Hôm nay,  

Bỏ Phố Lên Non

21/04/202115:15:00(Xem: 4343)
Nguyen Dieu Anh Trinh
Hình Thu Nguyệt và chồng (đã qua đời 06/2015)



Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975 đã có nhiều mảnh đời tang thương. Trong số đó có cô bạn thân của tôi. Thu Nguyệt là một cô gái có khiếu thơ văn. 13 tuổi đã có nhiều bài đăng trên Nguyệt san Thiếu Nhi với bút hiệu Tê Hát Nguyệt Thi. Bạn khiến cả lớp chúng tôi ngưỡng mộ. Ngày đất nước im tiếng súng, gia đình bạn từ Trại gia binh ở phi trường Đà Nẵng phải dọn ra ngoài; sống vất vưởng nhờ cậy nhà người quen. Vì không có địa chỉ cố định, ba mẹ bạn cùng đàn con 7 đứa bị xếp vào gia đình phải đi Kinh Tế Mới đợt đầu tiên của thành phố Đà Nẵng. Năm đó tôi đang học lớp 12.

  Sau ngày tôi may mắn đi định cư theo diện HO, thư về thăm bạn, trong lá thư hồi âm Thu Nguyệt đã viết: “Nhận được thư Trinh trong đêm nay như một điều thật kỳ diệu. Giống như Trinh từ Mỹ đã trở về với gia đình mình tận trên cao của miền rừng núi, nơi chưa có đèn điện, phải chong đèn dầu viết thư khi người ta đã lên đến Sao Hỏa rồi.”

Và qua nhiều lần thư đi thư về, bạn đã trút cạn nỗi niềm.

Xin ghi lại đây câu chuyện của bạn tôi với bao cay đắng của một người đã giã biệt thành phố khi tuổi đời đang chớm mộng mơ.

***

     Buổi sáng ở vùng cao, khí hậu lành lạnh, cơn mưa đêm qua còn đọng lại những giọt nước lóng lánh trên cành lá. Những tia nắng sớm yếu ớt đang trải dài trong vườn cây. Nhìn xa, vườn cà phê thật đẹp, trông như một bức tranh được tỉ mỉ cẩn bằng những hạt trai óng ả.

Thời tiết mùa này là thế, sáng mát lạnh, đến trưa thì nóng ghê người. Tuy vậy, chỉ có cái nóng của vùng cao nguyên cấu tạo bằng loại đất đỏ bazan này mới có thể làm cho những chùm cà phê  màu xanh lục đang bám đầy cành, chuyển sang màu đỏ gạch, đó là thời kỳ trái cà phê đã chín tới. Từ lâu rồi, năm tháng đời tôi chỉ tính bằng những mùa café, những cơn mưa sáng, những bóng nắng chiều.

   Rời phố phường, cái thành phố ven biển của một thời tôi mộng mơ, cũng là vùng đất tôi vừa ươm những hạt mầm mơ ước. Lúc chuyến xe chuyển bánh rời thành phố đưa chúng tôi, đoàn người đầu tiên trong chương trình xây dựng khu kinh tế mới lên đến nơi này, nước mắt tôi nhạt nhòa, tâm tư khép kín, tôi cố tình lấp lại thật nhanh và chôn thật sâu khoảng đời đã qua.

    Những tưởng mình sẽ quên đi đoạn đời tạm gọi là vàng son đó, những tưởng ước mơ đã chết lịm từ bao giờ, nhưng thật ra nó chỉ yên ngủ, bởi có khi trong đống tro tàn nguội ngặm đó, vẫn có lúc tôi nhìn thấy lại hình ảnh của chính tôi giữa cái nắng với bụi đỏ mịt mờ, giữa những thiếu hụt triền miên, giữa những ngày mưa lầy lội, giữa những đêm đông sương mờ giăng giăng nơi triền núi, tiếng chim lạc bầy gọi nhau nghe ai oán đến đoạn trường.

    Không bao lâu sau đó, tôi liên lạc được với nhỏ bạn thân, con nhỏ còn may mắn hơn tôi là vẫn còn hồn nhiên cắp sách đến trường, con bạn an ủi và khuyên tôi nên vui với những gì đang có. Con bạn không biết và chắc không hình dung ra được cái đêm đầu tiên ngủ trong căn nhà mà gia đình tôi được cấp trên vùng kinh tế mới, chỉ là bốn cây cột trơ trụi và một mái tranh dột nát nằm giữa cánh đồng chỉ toàn cỏ tranh và đá tổ ong. Có gì đâu mà bạn bày đặt khuyên với nhủ?

