, kể tội nhà cô Mận, nỗi uất ức chẳng biết nói làm sao giờ được dịp xổ ra hết. Bà Ba Bụng chửi:

 - Mồ tổ nhà nó, nhà nước lập quỹ giảm nghèo cho dân vay, vậy mà có ai vay được đâu. Tui đi tới đi lui mấy bận, khi thì đòi giấy này, khi thì bảo chứng giấy kia…Có người bỏ nhỏ với tui:” tới thằng Bảy mập xã hội đen mà vay, qũy giảm nghèo nó thầu hết rồi, tụi ngân hàng cho xã hội đen vay cả gói, dân vay qua xã hội đen… lời lãi tụi nó chia nhau.”lãi vay ngân hàng một thì lãi vay từ xã hội đen gấp hai mươi lần, bởi vậy làm giám đốc ngân hàng có mấy năm mà mua nhà lầu xe hơi, của chìm của nổi ai mà biết hết được! 

 bây giờ mọi người nhao nhao:

 - Ông Tám Mắm đập căn nhà ở chợ Cây Me, xây laị to lắm, nhà năm tấm luôn, lấn gần hết con rạch bên hông chợ, người mất lối đi, nước mưa mất chỗ thoát. Dân quanh chợ la ì xèo, xã tới, huyện xuống đo đạc, ngắm nghía… xong rồi ra về im ru, phong bì đã nhét vào túi thì còn nói năng gì được, thế là vụ lấn rạch chợ Cây Me chìm xuồng luôn.

 Thời gian qua mau quá, dân cư chợ giờ đông đúc lắm, thế hệ con cháu lớn lên lấy vợ lấy chồng, sinh con đẻ cái ngày càng nhiều, chợ trở nên nhỏ bé, thế là người ta đập chợ cũ để xây laị nhà lồng to lớn hơn. Con cô Mận cũng xí được mấy lô đất quanh chợ, người ta tính mỗi lô cả hai tỉ bạc chứ ít đâu. Tiếng khen cũng nhiều:” thằng nhỏ biết làm ăn” nhưng tiếng chê cũng không ít:” Nhờ có thế thần”. Sự đời cũng khó có ai biết trước phước họa như thế nào. Đang phất lên như thế, con cô Mận cảm thấy bụng đau râm ran, đi bác sĩ thì họ phát giác ra thằng nhỏ bị xơ gan giai đoạn cuối, sáu tháng sau thì nó chết. Dân chợ laị xì xầm:

 - Ăn ở ác, lấn đất lấp rạch giờ thằng con bị quả báo! 

 Chú Hai chồng cô Ngọc hàng chạp phô can gián:

 - Ai làm nấy chịu, con trai cô Mận hiền lành, chẳng can dự vào việc hiếp người, lấn đất, lấp rạch. Số mệnh cậu ta chỉ đến đấy thì phải chịu thế thôi! 

 Chẳng bao lâu thì thằng con út cô Mận cũng chết nốt, mới hai mấy tuổi đời, nó đi tắm sông và uống rượu với tụi bạn du thủ rồi trúng gió chết dưới chân cầu Cây Me. Cô Mận khóc khô nước mắt, đau khổ tưởng chừng như chết đi sống dậy. Những người ghét cô Mận và nhà ông Tám Mắm lấy làm hả hê:

 - Quả báo nhãn tiền, ăn ở ác, hiếp đáp người cô thế, lấn đất, lấp rạch… giờ con cái chết yểu! 

 Chú Hai laị phân trần:

 - Tội ai nấy gánh, phước ai nấy hưởng, mệnh ai nấy chịu. Con cô Mận bạc phước, yểu mệnh nên chết sớm, đừng đổ thừa do cổ hay ai khác. Bà con cũng đừng nặng lời với sự đau khổ của cô Mận, kẻo tội người mà họa miệng cho mình. Chuyện cô Mận làm thì cô Mận sẽ gánh hậu quả thôi! 

 Con rạch bên hông chợ Cây Me ngày nào giờ lấp hẳn làm con hẻm luôn, mái bằng năm tấm nhà ông Tám Mắm xìa ra quá nửa con hẻm, che khuất cả bóng mặt trời nên tối om ủm thủm. Người đi chợ qua laị bực bội,  xe máy chỉ lọt được từng chiếc. Mỗi ngày người sống dọc trong hẻm qua laị vẫn rủa hoài:

 - Con bà nó, giàu có mà còn tham lam lấn đất bóp nghẹt con hẻm! 

