Hôm nay,  

Kẻ Hành Nhân

06/12/202018:44:00(Xem: 5652)

Xuống  xe tắc-xi đi thêm mấy bước, rời con đường nhựa, ông quẹo trái. Con đường vào khu  nhà Thuỷ Tạ hơi nghiêng, lát đá hơi gồ ghề, ông cẩn thận đi chầm chậm từng bước một. Chân yếu, đi đến những nơi lạ, ông thường mang theo cây gậy. Lần này ông quên.

Buổi sáng đầu mùa Đông lạnh. Nhà hàng vắng. Chỉ có một nhóm thanh niên nam nữ đang  quây quần quanh một chiếc bàn tròn cuối một dãy bàn ghế ở ngoài trời bên trên có mái che nhưng không có vách tường. Những phòng bên trong ấm cúng, có máy sưởi, thì lại không có một người khách nào. Dù trời lạnh, ông cũng chọn một chiếc bàn ở ngoài trời nhưng cách xa  đám thanh niên đó. Ông muốn có tầm nhìn khoáng đãng. Ông muốn tìm lại vài hình ảnh cũ. Của cái Nhà Thủy Tạ này. Của cái khung cảnh chung quanh này. Vào cái thời kỳ còn trẻ trung, lãng mạn  trong cuộc sống ngày càng phiền toái của ông.

Trước mặt ông, một cái bàn vuông, nhỏ, chỉ có hai ghế mây đặt bên nhau, có nệm lót cho chỗ ngồi và lưng. Trên mặt bàn, tờ thực đơn nằm cạnh một lọ hoa hồng mới cắt còn lấm tấm mấy giọt nước nhỏ như những hạt sương mai. Ông kéo ghế ngồi xuống chưa biết gọi món gì, thì tiếng cười nói quá ồn ào từ đám thanh niên vang tới. Ông quay nhìn. Quanh chiếc bàn tròn, một nhóm thanh niên nam nữ, nam thì nhuộm tóc vàng, xanh, tím, nữ thì quần rách gối và mông, đang nâng cao những chiếc ly nhỏ. Ủa, uống rượu mạnh buổi sáng sớm?    

Ông đang muốn yên tĩnh. Thì phải rời đây ngay, ông thầm bảo. Ông chưa phát ra một cử chỉ nào, thế mà, chẳng  hiểu sao, cô bán hàng nãy giờ mải chăm chú nhìn đám thanh niên đằng kia bỗng quay người lại bước vội tới ông. Khuôn mặt thanh tú, phấn son không loè loẹt, nhanh nhẹn, gọn gàng, tuổi chừng dưới 20. Cô nghiêng mình, nghiêng thật thấp như ca sĩ trên sân khấu khi hát xong bài hát, rồi nở một nụ cười thật tươi, đôi mắt chớp chớp long lanh. Có một chút dư thừa trong từng điệu bộ. Cô nói tíu tít một tràng:

“Kính chào bác ạ. Bác khỏe chứ. Bác có lạnh không nào? Ối già, hôm nay sao trời lạnh thế. Hay ta vào trong kia đi bác.”

Ông lắc đầu từ chối.

“Vâng, thì thôi vậy. Bẩm bác xơi gì? Nhưng trước tiên phải là cà phê nhé, bác nhé.”

Cô bé giọng Bắc hơi the thé, rất lễ phép. Có tin đồn rằng chủ quán, và cả người  phục vụ, vào thời buổi này coi khách hàng như cỏ rác, “vừa bán vừa la vừa chửi”. Vậy đây là trường hợp ngoại lệ? Hay lời đồn sai?

Ông chưa kịp trả lời thì cô bé đã quay ngoắt người  đi nhanh về phía đám thanh niên đằng kia đang khua ly gọi cô.

Ông sửa lại thế ngồi và nhìn ra hồ. Một con chim nhỏ, quá nhỏ, không biết từ đâu bay sà tới đậu lên lan can cách ông không quá một mét. Nó tròn mắt nhìn ông trong một tích tắc, hoảng hốt, giật mình bay phóng ra ngoài. Ông nghe tiếng vù, và nhìn theo. Nó bay mãi, nhỏ dần, mất dạng. Không biết nó có thể bay vượt qua khỏi mặt hồ này không, ông ngẫm nghĩ. Hay sẽ mỏi cánh, nó nhỏ quá mà, rơi giữa đường. Ông cầm lấy thực đơn ngắm nghía. Cái thực đơn trông cầu kỳ, chữ viết kiểu cọ, rồng bay phượng múa. Nhiều chữ, nhiều con số kỳ quặc ông không đoán nổi nó muốn nói gì.

“Cà phê ở đây ngon lắm bác ạ.” Cô bé đã trở lại. “Ngon nhất. Trên cả tuyệt vời. Trong khi bác chọn món ăn, cháu đi lấy cà phê bác dùng trước cho ấm bụng nhé, bác nhé.”

Sau câu nói là một nụ cười thật tình tứ, khá sỗ sàng, chẳng khác gì nụ cười của hai người yêu xa nhau vừa gặp lại nhau, muốn xoắn xít, vồ vập nhau như chỗ không người. Nụ cười chưa tắt, cô đã quay người, quay hơi nhanh khiến mái tóc nhuộm vàng chen nâu quay theo để lộ chiếc cổ trắng. Và cô đi nhanh về phía quầy hàng.

Ông chau mày.  A, cái cô bé này! Tiếp một người đã “quá đát” nên cô không cần phải e dè chăng? Đùa chút chơi thôi, phải không? Hay muốn thử xem nụ cười đó, cử chỉ đó có tác dụng như thế nào đối với một người lớn tuổi, hay cau có như mình? Nghĩ vậy nhưng ông không cảm thấy bị xúc phạm lắm. Không những thế, ông còn muốn đồng loã. Như một buổi sáng mùa đông lạnh miền núi chợt từ sau đám mây xám nặng nề loé lên những tia nắng yếu ớt kết thành hình rẽ quạt ngắt đoạn, thưa thớt. Chắc không mang lại là bao ấm áp, nhưng cũng dễ chấp nhận.   

