Hôm nay,  

Bỏ Phố Lên Non

21/04/202115:15:00(Xem: 4320)
Nguyen Dieu Anh Trinh
Hình Thu Nguyệt và chồng (đã qua đời 06/2015)



Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975 đã có nhiều mảnh đời tang thương. Trong số đó có cô bạn thân của tôi. Thu Nguyệt là một cô gái có khiếu thơ văn. 13 tuổi đã có nhiều bài đăng trên Nguyệt san Thiếu Nhi với bút hiệu Tê Hát Nguyệt Thi. Bạn khiến cả lớp chúng tôi ngưỡng mộ. Ngày đất nước im tiếng súng, gia đình bạn từ Trại gia binh ở phi trường Đà Nẵng phải dọn ra ngoài; sống vất vưởng nhờ cậy nhà người quen. Vì không có địa chỉ cố định, ba mẹ bạn cùng đàn con 7 đứa bị xếp vào gia đình phải đi Kinh Tế Mới đợt đầu tiên của thành phố Đà Nẵng. Năm đó tôi đang học lớp 12.

  Sau ngày tôi may mắn đi định cư theo diện HO, thư về thăm bạn, trong lá thư hồi âm Thu Nguyệt đã viết: “Nhận được thư Trinh trong đêm nay như một điều thật kỳ diệu. Giống như Trinh từ Mỹ đã trở về với gia đình mình tận trên cao của miền rừng núi, nơi chưa có đèn điện, phải chong đèn dầu viết thư khi người ta đã lên đến Sao Hỏa rồi.”

Và qua nhiều lần thư đi thư về, bạn đã trút cạn nỗi niềm.

Xin ghi lại đây câu chuyện của bạn tôi với bao cay đắng của một người đã giã biệt thành phố khi tuổi đời đang chớm mộng mơ.

***

     Buổi sáng ở vùng cao, khí hậu lành lạnh, cơn mưa đêm qua còn đọng lại những giọt nước lóng lánh trên cành lá. Những tia nắng sớm yếu ớt đang trải dài trong vườn cây. Nhìn xa, vườn cà phê thật đẹp, trông như một bức tranh được tỉ mỉ cẩn bằng những hạt trai óng ả.

Thời tiết mùa này là thế, sáng mát lạnh, đến trưa thì nóng ghê người. Tuy vậy, chỉ có cái nóng của vùng cao nguyên cấu tạo bằng loại đất đỏ bazan này mới có thể làm cho những chùm cà phê  màu xanh lục đang bám đầy cành, chuyển sang màu đỏ gạch, đó là thời kỳ trái cà phê đã chín tới. Từ lâu rồi, năm tháng đời tôi chỉ tính bằng những mùa café, những cơn mưa sáng, những bóng nắng chiều.

   Rời phố phường, cái thành phố ven biển của một thời tôi mộng mơ, cũng là vùng đất tôi vừa ươm những hạt mầm mơ ước. Lúc chuyến xe chuyển bánh rời thành phố đưa chúng tôi, đoàn người đầu tiên trong chương trình xây dựng khu kinh tế mới lên đến nơi này, nước mắt tôi nhạt nhòa, tâm tư khép kín, tôi cố tình lấp lại thật nhanh và chôn thật sâu khoảng đời đã qua.

    Những tưởng mình sẽ quên đi đoạn đời tạm gọi là vàng son đó, những tưởng ước mơ đã chết lịm từ bao giờ, nhưng thật ra nó chỉ yên ngủ, bởi có khi trong đống tro tàn nguội ngặm đó, vẫn có lúc tôi nhìn thấy lại hình ảnh của chính tôi giữa cái nắng với bụi đỏ mịt mờ, giữa những thiếu hụt triền miên, giữa những ngày mưa lầy lội, giữa những đêm đông sương mờ giăng giăng nơi triền núi, tiếng chim lạc bầy gọi nhau nghe ai oán đến đoạn trường.

    Không bao lâu sau đó, tôi liên lạc được với nhỏ bạn thân, con nhỏ còn may mắn hơn tôi là vẫn còn hồn nhiên cắp sách đến trường, con bạn an ủi và khuyên tôi nên vui với những gì đang có. Con bạn không biết và chắc không hình dung ra được cái đêm đầu tiên ngủ trong căn nhà mà gia đình tôi được cấp trên vùng kinh tế mới, chỉ là bốn cây cột trơ trụi và một mái tranh dột nát nằm giữa cánh đồng chỉ toàn cỏ tranh và đá tổ ong. Có gì đâu mà bạn bày đặt khuyên với nhủ?