 Cô Tám Ù, nhà cuối hẻm, vốn có họ hàng với ông Tám Mắm vẫn hằn học:

 - Hổng biết lấn hẻm vậy thì nhà rộng hơn được bao nhiêu? Tính ăn đời ở kiếp trong cái nhà ấy luôn hay sao? Ngày nào tui còn qua laị con hẻm là tui còn nguyền rủa cái bọn tham lam, ăn ở ác nhân thất đức! 

 Chồng cô Tám Ù bảo:

 - Thôi đi bà ơi! hổng ai lên tiếng cả, chỉ một mình bà nói thì được gì? Bà chửi thì bà nghe chứ con Mận nó nằm trong nhà, cửa kiếng máy lạnh kín mít, nó có nghe đâu.

 Cô Tám Ù cãi:

 - Ông hổng biết hả? người ta nói:” Miệng người đời độc lắm,  bị người ta chửi thì không sớm thì muộn cũng mắc hoạ cho mà coi” 

 Chồng cô Tám cười:

 - Bà chửi, vậy thì miệng bà cũng độc rồi! thôi, bỏ đi Tám! 


HIỀN NGUYỄN 

Ất Lăng thành, 072020

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Là trả lời cho bốn mươi năm, cứ vào thu, hắn chưa bao giờ quên gởi đi một lời chúc sinh nhật, để sau đó thẫn thờ dặn lòng đừng làm thế nữa vì không có ích gì cho cả hai. Hãy để ngày ấy lụi tàn sẽ nhẹ nhàng hơn cho cả hai trong cuộc sống không có đường quay lại mỗi lần nhìn thấy lá vàng rơi là thêm một mùa thu xa cách.
Trong số các bạn, có những người đã ra đi không bao giờ trở lại, em tôi là một trong những người đó. Người dân Miền Nam vẫn luôn giữ hình ảnh hào hùng của các bạn trong trái tim với lòng biết ơn bao la. Thầy Năng Tĩnh ở một mình trong ngôi Chùa nhỏ vùng ngoại ô, rất xa thành phố. Ngôi Chùa chỉ là chiếc “mobile home” trên vài mẫu đất, trước kia là một nông trại bé tí teo, có hàng rào kẽm gai chung quanh để trại chủ nuôi bò. Từ ngày lập Chùa, Thầy chỉ nuôi một con chó nhỏ để làm bạn và mấy con gà trống, thả chạy tự do đặng nghe tiếng gáy cho vui. Sát hàng rào Thầy trồng mấy dây mùng tơi, khổ qua, giàn bầu và mướp trái xum xuê, bên cạnh đó là mấy luống cải xanh, rau thơm, cà pháo. Sân trước, Thầy đào chiếc hồ xinh xinh, có hòn non bộ, đầy đủ cảnh “Sơn Thủy Tùng Đình” với “Ngư Tiều Canh Mục”, trông cũng vui mắt
Tôi có cảm giác mọi người trong xưởng rất thương mến anh em ông chủ hơn sợ chủ đuổi việc, và anh em ông chủ cũng thương mến mọi người như anh em chứ không chủ thợ rạch ròi. Việc đến phải đến, ông chủ mướn người vô chạy máy sỏi đá mà tiếng Anh gọi là “deburr machine” thay cho ông Mỹ đen đã qua đời. Ông này dị tướng nên anh em chờ xem tài của ông vì ông bà mình nói những người dị tướng thường có tài. Nhưng một tuần trôi qua, chỉ có tuần tới tiếp tục chứ không có gì lạ về ông trọ trẹ. Ai cũng biết ông người miền trung nhưng ai hỏi ông là người tỉnh nào ngoài trung thì ông gắt gỏng chứ không trả lời. Ông lên lớp giảng giải cho người miền bắc, người trong nam hiểu ra chính sách chia để trị của thực dân Pháp chứ đất nước Việt nam liền một dải, người dân từ bắc vô nam nói chung một ngôn ngữ là tiếng Việt từ đời cha ông để lại giang sơn gấm vóc nước Việt cho con cháu. Sao người Việt lại nô lệ tự nguyện cho Pháp, đi phân biệt bắc trung nam để chia rẽ chính dân tộc mình…