    Tôi hoàn toàn không biết đời mình rồi sẽ trôi về đâu … con bạn chắc chắn không biết rằng, muốn có nước sạch để nấu cơm chị em tôi phải lội bộ hơn hai cây số đường núi để ra suối vì ngày ấy hoàn toàn không có một giếng nước nào nơi đây. Con bạn cũng không thể nào biết tôi rời Đà Nẵng, lên đây, để rồi cuộc đời phải làm bạn với những người thiểu số chưa thạo tiếng nói người Kinh nhưng rất thạo cách so đo công trạng bởi chính họ là những người đã góp công, góp sức, góp xương máu đem hòa bình trở về cho đất nước. So với dân tộc thiểu số, chúng tôi bỗng nhiên trở thành những kẻ đi giành giật đất đai của dân bản làng, vì thế mọi ưu tiên chỉ dành cho họ.

    Khai khẩn được một vùng đất mới, tưởng sẽ được bình yên lạc nghiệp? Không, bao nhiêu chủ trương của “quy hoạch” hay của chương trình xây dựng Khu Nông Trường cho tập thể đều để nhường lại cho những người anh em dân tộc thiểu số, chúng tôi phải đi vào vùng sâu hơn, cao hơn. Biết bao gian nan hiểm trở, bao nhọc nhằn và thiếu thốn nơi rừng thiêng nước độc dường như đã vượt quá sức chịu đựng, bên cạnh đó là những chèn ép của thành phần quan chức địa phương … có nhiều gia đình đã trốn về thành phố, buôn bán lặt vặt tạm bợ cho qua ngày đoạn tháng.


    Gia đình tôi thì chẳng còn nơi nào để bám ở thành phố nên cả nhà đành phải học khai hoang, học trồng trọt. Mồ hôi và nước mắt ướt đẩm những luống đậu, luống khoai mì. Rồi những vuông đất trồng café đầu tiên cũng được hình thành. Từ khi vùng này còn là một vùng rừng núi hoang sơ, hàng xóm hầu hết là dân tộc miền núi, tiếng Kinh mới bập bẹ, còn lại số ít là những người từ thành phố, thuộc thành phần thất cơ lở vận trôi dạt lên đây, số phận như nhau. Dần dà các khu công nghiệp, các nông trường cà phê hợp tác Việt Đức được ra đời, dân từ những vùng Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh cũng di dân vào. Người Kinh càng lúc càng đông hơn người bản xứ, họ trở lại là đám thiểu số nên càng có nhiều quyền lợi, ưu tiên hơn chúng tôi.

   Có những năm mưa thuận gió hòa, đời sống dần dần được cải tiến, chồng tôi vào làm bảo vệ cho khu nông trường Café. Khu đất gần đó được chia ra thành từng vuông để làm khu nhà ở cho gia đình công nhân nông trường. Những hàng chè tàu xanh mướt mới được trồng lên để làm hàng rào ngăn nhà nọ với nhà kia. Chúng tôi cuối cùng cũng có được một mảnh đất nhỏ để làm nhà, gọi là … “an cư” sau nhiều năm “lạc nghiệp” một cách bắt buộc với công việc trồng trọt chăn nuôi.

    Mỗi khi có dịp về Đà Nẵng, nhìn cảnh xô bồ của phố phường tôi đâm ra ngán ngẩm. Ở đây tuy buồn nhưng đôi khi tôi cũng cảm thấy tâm hồn thơ thới. Sáng sáng thức dậy, hít thở mùi hương hoa đồng nội, mùi cỏ cây dịu dàng, chiều về lắng nghe tiếng suối nước róc rách, tiếng lá cây xào xạc vọng về từ rừng già; nếu chợt quên đi những cơ cực đang vây bám gia đình một cách khó gở, có khi tâm hồn tôi cũng hòa mình với thiên nhiên một cách nhẹ nhàng. Tôi đã nhận ra cái đẹp đến mê mẩn của khu vườn café không phải từ những lợi nhuận mà nó mang cho đời sống cơm áo hàng ngày mà từ mùi hương của hoa tinh khiết nồng nàn, của trái café chin đỏ đầy cành, đẹp như những viên ngọc bích trong mắt tôi.