    Tôi hoàn toàn không biết đời mình rồi sẽ trôi về đâu … con bạn chắc chắn không biết rằng, muốn có nước sạch để nấu cơm chị em tôi phải lội bộ hơn hai cây số đường núi để ra suối vì ngày ấy hoàn toàn không có một giếng nước nào nơi đây. Con bạn cũng không thể nào biết tôi rời Đà Nẵng, lên đây, để rồi cuộc đời phải làm bạn với những người thiểu số chưa thạo tiếng nói người Kinh nhưng rất thạo cách so đo công trạng bởi chính họ là những người đã góp công, góp sức, góp xương máu đem hòa bình trở về cho đất nước. So với dân tộc thiểu số, chúng tôi bỗng nhiên trở thành những kẻ đi giành giật đất đai của dân bản làng, vì thế mọi ưu tiên chỉ dành cho họ.

    Khai khẩn được một vùng đất mới, tưởng sẽ được bình yên lạc nghiệp? Không, bao nhiêu chủ trương của “quy hoạch” hay của chương trình xây dựng Khu Nông Trường cho tập thể đều để nhường lại cho những người anh em dân tộc thiểu số, chúng tôi phải đi vào vùng sâu hơn, cao hơn. Biết bao gian nan hiểm trở, bao nhọc nhằn và thiếu thốn nơi rừng thiêng nước độc dường như đã vượt quá sức chịu đựng, bên cạnh đó là những chèn ép của thành phần quan chức địa phương … có nhiều gia đình đã trốn về thành phố, buôn bán lặt vặt tạm bợ cho qua ngày đoạn tháng.


    Gia đình tôi thì chẳng còn nơi nào để bám ở thành phố nên cả nhà đành phải học khai hoang, học trồng trọt. Mồ hôi và nước mắt ướt đẩm những luống đậu, luống khoai mì. Rồi những vuông đất trồng café đầu tiên cũng được hình thành. Từ khi vùng này còn là một vùng rừng núi hoang sơ, hàng xóm hầu hết là dân tộc miền núi, tiếng Kinh mới bập bẹ, còn lại số ít là những người từ thành phố, thuộc thành phần thất cơ lở vận trôi dạt lên đây, số phận như nhau. Dần dà các khu công nghiệp, các nông trường cà phê hợp tác Việt Đức được ra đời, dân từ những vùng Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh cũng di dân vào. Người Kinh càng lúc càng đông hơn người bản xứ, họ trở lại là đám thiểu số nên càng có nhiều quyền lợi, ưu tiên hơn chúng tôi.

   Có những năm mưa thuận gió hòa, đời sống dần dần được cải tiến, chồng tôi vào làm bảo vệ cho khu nông trường Café. Khu đất gần đó được chia ra thành từng vuông để làm khu nhà ở cho gia đình công nhân nông trường. Những hàng chè tàu xanh mướt mới được trồng lên để làm hàng rào ngăn nhà nọ với nhà kia. Chúng tôi cuối cùng cũng có được một mảnh đất nhỏ để làm nhà, gọi là … “an cư” sau nhiều năm “lạc nghiệp” một cách bắt buộc với công việc trồng trọt chăn nuôi.

    Mỗi khi có dịp về Đà Nẵng, nhìn cảnh xô bồ của phố phường tôi đâm ra ngán ngẩm. Ở đây tuy buồn nhưng đôi khi tôi cũng cảm thấy tâm hồn thơ thới. Sáng sáng thức dậy, hít thở mùi hương hoa đồng nội, mùi cỏ cây dịu dàng, chiều về lắng nghe tiếng suối nước róc rách, tiếng lá cây xào xạc vọng về từ rừng già; nếu chợt quên đi những cơ cực đang vây bám gia đình một cách khó gở, có khi tâm hồn tôi cũng hòa mình với thiên nhiên một cách nhẹ nhàng. Tôi đã nhận ra cái đẹp đến mê mẩn của khu vườn café không phải từ những lợi nhuận mà nó mang cho đời sống cơm áo hàng ngày mà từ mùi hương của hoa tinh khiết nồng nàn, của trái café chin đỏ đầy cành, đẹp như những viên ngọc bích trong mắt tôi.

    Khi các con tôi đã lớn, chúng tôi cố gắng lo cho con ăn học, giấc mơ đời tôi không thực hiện nổi, tôi chắp cánh vào đời con mình. Đã bao mùa café được vươn chồi nấy lộc, bao mùa tiêu lá xanh lá vàng, bao mùa rẩy, bao mùa ruộng khô ruộng nước, bao công trình cải tiến kỹ thuật được hô hào dựng xây nơi này? Những tưởng đã qua rồi một thế hệ đời tôi phải ngậm ngải tìm trầm, qua rồi sự phân biệt về nguồn gốc gia đình để đưa đến một thế hệ mới, lớp con cháu tôi sẽ có được sự cảm thông của “thế giới đại đồng”…

Nhưng …

....Con tôi ra trường, thằng bé đang phơi phới với mảnh bằng Đại Học đành gục đầu trước thực tế chua xót … không có nhiệm sở để thực hiện hoài bảo. Giấc mơ tuy nhỏ bé của vợ chồng, con cái tôi vỡ tan tành khi lò mò tìm hiểu phải có mấy chục triệu đồng lót tay mới được về làm việc ở đây. Vùng khỉ ho cò gáy này là đất của dân tộc thiểu số nên công trình cống hiến cho vùng đất này chỉ ưu tiên dành riêng cho người thiểu số. Con tôi tuy sanh ra ở đây, giấy khai sinh ghi rõ sinh quán, trú quán là vùng đất núi non này, vậy mà thằng nhỏ đành ngậm ngùi như tôi năm xưa, trước những thực tế chua xót.