Ba chục năm trước, Bê đã bắt đầu sự nghiệp thể thao của Bê. Số là, Ba vừa học xong lớp chuyển nghiệp. Thời gian chuẩn bị thi cử, Ba dạy kèm cho một người bạn cùng lớp. Thi đậu, người bạn tạ ơn Ba một cặp vé Musik Konzert. Lúc đó, Bê ở trong bụng Mẹ đã hơn sáu tháng. Mẹ kể, Mẹ đang năm đầu ở đại học. Trời mùa đông, Mẹ đi học, mặc áo khoác dày cui. Bởi vậy, bạn học không ai biết Mẹ sắp sửa có em bé, chỉ ngỡ Mẹ hơi lên cân, zugenommen. Bác bạn của Ba có lẽ không dè vợ của bạn là bà bầu nên mới mời đi Rock Pop Konzert của ca sĩ Jennifer Rush.
Năm đó, 1999, miền Trung Việt Nam nhất là ở Huế đang chịu trận thiên tai bão lụt lịch sử lớn nhât từ trước cho đến thời điểm bấy giò. Trong hội chợ tết, người Việt ở đây San Jose vui Xuân nhưng không quên đồng bào ở quê nhà. Từng đoàn Hướng Đạo Sinh Việt Nam được phân phối nhiệm vụ cầm những thùng lạc quyên để quyên tiền cứu trợ. Đang lang thang trong hội chợ, hai em bé trong đồng phục Hướng Đạo chận tôi lại. Một trai một gái. Bé gái cao hơn bé trai non nữa cái đầu, chửng chạc nói “Chú ơi, ủng hộ đồng bào bảo lụt đi chú”. Trọn một câu tiếng Việt, tuy phát âm không trọn vẹn, nhưng khá rõ ràng. Tôi nhìn hai em, nhất là bé gái đang thắt cái nơ trên đầu cái nơ mầu đỏ! Tôi bỗng thấy lòng bâng khuâng man mác.
Qua sự giới thiệu của phụ huynh học sinh, chiều nay tôi có thêm học trò mới. Tuy tin tưởng vào người giới thiệu, nhưng tôi cũng có sự dè dặt thường lệ. Đây không phải là lớp dạy thêm bình thường, mà là lớp dạy kèm “Anh văn chui” tại nhà. Nếu bị bắt “tại trận”, tôi có thể bị đuổi việc (nhẹ) hoặc cả vào trại tù "miệt thứ" dài hạn như chơi. Tuy rất nguy hiểm, nhưng được sự “bảo mật” của học trò lẫn phụ huynh và nhất là khoản tiền thù lao rất hậu. Lương giáo viên cấp 3 lúc đó (1978-1979) mỗi tháng $70 đồng cộng nhu yếu phẩm, thì mỗi học sinh "dạy thêm" tôi nhận được $80/ tháng. Chỉ cần ba học trò là mỗi tháng tôi có thêm đến $240 đồng. Đối với giáo viên lúc đó không phải nhỏ! Cà phê cà pháo, cơm hàng cháo chợ cuối tháng vẫn dư tiền bỏ ống. Phần nữa, học trò lớp “Anh văn chui” của tôi thông thường chỉ vài ba tháng là “ra đi”, nên cũng thường xuyên thay đổi.
Vừa đi vừa ngắm lá vàng vừa suy nghĩ chuyện cũ mà đến nhà Sarah hồi nào hổng hay. Sarah mở cửa với nụ cười thật tươi, Lệ thấy ngay phòng khách những giỏ táo đầy ắp, Sarah giải thích: - Hễ cuối hè đầu thu là nhà tớ hái toàn bộ các trái táo ngoài vườn sau, một phần để sên mứt, phần sấy khô, và phần làm bánh táo nướng.