Ông đảo mắt nhìn quanh. Trước mặt, sóng hồ gờn gợn dưới lớp giá mỏng như đang bốc làn hơi trắng. Có tiếng nước róc rách dưới chân những cây cột đúc xi - măng.  Nhìn ra xa, không thấy bóng dáng những chiếc pédalo nào như thường thấy vào những mùa khác trong năm. Xa hơn, lác đác những cổ xe ngựa chở du khách dạo trên con đường bên kia hồ. Xa hơn nữa, vườn Bích Câu nằm thoai thoải từ lưng chừng một ngọn đồi thấp rồi tràn xuống mép nước. Ông tự hỏi khu vườn hoa nổi tiếng đó có còn giữ lại tên cũ hay không. Đường bên này hồ xe cộ giao thông nhiều hẳn không tiện cho việc du ngoạn bằng xe ngựa. Quay nhìn phía phải thấy ngay cái tháp trường Yersin ẩn hiện sau những cây thông già, nay nó mang tên gì? Ông có cảm tưởng rằng những cây thông già đó vẫn là những cây thông ngày xưa khi ông còn bé tí nay vẫn trơ gan đứng đó cùng với ngôi trường mang tên một bác sĩ người Pháp đã góp công tìm tòi và xây dựng Đà Lạt, và đã yêu mến Việt Nam như quê hương thứ hai.

Ông cố nhìn xa hơn, tầm nhìn bị chận lại. Nhưng ông hình dung ra ngay. Đây là đường đi ngang qua Nhà Ga Đà Lạt, kia là Hồ Than Thở thông reo vi vu, tiếp đến là khu Saint Benoit sau đổi tên là vùng Chi Lăng nơi đó có Trường Võ Bị của Việt Nam Cộng Hoà trước kia ... Ông xoay hẳn người lại. Chênh chếch lưng chừng đồi là khách sạn Palace danh tiếng nay có tên Dalat Palace – Heritage Hotel.

Cảnh vật quanh đây dường như không thay đổi là bao. Ông có cảm tưởng như  gặp lại người bạn cũ thân thương lâu đời  sau thời gian dài xa cách. Những nơi khác ông để tâm quan sát mấy hôm nay thì có thay đổi. Phố phường san sát; nhà cửa mọc lên nhiều và khá bề bộn; xe cộ chạy trên đường khá tấp nập; vườn trồng rau lộ thiên, hay có nhà kính, hay có mái che bạc trắng, tràn ngập gần khắp các thung lũng. Ông cho rằng đấy chỉ là những chiếc áo khoác bên ngoài nhiều chỗ sặc sỡ, thô lỗ, nhưng bên trong, bên dưới, Đà Lạt vẫn dịu dàng, êm đềm, thơ mộng. Ông chỉ tiếc những hàng thông xanh, loại thông ba lá mượt mà, những cây thông  cổ thụ trăm năm ngọn vươn lên cao cách mặt đất vài mươi mét đứng ven các đường phố chính, nay hầu như vắng bóng.    

“Đây, cà phê của bác đây.” Cô gái đã đứng ngay sau lưng ông mà ông không biết. “Bác dùng với mật nhé? Cháu đã pha sẵn mật trong cà phê.”

Ông thảng thốt buột miệng:

“Mật? Sao lại mật?”

“Mật chứ sao lại không mật. Mật ong thật đấy. Lấy từ cánh rừng nằm phía bên trên nguồn của thác ĐaTân La đấy bác ạ. Quý lắm. Bác là khách sang mà. Bác có tham quan thác Đa Tân La chưa?”

Ông không trả lời câu hỏi, chỉ nói vắn tắt:

“Tôi không uống cà phê với mật.”

Cô gái hơi nhíu mày:

“Ô, có ít mật trong đó thôi. Bác pha thêm đường vào cũng được.”

Ông đáp hờ hững:

“Đường cũng không.”

Cô quắt mắt:

“Ô hay. Khó khăn quá nhỉ.” Chỉ tay vào chai nước tương trên bàn. “Đấy, đấy, có chai ma-dzi đấy. Bác hãy uống cà phê ma-dzi nhé.” Cô hất mái tóc qua một bên vai, lạnh lùng tiếp. “Nhưng tôi phải qua ngay bàn đằng kia, bác cứ ngồi đấy tha hồ kén chọn.”

Nói xong cô quay ngoắt người đi nhanh về phía bàn của nhóm thanh niên dù không có tiếng thìa gõ vào ly.

Ông ngẩn người. Mình xưa nay vẫn uống cà phê không đường, chứ có định gây khó khăn đâu. Nhưng thôi, hơi đâu mà đôi co. Ông lấy làm lạ rằng tính mình vẫn cáu kỉnh, nhưng sao bây giờ ông không cảm thấy khó chịu cho lắm. Cái cảm giác bực bội chỉ thoáng qua, và được thay thế bằng nụ cười âm thầm. Vâng, chút nắng yếu ớt ban đầu đã tắt, cái đẹp mong manh ban đầu không còn, ông không muốn đang tay vùi giập thêm. Cứ để niềm vui nhỏ trong buổi sáng hôm nay có một chỗ đứng trong tâm hồn. Nhưng mặt khác, ông cũng biết rằng ông không thể ngồi nán lại nơi này thêm một giây phút nào nữa.

Nhìn giá tiền trên thực đơn: Cà phê 120 nghìn. Ông rút ví. Không có tiền lẻ, ông lấy 150 nghìn đặt dưới bình hoa, rồi đứng dậy rời khỏi bàn. Cô gái từ bàn đằng kia vội chạy theo gọi rối rít:

“Ô, ô, cái ông kia. Trả tiền đi chứ?”

Ông hất hàm trỏ tay về phía chiếc bàn. Và cẩn thận đi từng bước một trên đường lát đá lởm chởm. Và đến đứng chờ trên lề đường.