    Khi các con tôi đã lớn, chúng tôi cố gắng lo cho con ăn học, giấc mơ đời tôi không thực hiện nổi, tôi chắp cánh vào đời con mình. Đã bao mùa café được vươn chồi nấy lộc, bao mùa tiêu lá xanh lá vàng, bao mùa rẩy, bao mùa ruộng khô ruộng nước, bao công trình cải tiến kỹ thuật được hô hào dựng xây nơi này? Những tưởng đã qua rồi một thế hệ đời tôi phải ngậm ngải tìm trầm, qua rồi sự phân biệt về nguồn gốc gia đình để đưa đến một thế hệ mới, lớp con cháu tôi sẽ có được sự cảm thông của “thế giới đại đồng”…

Nhưng …

....Con tôi ra trường, thằng bé đang phơi phới với mảnh bằng Đại Học đành gục đầu trước thực tế chua xót … không có nhiệm sở để thực hiện hoài bảo. Giấc mơ tuy nhỏ bé của vợ chồng, con cái tôi vỡ tan tành khi lò mò tìm hiểu phải có mấy chục triệu đồng lót tay mới được về làm việc ở đây. Vùng khỉ ho cò gáy này là đất của dân tộc thiểu số nên công trình cống hiến cho vùng đất này chỉ ưu tiên dành riêng cho người thiểu số. Con tôi tuy sanh ra ở đây, giấy khai sinh ghi rõ sinh quán, trú quán là vùng đất núi non này, vậy mà thằng nhỏ đành ngậm ngùi như tôi năm xưa, trước những thực tế chua xót.

Người ta nói, đất đai của người miền núi, của bản làng, chúng tôi là dân thành phố kéo nhau lên đây khai khẩn là đã giành giật miếng cơm manh áo của họ nên bây giờ những công việc hành chính nhẹ nhàng cũng phải ưu tiên cho họ. Nếu muốn, chúng tôi phải mua lại những ưu đải ấy bằng tiền.

    Ngày xưa … dân miền núi sống thành bộ tộc hiền hòa chân chất lắm, họ không biết xài tiền. Mọi mua bán đổi chác chỉ bằng hiện vật, họ không tin tưởng vào tờ giấy in xanh, đỏ màu mè lại có giá trị lớn lao như thế, có thể mua đất bán nhà và cả mua quan bán chức. Có phải đó cũng là lỗi của chúng tôi, những người dân thành phố vì thất cơ lỡ vận an phận lên đây, mang theo bao thói hư tật xấu đã làm hư hao khung cảnh thiên nhiên và cả con người nơi rừng núi heo hút này?

Tôi cố gắng nhưng vẫn không nhớ được tác giả hai câu thơ:

“Mai bỏ phố phường đi xa lăng lắc
Anh cũng dần quên cổ tích đời mình”

    Xin hãy đọc những dòng tâm sự buồn vui này của tôi như là chuyện cổ tích, bởi tôi đã xa rồi, đã bỏ phố phường mà đi.

Xin hãy đọc, rồi … quên như tôi đã từng cố quên.