Nhà thơ Trần Mộng Tú gửi tới tôi bài “Mùa Hạ Đom Đóm và Dế Mèng” khi tôi muốn cùng các ông bạn đồng lứa tuổi trở về những ngày xưa thật xưa. Chị Tú hình như cũng cùng tâm trạng với các bạn không còn trẻ của tôi: “Tháng sáu, tôi đến chơi với anh tôi ở Virginia. Cái nóng rịn mồ hôi trên thái dương, và khó ngủ lắm, buổi tối, tôi với anh ra ngồi ở bực thềm, nói chuyện. Tôi bỗng thấy thỉnh thoảng có những chớp nho nhỏ như lân tinh sáng lóe lên rồi lại biến mất trong bụi cây thấp trước mặt, hỏi anh tôi, cái gì thế? “Đom Đóm” Tôi lặng người đi một lúc như nghe thấy ai nhắc tên một người bạn thân cũ, nó làm tôi xúc động. Xúc động một cách rất mơ hồ, chẳng có nguyên nhân gì cả, chỉ là cái tên của một loại côn trùng bé tí được gọi lên. Cái tên nhắc nhở một quê hương xa lắc, một dĩ vãng nằm dưới tấm chăn phủ dầy lớp bụi thời gian. Trong bóng tối, tôi ngắm những cái chấm lửa nhỏ nhoi, lóe lên rồi tắt ngóm với trái tim nôn nao trong ngực. Có đến cả hơn bốn mươi năm tôi không được nhìn thấy những đố
Tọa lạc trong vùng ngoại ô Saint Maur, kề bên là bờ sông Marne hàng hiên ngang cửa nhà chú, chú đổ đầy đất đen đất vụn phải đi mua từng bao ở siêu thị bán cây trồng đất mua chú đổ vào lưng một cái bac ciment rộng lớn chạy ngang hàng hiên nhà. Trong bac chú trồng đầy hoa vàng, hoa nở thì lớn bằng đồng 50 xu, có năm cánh y hệt mai vàng ở Việt Nam, lá xanh non to bằng bàn tay con nít 5, 3 tuổi. Lá cũng rất thưa, hoa rất đẹp, vàng trong như mai ngày tết. Khi nắng gắt, mầu vàng có đậm thêm tí chút, sáng hé nở, trưa ấm nở rộ. Chiều chiều hoa cúp lại ngủ, ngày mai sáng sớm lại mãn khai, thân cây hoa chỉ cao lắm là đến đầu em bé 5, 6 tuổi. Nên hoa và cây không che vướng tầm nhìn từ trong nhà ra ngoài trời. Chú Phương yêu quý những cây hoa đó lắm. Vun tưới thường xuyên. Hỏi tên hoa đó là hoa gì? Chú trả lời ngon ơ: Đó là hoa vông vang của Đỗ Tốn, Chúng tôi không nhớ và cũng không biết ông Đỗ Tốn là ai
Trong sự bồi hồi xúc động, tay bắt mặt mừng, họ được gặp lại để trò chuyện với những người họ hàng thân yêu, những bạn bè xa gần thân thiết, nhìn thấy tận mắt những làng xưa chốn cũ, nhớ lại những kỷ niệm êm đẹp từ thuở thơ ấu cho đến ngày tạm thời phải rời bỏ những nơi này ra đi, ôi biết bao nhiêu nỗi xúc động trộn lẫn niềm sung sướng vô biên, nói làm sao cho hết được.
Những yếu tố lôi cuốn du khách đi du lịch đến một đất nước bao gồm cảnh đẹp thiên nhiên, văn hóa, thành phố lớn với những lối kiến trúc độc đáo, cuộc sống sôi động, ẩm thực, hoạt động phiêu lưu, kỳ thú ngoài trời, những buổi hòa nhạc, thể thao, nghệ thuật, hay lễ hội, địa điểm hành hương tôn giáo, phương tiện giao thông, vấn đề an ninh và bình yên; trong văn hóa, yếu tố con người chiếm một phần rất lớn khiến du khách khi rời xa, vẫn lưu luyến muốn trở lại lần nữa.
Nếu quý vị độc giả nào đã đọc câu chuyện tình cảm éo le, oan trái tràn đầy nước mắt: "Thằng Cu Tí và Thằng Cu Tèo" và nếu quy vị nào chưa đọc, thì xin hãy mở Google.com sẽ thấy đế tài này thuật lại 2 vị cao niên về thăm VN để hưởng tuần lễ trăng thanh gió mát quê nhà, sau nhiều năm phải rời bỏ quê hương để sống tha hương ngàn trùng xa cách nơi đất khách quê người đi tìm sự tự do. Nay mới có dịp được quay trở về thăm quê cha đất tổ, đồng thời còn được thưởng thức những món ăn đặc sản quê hương


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.