Chờ khoảng 5 phút, một chiếc tắc-xi trờ tới. Và cũng khoảng hơn 5 phút sau, ông đã xuống xe ghé một góc khu Hoà Bình. Nhà Thuỷ Tạ không xa trung tâm thành phố là bao. Đi đâu? Đi đâu bây giờ? Câu hỏi nhảy nhót trong đầu. Còn hơn nửa ngày, không lẽ trở về khách sạn nằm dài chờ ngày mai xuống Sài Gòn để hôm sau lên máy bay về Mỹ.

Thành phố này thật quen thuộc. Phải rồi, là vì mình không được sinh ra nơi này nhưng đã sống ở đây từ bé.  Kỷ niệm thời thơ ấu khó quên. Thấy vắng xe, ông vội băng ngang qua dãy phố bên kia đường. Ông nhận ra ngay đây là góc phố ngày xưa. Không chừng dưới mấy viên gạch vỡ vẫn còn những lớp đất, đá, nhựa trải đường của trăm năm về trước.

 

Mùa đông trời lạnh lắm và mau tối. Trường tiểu học chỉ cách nhà chỉ hơn 10 phút đi bộ,  nhưng nó về tới nhà thì đã chạng vạng. Bố mẹ hỏi tại sao, mới đầu nó chối. Nó cũng giấu kín mấy hột dẻ rang cầm ấm cả bàn tay bé nhỏ.

Chiều nào cũng vậy, nó và hai thằng bạn học bé con ở cùng phố, không chịu về nhà ngay, đứng thộn người nhìn người ta rang cà phê ngay trước cửa tiệm Vĩnh Chấn. Vĩnh Chấn bán bánh mì, bánh ngọt và cà phê từng bịch chứ không phải cà phê trong tách, trong ly. Tức là cà phê xay tại chỗ sau khi rang rồi cho vào bịch giấy nhỏ để bán. Tây, đầm, ghé xe hơi tới mua đông hơn người mình.

Cái hột gì đó đổ vào nồi rang kêu rổn rảng, sau nó biết là hột cà phê sống. Nồi rang bằng thiếc hình ống tròn to, lọ nghẹ bám đen thui, nằm ngang, có tay quay, đặt bên trên bếp lửa, hay bếp than, nó không rõ. Một chú Tàu bụng bự, ba nó vẫn gọi là chú khách, cầm tay quay quay đều, quay xuôi rồi quay ngược. Chú Tàu thương con nít, thỉnh thoảng cho mấy đứa bé những hột dẻ rang còn nóng muốn phỏng tay. Thường thường rang cà phê xong, nếu còn lửa, chú rang dẻ; nó biết ý đứng chờ. Chỉ một chốc mùi cà phê rang bốc lên, rồi lan ra khắp hè phố. Thơm quá, ấm quá. Mùa lạnh mà được cầm tay quay rang cà phê thì còn gì bằng. Nó còn nhỏ, ba chưa cho uống cà phê, sợ tim con nít đập mạnh, mẹ nói thế.

Mà cần gì uống. Mũi ngửi mùi cà phê rang có trộn bơ thơm tho ngào ngạt trước tiệm Vĩnh Chấn là sướng rồi. Cũng như đối với lỗ tai, lỗ miệng, cần gì học hát, nghe hát ở trường vào cuối tuần khi thầy dạy nhạc tay vung chiếc đũa như nhắp cây roi. Nghe con dế gáy khi nó ngủ, reo to khi nó “thắng trận” khua hai cái râu dài đuổi theo con dế khác, thiệt là hay ho hơn nhiều. Nó ước mơ sau này lớn lên được làm nghề rang cà phê tiệm Vĩnh Chấn. Rang cà phê vào mùa Đông, nhìn con nít đi học về, cho chúng nó hạt dẻ và thêm bánh mì mới ra lò. Mùa mưa tới thì làm nghề trồng rau ở Ấp Hà Tịnh, Ấp Hà Đông, Ấp Thừa Thiên tha hồ bắt dế đá. Mà nghề đánh xe ngựa coi bộ cũng thích. Ngồi trên xe ngựa, hồi đó còn xe ngựa chở người ta đi chợ, và than, củi, “la-ghim”, một tay cầm dây cương, một tay cầm cây roi, quất quất. Nhưng ao ước là một chuyện, bố mẹ có chịu hay không là chuyện khác.

Thế mà nó chưa lớn lên để biến mơ ước thành sự thật thì đã phải chạy giặc. Nhớ chiếc xe ngựa chở cả gia đình từ Đà Lạt đổ xuống Cầu Đất, và được chuyển qua xe lửa khác chạy xuống ga Tháp Chàm, rồi chuyển qua xe lửa khác một lần nữa chạy tuốt ra Trung hướng về xứ Huế lạ lùng, huyền bí, âm u, xa xôi ngàn dặm. Hồi đó, Khi chưa rời khỏi ngôi nhà của tuổi thơ dại, mới nghe bố mẹ nói lui nói tới “phải về Huế, phải về Huế”, nó đã ngẩn ngơ, hoang mang, sợ sệt.

 

Ông thì thầm trong lòng chắc mình phải trở lại con đường tản cư hồi nhỏ đó, cũng như mấy hôm nay đã trở lại thăm nhiều nơi trong thành phố “rập rờn kỷ niệm này”. Như con cá hồi. Như con chim én.

 

Một cơn gió thoảng qua, ông thấy lạnh dù đã mặc hai lần áo len dày. Ông biết, mình đã già yếu, khả năng chống cự với cái lạnh kém xa thời trai trẻ. Và ông thảng thốt “nhận ra ngay đây là góc phố ngày xưa”, rằng mình đang đứng trước tiệm Vĩnh Chấn tuy nó được khơi cao thêm vài tầng, không còn bán bánh mì nóng và cà phê bịch, và không giữ bảng hiệu chữ Tàu nữa. Bỗng dưng ông cảm thấy thèm một tách cà phê thật nóng, không đường, không mật, sau khi ăn một tô phở tái gân nạm gầu cũng nóng không kém có thêm hành chần, nước béo. Ông nhớ trước kia, gần khu Hoà Bình này, có một quán phở khá nổi tiếng, lẽ dĩ nhiên có cà phê đi kèm - Cà Phê Tùng hay Phở Đắc Tín - nằm trên đường Hàm Nghi, tên đường vào thời Việt Nam Cộng Hoà trước năm 1975. Ngày xa xưa thời Pháp thuộc nó mang tên Rue d’Annam, sau này chắc hẳn đã có tên khác. Và gần cuối đường là ngôi nhà thờ Tin Lành khá lớn, nay cũng gần 100 tuổi. Đi sâu thêm vài trăm thước rồi rẽ trái sẽ gặp một ngôi chùa cổ, chùa Linh Sơn, nay trên 100 tuổi.