NDAT
Thân tặng bạn thân Thu Nguyệt

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ngày xưa Mai được nhiều nam sinh để ý vì nàng đẹp, hiền, phong cách quý phái, nghiêm trang. Toàn được nhiều học sinh đặt biệt danh “Toàn Antique” vì Toàn “cả gan” theo đuổi và không cần che giấu sự say mê của Toàn đối với Hoàng Mai – người học trên Toàn hai lớp và lớn hơn Toàn hai tuổi.
Hiểu giá trị của sách vở đối với các em nhỏ, thương học trò không còn có đầy đủ sách vở như lúc đến trường, Jennifer đã biến cái garage ngôi nhà mà hai cha con cô đang ở thành một cái thư viện nhỏ có hơn 1,500 quyển sách. Cái mini thư viện trong garage nhà cô giáo Jennifer mở cửa mỗi cuối tuần cho học trò đến đọc sách và có thể mượn về mỗi lần hai quyển sách.
Đi làm về, giày chưa kịp tháo, túi ăn vứt ngoài sân, y khệ nệ bê thùng sách vào nhà rồi vội vàng mở bung ra. Những quyển sách xếp ngay ngắn trong thùng, mùi giấy mới thơm thơm, y lấy một quyển nâng niu tựa như người ta nâng hoa. Đoạn y hít hít mùi giấy và hôn lên bià sách.
Năm 2020 là một năm đầy sóng gió, chết chóc, và tang thương cho toàn thế giới với nạn dịch Covid-19. Nước Mỹ yêu dấu của tôi cũng chịu chung một số phận, nạn dịch khiến nhiều gia đình mất đi những người mình yêu thương. Ngoài nạn dịch, cộng đồng người Việt vừa mất đi 2 khuôn mặt nghệ sĩ nổi tiếng, 2 cây đại thụ, một là danh ca Mai Hương và người kia là một văn, nhà báo, thi sĩ kiêm phóng tác gia nổi tiếng Hoàng Hải Thủy.
Người họa sĩ này không chỉ có tài năng mà còn có lòng. Mỗi một lần, Guy bán được một họa phẩm của mình với giá khá cao từ các cuộc triển lãm hội họa ở New York, anh đều trích ra một số tiền mua lại các họa phẩm của những họa sĩ không nổi tiếng đang vất vả kiếm sống.
Tình cờ thấy một tấm hình xưa trên Facebook của anh bạn, tuổi thơ đầy kỷ niệm của tôi bỗng hiện về, hiền hòa trong trẻo trong môi trường sống lành mạnh của Sài Gòn những năm 50-60.
Xuống xe tắc-xi đi thêm mấy bước, rời con đường nhựa, ông quẹo trái. Con đường vào khu nhà Thuỷ Tạ hơi nghiêng, lát đá hơi gồ ghề, ông cẩn thận đi chầm chậm từng bước một. Chân yếu, đi đến những nơi lạ, ông thường mang theo cây gậy. Lần này ông quên.
Mỗi năm cứ vào ngày Thứ Năm trong tuần lễ thứ 4 của tháng 11, toàn dân Hoa Kỳ mừng Lễ Tạ Ơn Thượng Đế, đã ban ơn phước lành cho chúng ta có một đời sống ấm no, tự do, dân chủ, hạnh phúc như hiện nay và đồng thời đây cũng là một dịp có ý nghĩa cao đẹp nhất, cho những thân nhân trong gia đình, họ hàng, bạn bè bà con lối xóm, từ những nơi xa xôi hàng ngàn dặm, hôm nay quay trở về lại thăm nơi xưa chốn cũ, để họp mặt chung vui bên nhau
Trong khi nhích dần theo toán quân nhân nơi cửa hông của chiếc phi cơ C-130, Sinh nhìn bâng quơ. Thấy những áng mây chờn vờn trên đồi núi chập chùng, Sinh mơ tưởng đến khuôn mặt xinh đẹp của Quyên-Di. Sinh nhớ lại những ngày chàng chờ Quyên-Di trước cổng đại học Huế.
Như một lời cảm ơn đến những "nhân viên làm việc ở tuyến đầu chống dịch", công ty bán lẻ cà phê lớn nhất thế giới Starbucks sẽ cung cấp cà phê miễn phí suốt tháng 12 cho họ. Không chỉ có các bác sĩ, y tá, mà ngay cả các dược sĩ, các nhân viên chữa lửa, nhân viên an ninh, nhân viên vệ sinh ở bệnh viện.... sẽ được tặng miễn phí một ly cà phê nóng, hoặc lạnh, loại nhỏ mỗi lần họ đến bất cứ tiệm Starbucks nào trên toàn nước Mỹ.
Mùa thu ở Quận Cam nắng. Nắng như nung. Thằng bé con hỏi, “Mẹ ơi, đã tháng mười mà sao còn nóng quá?” Cháy rừng triền miên. Thời tiết bấp bênh. Út Út mới năm tuổi mà tối không chịu ngủ. Nó thủ thỉ, “Mẹ ơi, trốt lửa có tràn về thành phố của mình không? Con không ngủ, vì con sợ lửa về.”
Vì đại dịch vẫn đang hoành hành, dù còn trẻ, nhưng là một người mẹ đơn thân, Gabriela không có lựa chọn nào khác hơn là bồng những đứa trẻ đi xin tiền hàng ngày trên đường phố. Cô chỉ kiếm đủ tiền để mấy mẹ con sống lây lất qua ngày chờ đại dịch qua đi.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.