Ông đi thong thả đến đường Hàm Nghi. Chỉ đi một đoạn ngắn, ông gặp một bến xe khá nhộn nhịp. Đứng lại một chốc tại một góc phố nhìn xe đến, xe đi, cũng là một cái thú -  ông vẫn thích sinh hoạt của những nơi như chợ búa, nhà ga, bến xe, bến tàu. Bến xe này có những tuyến đường đi Đức Trọng, Tùng Nghĩa hướng về Di Linh, Bảo Lộc rồi về Sài Gòn; hoặc đi Lạc Dương, hoặc Trại Mát, Trạm Hành hướng về Phan Rang, Nha Trang. Một chiếc xe hành khách cố ý chạy chậm ngang qua chỗ ông đứng. Lơ xe kêu to: “Đi Xuân Trường, Cầu Đất, Trạm Hành đây. Chú ơi. Lên xe mau.” Ông giật mình, và chẳng hiểu sao, tự nhiên cánh tay đưa cao lên, vẫy. A, đúng rồi, hai tiếng Cầu Đất vừa nghe vang dội mạnh trong lòng. Xe dừng lại, ông lên. Xe chạy tiếp, lại trờ tới những người khác đứng cạnh lề đường. Thêm vài người lên xe. Khi ông đã ngồi yên, anh lơ xe bước tới:

“Chú đi đâu?”

“Đi Cầu Đất. Cầu Đất là trạm cuối, phải không anh?”

“Trạm Hành mới là trạm cuối.”

Để được yên tâm ông  hỏi tiếp:

“Nghĩa là xe sẽ ghé Cầu Đất rồi mới tới trạm cuối là Trạm Hành?”

“Vâng.” Anh lơ xe trả lời dấm dẳng, rồi định xé vé đưa cho ông. Ông vội nhìn đồng hồ tay và hỏi tiếp:

“Mà chuyến cuối trở về Đà Lạt là mấy giờ?”

“Tùy, khoảng 4 giờ chiều. Còn khách thì 5 giờ.”

“Cho tôi 1 vé.”

“19 ngàn đồng đi Xuân Trường.” 

Ông băn khoăn:

“Tôi đi Trạm Hành chớ không phải Xuân Trường.”

Anh lơ xe sốt ruột, xé vé, chìa tay đòi tiền, đáp:

“Thì cũng đó đó.”

Nhìn vé xe, ông nhẩm tính. 1 tách cà phê Nhà Thuỷ Tạ 120 ngàn, giá cước cho chuyến đi khá xa này chỉ 19 ngàn. Đắt hơn sáu lần.

Trên xe, ngoài một số hành khách buôn bán, hay vô công rồi nghề như ông, còn có mấy đứa học trò nam, nữ, đi những quãng đường dài ngắn khác nhau, chỉ trả 5 ngàn đồng, rồi xuống xe. Hình như 5 ngàn đồng là giá chung cho học trò, khoảng 20 cents Mỹ. Áo màu xanh đồng phục, cũ, nhăn, nhưng trông cũng gọn gàng. Đặc biệt con gái má hồng tự nhiên, không phấn son. Học trò con nít phấn son cái gì, ông bật cười.

Xe vượt qua những phố xá đông đúc, dần dần đổ dốc. Ông thấy một công xưởng khá lớn bên trái con đường, và nhận ra ngay đó là Garage Martinette, tên cũ. Trước kia, quanh vùng này là những đồi thông cây xanh trùm đến ngọn, những thung lũng cũng trùng điệp thông là thông. Nay khác rồi. Nhiều ngọn đồi thưa thớt cây, nhiều thung lũng toàn trồng rau quả. Nhà kính bao trùm kín nhiều nơi. Rải rác hai bên đường mọc lên những khách sạn, nhà hàng. Ông đọc kịp vài tên: Khách sạn Dalat Nature’s, Nhà hàng Xiên Nướng –Ăn Vặt, Chả Ram Bà Béo.

 

Xe tiếp tục chạy về phía Trại Mát. Ông còn nhớ rằng mãi đến cuối thập niên 1960 qua đầu thập niên 1970, vẫn còn đường xe lửa nối liền Đà Lạt (độ cao trung bình là 1,500 mét) với Tháp Chàm thuộc Phan Rang (đồng bằng). Vì cách biệt của độ cao, đường xe lửa phải qua nhiều con dốc rất ngặt nghèo nên ngay giữa hai đường rầy chạy song song còn có đường rầy thứ ba có răng cưa ăn khớp với răng cưa của toa đầu máy và những toa khác (do người Pháp thực hiện gọi là chemin de fer crémaillère, tiếng Anh: cog-rail). Nhờ thế xe lửa khỏi bị tuột khi xuống dốc, và bám được đường khi lên dốc. Đấy là đoạn đường hỏa xa rất hiếm hoi và quý giá vô cùng chạy qua nhiều đồi, núi, rừng cao nguyên tuyệt đẹp. Hồi nhỏ ngồi trên xe chạy trên con đường này, ông thích nhất khi xe leo dốc quanh co luồn qua những rừng lau sậy, cờ lau quẹt vào thành cửa sổ xe sột soạt, hay bay phất phơ trong gió. Trên thế giới chỉ nước ta và Thụy Sĩ có loại đường xe lửa như thế.

Phải mất 30 năm cực kỳ khó khăn và gian khổ mới hoàn thành con đường sắt ấy với độ dài gần 84 km trong đó đường răng cưa chiếm đến 43 km. Đường răng cưa bên Thụy Sĩ chỉ dài 25 km ở đoạn vượt qua đèo Furka trong rặng núi Alps, và không có nhiều dốc cao bằng đường sắt Việt Nam. Bắt đầu từ năm 1932, con đường được được sử dụng. Sau 40 năm hoạt động, đến năm 1972, chiến tranh tàn khốc đã phong tỏa con đường. Tiếc thay, sau 1975 khi đã có hòa  bình, vì tầm nhìn ngắn hoặc vì tham nhũng, nhà đương cuộc cho gỡ bỏ con đường sắt đó, lấy tà vẹt, đường rầy dùng để tăng cường cho con đường sắt Thống Nhất, hoặc đem bán hết sạch làm sắt vụn. Các đầu máy hơi nước cổ xưa qúy báu nay không còn được sản xuất nữa và một số toa hạng nhất, thì mang bán cho công ty DFB (Dampfbaln Furka-Bergstrecke),Thuỵ Sĩ, với giá rẻ mạt, 650 nghìn đô-la Mỹ. Thụy Sĩ đã vô cùng hân hoan sử dụng những đầu máy và toa đó để góp phần phục vụ cho ngành du lịch núi Alps bằng Hoả Xa rất được thế giới hâm mộ.

(Theo Nguyễn Bảo Châu: http://trithucvn.net/van-hoa/chuyen-buon-ve-tuyen-dương-sat-rang-cua-huyen-thoai-phan-rang-da-lat-html).

Nay chỉ còn đoạn đường sắt ngắn và ít dốc từ Đà Lạt đến Trại Mát. Lại không có đầu máy hơi nước, buộc lòng phải dùng đầu máy chạy điện kéo mấy toa hạng ba nhỏ và xấu, đưa du khách ít ỏi ngày có ngày không, đi xuống đi lên.

 

Đường qua khỏi Trại Mát bắt đầu dốc nghiêng nhiều, dài và rất quanh co, hiểm trở, khiến xe phải chạy chậm. Vài dấu vết xưa liên quan đến con đường răng cưa huyền thoại xuất hiện đây đó. Đấy là những gì còn sót lại, những kiến trúc hoang tàn, đổ nát, trên đó có những hàng chữ cũ kỹ, hoen ố: Ga Cầu Đất, Hầm Hoả Xa. Mong rằng những dấu xưa đó sẽ không bị  bàn tay con người hủy diệt lần chót. Lại cũng gặp những đoạn đường sương mù dày dặc hầu như quanh năm, thì may mắn thay, trước đấy chừng vài trăm mét, có những bảng chỉ dẫn cắm bên đường: Đi Chậm. Đường Nhiều Sương Mù.

 

Ông tới Trạm Hành thì đã 2 giờ chiều. Chỉ còn một mình ông đến trạm cuối này. Xe đậu tại một khoảng đất trống nhỏ cạnh con đường cái cách quận lỵ không xa lắm. Nhưng muốn đến đó, phải vượt qua một con đường dốc. Thì giờ còn ít ỏi, ông liệu cũng khó cuốc bộ nổi.

“Anh ơi, khi nào trở lại Đà Lạt?”

“Không có ai đi. Chắc phải chờ một vài tiếng nữa,” anh tài xế trả lời.

“Đây tới Cầu Đất bao xa?”

“Khoảng 10 cây số.”

“Gần đây có quán ăn nào không?”

“Có. Chú chịu khó đi bộ ngược lại độ vài cây số thì tới. Quán bên phải.”

Ông vừa đói, vừa thèm một cốc cà phê thật nóng. Xuống xe, theo lời tài xế, ông đi men theo lề bên trái lên dốc. Cái dốc cong queo và thật dài như không bao giờ hết. Đi mới mấy trăm mét đã mệt nhoài. Trời lạnh, và gió, và đói. Gió chạy luồn theo con đèo cao ngút. Đứng nghỉ chân một bên đường, ông nhìn quanh. Mé trái con đường, thung lũng mênh mông, những vườn chè, vườn cà phê, vườn rau. Đây đó những mái ngói đỏ ẩn núp dưới những chòm thông xanh. Có lẽ đó là những dinh thự lớn lao của các “đại gia”, hay trụ sở của chánh quyền. Trong khi đó, phía bên phải con đường, trên những ngọn đồi xơ xác, những gò đất đá khô cằn, rải rác những túp lều tranh xiêu vẹo.

Ông tiếp tục leo dốc. Qua khỏi một khúc quanh, một cái gọi là cái quán nằm cheo leo trên mô đất cao hơn mặt đường độ vài ba mét. Ông mừng rỡ bước vào quán. Mấy trái dừa nằm dưới đất, vài nải chuối, hai ba chai nước ngọt, đặt trên cái chõng tre rệu rạo. Thế thôi.  Ông nghe tiếng nước sôi sùng sục. Đảo mắt tìm, thấy có cái nồi vung đậy kín nằm trên cái lò đất ở một góc quán. Khói bay lên, mùi thịt gà hầm thơm phưng phức. Bụng ông càng cồn cào. Ông gọi chủ quán hai lần. Không có tiếng trả lời. Bước sâu vào. Sau tấm phên mỏng, một người nằm trên ghế bố trùm mền kín đầu.

“Cháo gà đang nấu phải không? Cho tôi một tô.”

“Tui cảm nặng. Thằng rể nấu cháo cho tui. Không bán.”

“Thế có gì ăn không?”

“Có.” Giọng nói thều thào, mệt nhọc. “Có dừa. Tui đau, chặt lấy mà ăn. Để tiền đâu đó cũng được. Mười ngàn một trái.”

Ông ngán ngẩm, rời ngay khỏi quán. Chỉ bước thêm được mấy bước, ông ngồi bệt xuống lề đường. Ngồi khá lâu chờ chiếc xe Trạm Hành lúc nãy mà không thấy. Bỗng một xe gắn máy chạy từ dưới xa lên, ông đứng dậy bước ra giữa đường dang hai tay xin đi quá giang tới Cầu Đất. May cho ông, gặp người tốt bụng.

Ông không còn sức lê lết từ con đường cái vào chợ Cầu Đất gần đấy. Hồi bé, nó thường thắc mắc vì cái tên Cầu Đất. Nó biết cầu sắt, cầu xi-măng, cầu gỗ. Nó có nghe nói cầu tre. Nhưng  cầu đất? Lấy đất làm cầu cũng được hay sao? Nó xin thua. Trong chuyến đi lần này, ông cũng có ý muốn xem thử cái cầu đó ra thế nào, nhưng liệu có còn đủ thì giờ hay không. Thấy vài quán hàng cũng nằm cheo leo trên gò đất cạnh con đường, ông ráng sức leo lên mấy bậc tam cấp bằng đất lồi lõm, đến gần cái sạp, ngồi phịch xuống chiếc ghế gỗ độc nhất của quán. Cái quán này cũng xiêu vẹo, nhưng chắc chắn “sang trọng” hơn cái quán “cháo gà” gần Trạm Hành. Cô chủ quán trẻ tuổi ân cần chào hỏi:

“Thưa bác mua chi?”

“Ở đây bán chi?”

Cô ta khoảng trên 20 tuổi, quần dài đen, áo bà ba trắng, tóc uốn qua quýt, mặt hiền khô, không cao không thấp, có chút da thịt như những gái quê khác, không đẹp không xấu. Đúng ra, đẹp nhiều hơn xấu nhờ cái vẻ thật thà, hồn nhiên. Thay cho câu trả lời, cô đưa mắt quanh cái sạp hàng nhỏ, ông cũng theo đó mà nhìn. Rổ gạo, rổ đậu xanh, trẹt cá khô, mớ khoai luộc phơi khô, hũ muối, hũ đường, mấy chai nước ngọt, và vài món linh tinh khác. Lại có một chai mật ong đặt cạnh mấy chai nước ngọt. Dưới đất, kế bên sạp hàng, là một chùm dừa. Ông nhớ quán vừa rồi cũng có dừa. Ông nghĩ rằng vùng này có trồng dừa chứ không phải chỉ có trà, cà phê, và rau quả. 

“Đây có chi ăn không cô? Có chi uống không?”

“Chỉ có mấy thứ bác thấy đó, chớ không bán đồ ăn. Bác chịu khó vô trong chợ. A mà chợ giờ này dẹp rồi, chỉ đông buổi sáng. Uống thì có, có dừa, và nước ngọt.”

Ông buột miệng:

“Tôi đói bụng quá.”

“Hay là bác uống nước dừa, xong cháu chẻ ra bác lấy muỗng nạo ăn đỡ đói.” Lim dim mắt ngẫm nghĩ. “A mà cháu có nồi khoai lang mới luộc để ăn trưa. Bác ăn nghe. Khoai lang đây cũng ngon. Mà cháu không lấy tiền đâu.”

Ông thấy vui hẳn lên, tạm quên đói, gợi chuyện:

“Cô bán đây lâu chưa?”

“Lâu lắm. Từ nhỏ. Cháu thôi học sớm. Cái hàng này của má, mà trước đó là của bà. Má tự nhiên yếu đi, thỉnh thoảng ra đây ngồi chơi cho đỡ nhớ hàng họ bà con thôi. Cho nên bây giờ cháu là bà chủ rồi đó.” Cô cười vui vẻ. “Nè, cháu đi lấy khoai lang nghe.”

Trong khi cô hàng loay hoay duống nồi khoai từ lò bếp để lên mé sạp, rồi đi lấy hai cái tô, và lấy khăn lau cho sạch, ông quay nhìn lui con đường đèo vừa đi qua. Ông có cảm tưởng như nhìn xuống vực thẳm. Bỗng thấy lòng bùi ngùi.

Có những người nghèo nàn sống bám vào góc phố, vỉa hè, mé chợ, con đường, từ đời này qua đời khác. Thời gian cứ việc trôi mãi không ngừng cùng với dâu biển, thăng trầm. Phần họ, họ vẫn bám trụ tại một nơi nào đó, buôn thúng bán mẹt, hoặc mở quán nước, quán hàng be bé, hoặc sạp may, sạp hớt tóc, sạp sửa giày dép nho nhỏ. Lại có người vốn liếng chỉ là một nồi cháo trắng và mấy hột vịt muối, bán từ nửa đêm cho tới sáng. Ngồi, mệt thì nằm xuống ngủ, tại những ngã tư đường dưới cột đèn, hay tại một góc chợ tối tăm, phục vụ cho những kẻ lỡ độ đường. Ai đến, phải chờ năm ba phút, tô cháo sẽ được hâm lên cho nóng.

Họ sống lê la ngày lại ngày, đơn sơ, mộc mạc, thiếu thốn, và tốt bụng. Dường như cả trăm năm đã qua, những người như cô hàng hôm nay, chú khách rang cà phê ngày xưa vẫn không có gì khác, vẫn sống bên lề mọi biến động của lịch sử, không quan tâm đến thời cuộc, không tranh giành, mưu mô, lừa gạt, chém giết. Họ cam chịu, không than van, không đòi hỏi.

“Bác ơi, ăn với cháu nghe.”

Ông quay lại:

“Cám ơn cô. Thế còn ông già?”

Cô ngơ ngác:

“Bác nói cái chi?”

“Ông già ba của cô ... Ông làm gì?”

“À, à, ba hả. Ba chết khi cháu chưa đẻ.“

“Cô được mấy con?”

Cô hàng đỏ mặt:

“Cháu chưa có chồng.” Nói xong cô cười nhẹ nhàng. “Bác đi đâu mà tới đây một mình vậy hả bác?”

Ông không biết trả lời ra sao, đành bịa chuyện:

“Tôi ở Đà Lạt về đây tìm bà ... bà ...”

“Bà nào? Bác nhớ tên  không?”

“Bà Thu.”

Cô hàng, cặp mắt sáng rỡ, reo lên:

“Ô, bà Thu, cháu biết. Đúng là bà Thu đó rồi. Bả giàu lắm. Giàu nhứt Cầu Đất. Nhà cháu chỉ cách nhà bả có một cái gò cỏ tranh. Mà cả nhà bả đã đi Mỹ hết trọi. Bác có bà con gần gũi, hay thân thiết gì với bà đó không?”

Ông nói đại:

“Thân chớ sao không thân. Thân lắm.”

Cô hàng lại có vẻ băn khoăn. Ông nhủ thầm, cô này thích lim dim mắt ngẫm nghĩ. Bỗng cô nhíu mày nói lẩm bẩm:

“Cháu thật không ngờ ...”

Nói chưa hết câu, cô hàng dừng lại.  Ông thúc giục:

“Cô cứ nói tiếp đi, tôi đang nghe.”

“Dạ, bà Thu trông phúc hậu. Thế mà ... Thôi, cháu không nói nữa.”

Ông làm bộ khẩn khoản:

“Cô cứ nói đi, tôi đang muốn nghe thêm. Vì bà và gia đình tôi thân nhau lắm.” Nói xong ông cảm thấy ngượng. Người ta chân thật, mà mình quen tính, ưa giở trò.

“Thân thì lẽ ra trước khi đi phải báo cho bác biết chớ. Bác ở xa. Già yếu một mình tìm về đây thăm không gặp. Cháu thấy tội bác quá à.”

Ông giở trò thêm, lần này không chủ ý, như ngọn tên bay khỏi cung khi chưa hết đà:

“Thời buổi này khó khăn lắm cô ơi. Bà ấy im lặng đi như trốn như thế mới an toàn. Nói cho tôi biết thì có thể người khác cũng biết. Công an cũng biết. Nguy hiểm lắm.”

Cô hàng trố mắt nhìn ông, ra vẻ cám ơn:

“Trời đất! Bác không nói cháu chẳng hiểu chi cả. Nghĩ sai cho người ta, tội chết. Cháu cám ơn bác lắm.”

Ông làm lơ, nhìn vào nồi khoai đang bốc khói, rồi làm bộ mừng rỡ  hỏi:

“A này, cô cũng có bán mật? Mật thật hay mật giả?”

“Dạ mật làm sao giả được.”

“Tức là mật đặc biệt Đa Tân La?”

Cô hàng ngơ ngác. Ông ngập ngừng hỏi tiếp:

“Tôi muốn biết cô lấy mật ở đâu?”

“Dạ, ong lúc nào cũng làm tổ trên cây.”

 

 12/2020

         

  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vốn là một quân nhân, sau khi triệt thoái từ miền Trung về Saigon, tôi được bổ xung cho một đơn vị pháo binh đang hành quân ở vùng Củ Chi, Tỉnh Tây Ninh, yểm trợ sư đoàn 25 Bộ BinhB. Khoảng ba tuần trước khi mất nước tôi bị thương ở chân. Nằm trong quân y viện Tây Ninh vài ngày, bác sĩ cho về nhà dưỡng thương một tháng ở Saigon.
Ngày xưa, thông thường, chồng của cô giáo được gọi là thầy, cũng như vợ của thầy giáo được gọi là cô. Cho dù người chồng hoặc vợ không làm việc trong ngành giáo dục. Nhưng trường hợp cô giáo tôi, cô Đỗ Thị Nghiên, trường Nữ Tiểu Học Quảng Ngãi thì khác. Chồng của cô, thầy Nguyễn Cao Can, là giáo sư dạy trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi. Cô Đỗ Thị Nghiên dạy lớp Bốn, trường Nữ Tiểu Học. Trong mắt nhìn của tôi, của con bé mười tuổi thuở ấy, cô Nghiên là một cô giáo rất đặc biệt. Cô nói giọng bắc, giọng nói trầm bổng, du dương. Tóc cô ngắn, ôm tròn khuôn mặt. Da cô trắng nõn nà. Có lần ngoài giờ học, trên đường phố của thị xã Quảng Ngãi, tôi thấy hai vợ chồng thầy Can, cô Nghiên đèo nhau trên xe gắn máy. Cô mặc jupe, mang kính mát, ngồi một bên, tréo chân, khép nép dựa vai thầy. Ấn tượng để lại trong trí của con bé tiểu học là hình ảnh của đôi vợ chồng sang trọng, thanh lịch, tân thời, cùng mang thiên chức cao cả: dạy dỗ lũ trẻ con nên người.
Tháng Tư này tròn 50 năm biến cố tang thương của miền Nam Việt Nam, những người Việt hải ngoại, đời họ và thế hệ con cháu đã trưởng thành và thành công trên xứ người về mọi mặt học vấn cũng như công ăn việc làm. Họ đang hưởng đời sống ấm no tự do hạnh phúc đúng nghĩa không cần ai phải tuyên truyền nhồi sọ. Nhưng trong lòng họ vẫn còn bao nhiêu kỷ niệm thân thương nơi chốn quê nhà.
Có một buổi trưa, hai đứa đang thưởng thức bò bía, đậu đỏ bánh lọt ở chùa Xá Lợi, góc Bà Huyện Thanh Quan và Ngô Thời Nhiệm (?), thì gặp một "cái bang". Đầu đội khăn rằn, đeo mắt kiếng cận nặng, cổ quấn vài ba chiếc khăn đủ màu và ông còn dẫn theo hai con chó, vừa đi vừa múa tay múa chân như người say rượu. Chừng như ông không cần thấy ai, chung quanh chỉ có ông và hai con chó. Người đàn ông "cái bang" đó là nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo nổi tiếng của Việt Nam: Bùi Giáng. Hai con chó vừa đi vừa sủa vang, khiến một số nữ sinh Gia Long đang đứng quanh xe bò bía, vội vã chạy né qua bên kia đường. T
Một ngày nọ, ngài gặp một bà mẹ, bà ôm một đứa con vừa mất vừa đi vừa khóc lóc thảm thiết, ai cũng mũi lòng thương, thông cảm vì mất con là nỗi đau khổ nhứt trong cuộc đời… người ta mách bảo là bà nên gặp Sa Môn Cồ Đàm, bà sung sướng bế con đã mất đi ngay và gặp phật, xin phật dùng phép thần thông cứu sống con bà. Xung quanh phật, các tì kheo đang ngồi cầu nguyện cho chúng sanh được giải thoát và cũng cầu nguyện cho các chúng sanh còn tại thế sẽ may mắn mà gặp được giáo pháp của Như Lai. Rồi người mẹ đau khổ cũng được gặp phật.
Cuối tháng Ba, những cơn gió nóng tràn về thành phố. Một hai trận mưa lạc loài đến sớm rồi thôi. Không khí ngột ngạt. Mùi đất nồng khó chịu. Như một cô gái uể oải trong cơn bệnh, thành phố trông mệt mỏi, rạc rời. Đoan đi vào Câu lạc bộ của trường. Bình thường, cứ đến thứ Sáu là không khí chuẩn bị cho chiều văn nghệ thứ Bảy lại nhộn nhịp. Nhưng hôm nay, như có một cái gì kéo mọi thứ chùng xuống. Chị Thuận, người phụ trách Câu lạc bộ, mỉm cười khi thấy Đoan, nhưng là một nụ cười kém tươi. Chị vẫn câu chào hỏi thường lệ: “Em uống gì không?” “Dạ, chị cho em nước chanh.” Chị Thuận pha ly nước chanh đặc biệt, nóng, ít đường, mang đến để trước mặt Đoan, và kéo ghế ngồi xuống bên Đoan. Hình như không có gì để bắt chuyện, chị Thuận nhìn ra sân, nói nhỏ:
Tôi khép cánh cửa phòng ngủ, rón rén bước ra, sợ gây tiếng động làm thằng cháu nội lại giật mình thức giấc; thằng bé đã mười tháng tuổi, biết làm đủ thứ trò như con khỉ con, chiếc mũi bé xíu của nó chun lại, đôi môi dầy cong lên, mỗi khi bà nội bảo nó làm xấu, thật dễ thương, canh nó hơi mệt vì phải chơi cho nó đừng chán, lèo nhèo, nhưng chơi nhiều thì sức bà nội có hạn, làm sao chạy theo nó cả ngày được!
Những cái mặt hướng về phía trước. Những cái đầu hơi cúi, những cái lưng hơi còng có lẽ bởi sức nặng của chiếc ba lô đeo sau lưng, hay tại - nói một cách màu mè, văn vẻ, đầy giả dối là - gánh nặng của đời sống. Trước mặt tối đen. Bên phải là những cánh cửa cuộn bằng tôn đóng kín. Những cánh cửa lạnh lùng, vô cảm; lầm lì từ khước, âm thầm xua đuổi. Dưới chân là nền xi măng. Cứng và lạnh. Không thể là nơi tạm dừng chân, nghỉ mệt. Sâu vào phía sát vách là nền lót những viên gạch vuông. Không một cọng rác. Không một bóng chó hoang, mèo lạc. Không cả những hình hài vô gia cư bó gối vẩn vơ nhìn nhân gian qua lại.
Đức hạnh cao quý thể hiện thành tâm vô phân biệt. Tâm vô phân biệt tạo thành một sự bình đẳng tuyệt đối trong giáo pháp của đức phật. Giáo pháp thâm sâu vi diệu của Như Lai thì không phải ai cũng hiểu hết, cũng ngộ được điều đó đa phần các vị đại trí thấu đạt. Còn lòng từ bi của phật thì lan tỏa vô phân biệt như ánh sáng mặt trời soi sáng khắp nơi nơi, như mưa rơi tắm mát đại ngàn. Những lời giảng dậy trên đây được dẫn chứng nhiều và rõ nhứt là ở phật giáo Tây Tạng.
Anh Hai của tôi, sau chuyến vượt biên thất bại, bị giam ở nhà tù Bình Đại Bến Tre chín tháng, khi trở lại trường Phan Thanh Giản, Cần Thơ mới biết đã bị cắt hộ khẩu, mất việc làm, bèn quay về Sài Gòn sống tạm với gia đình, chờ cơ hội vượt biên tiếp theo. Một hôm, anh bị cơn sốt rét tái phát hành hạ, (hậu quả của những ngày trong trại giam), cần phải đến bệnh viện chữa trị, nhưng hộ khẩu không có, anh bèn mượn cái Sổ Sức Khỏe của thằng cháu (con bà chị họ ở kế bên nhà), để đi khám bệnh
Năm đó, tôi qua Arlington,Texas thăm gia đình, rồi ghé Dallas thăm người hàng xóm cũ thân thiết từ khi còn ở Việt Nam . Chú Thím ấy đónvợ chồng tôi nồng hậu như mọi khi, bữa ăn đặc sản món Huế như tôi yêu cầu, sau đó kéo nhau ra phòng khách ăn bánh uống trà . Rồi Thím gọi cháu ngoại: - Thiên Ân ơi, ra đây ca hát cho hai bác Canada nghe đi con.-Cô bé hai, ba tuổi tung tăng ngoan ngoãn khoanh tay chào chúng tôi, rồi bạo dạn chạy ra giữa phòng, tay giả bộ cầm micro phone, rồi nhún nhảy tự nhiên hát một bài hát Tiếng Việt thật rõ ràng .
Ngày xưa rất xa xưa, ở vùng quê thôn dã, người dân sống giản dị, đơn sơ, mộc mạc; người ta trồng tỉa những vườn rau cải, vườn ngô, vườn cà… lấy hoa lợi để sống. Thường thường có chim chóc kiếm ăn đến phá phách, dãi dãi, mổ mổ những hạt mới ươm trồng hay những nụ hoa mới ra, chúng ăn, với con người trồng tỉa lấy hoa lợi là chúng nghịch ngợm và phá hoại, ăn khín. Mới đầu chúng đến một vài con, sau rủ nhau đến nhiều hơn, cả nhà cả đàn chim chóc… và người gia chủ trồng tỉa phải tìm cách bảo vệ hoa màu của họ, nguồn sống của họ.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.