Người ta nói, đất đai của người miền núi, của bản làng, chúng tôi là dân thành phố kéo nhau lên đây khai khẩn là đã giành giật miếng cơm manh áo của họ nên bây giờ những công việc hành chính nhẹ nhàng cũng phải ưu tiên cho họ. Nếu muốn, chúng tôi phải mua lại những ưu đải ấy bằng tiền.

    Ngày xưa … dân miền núi sống thành bộ tộc hiền hòa chân chất lắm, họ không biết xài tiền. Mọi mua bán đổi chác chỉ bằng hiện vật, họ không tin tưởng vào tờ giấy in xanh, đỏ màu mè lại có giá trị lớn lao như thế, có thể mua đất bán nhà và cả mua quan bán chức. Có phải đó cũng là lỗi của chúng tôi, những người dân thành phố vì thất cơ lỡ vận an phận lên đây, mang theo bao thói hư tật xấu đã làm hư hao khung cảnh thiên nhiên và cả con người nơi rừng núi heo hút này?

Tôi cố gắng nhưng vẫn không nhớ được tác giả hai câu thơ:

“Mai bỏ phố phường đi xa lăng lắc
Anh cũng dần quên cổ tích đời mình”

    Xin hãy đọc những dòng tâm sự buồn vui này của tôi như là chuyện cổ tích, bởi tôi đã xa rồi, đã bỏ phố phường mà đi.

Xin hãy đọc, rồi … quên như tôi đã từng cố quên.

NDAT
Thân tặng bạn thân Thu Nguyệt

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
*Alfred D. Sulfridge, bác sỹ Trung Tá Không Lực Mỹ tại phi trường Trà Nóc, Cần Thơ. Hồi năm 1970 anh thường đến hợp tác làm việc với tôi tại bịnh viện Thủ Khoa Nghĩa, Cần thơ. Bác sĩ Sulfridge là người bạn của tôi về chuyên môn, phẫu thuật, mặc dầu anh ta nhỏ hơn tuổi 2 tuổi.
Ngoài sảnh cả một biển người loi nhoi dáo dác tìm người thân của mình, Dean D mũ lệch, kiếng đen bước đi khệnh khạng ra vẻ lắm, nhiều ánh mắt nhìn theo tỏ vẻ thèm thuồng pha lẫn ngưỡng mộ.
Hùng mơ màng, suy nghĩ. Đã nhiều lần anh chàng tự nhủ, ừ, tại sao lại không, tại sao lại không nghĩ nhỉ. Không có gì quý hơn độc lập tự do, thì tại sao lại không tận hưởng cái quyền độc lập và tự do không giới hạn này, nghĩ. Nghĩ thế, Hùng cứ một mình tiếp tục ung dung suy nghĩ, đố đứa nào báo cáo, chúng mày có giỏi thì kiểm thảo xem.
Trong suốt một thời gian dài, gần như những năm cuối trung học, gia đình tôi không có một kỳ nghỉ hè nào vui vẻ bên nhau. Tất cả đã chấm dứt từ cái mùa nghỉ hè năm lớp chín, khi bố tôi phải lòng cô thư ký của ông. Mà cô thư ký ấy lại chính là cô giáo cũ của tôi, người tôi rất quý mến.
Nhà văn Võ Hồng sinh ngày 2/12/1922 (khai sinh ghi 5/5/1921) tại làng Ngân Sơn, quận Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ông sớm mồ côi mẹ. Thuở nhở Võ Hồng ng học trường làng, trường phủ Tuy An, trường tỉnh Sông Cầu, rồi trường Collège Quy Nhơn. Năm 1939 khi đang học Đệ Tam, ông cùng bạn bè viết bích báo và ông chọn một trong số những truyện đó gửi cho báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy là tờ báo có nhiều độc giả nhất lúc đó tại Hà Nội.
Bầu trời cuối thu xanh thăm thẳm, cái màu xanh tưởng chừng như bầu trời thông đến tận cùng thế giới. Từng đám mây trắng bồng bềnh, lững lờ trôi, chúng thong dong tự bao đời đời nay giữa trời đất bao la, mặc cho lòng người khúc mắc, mặc cho thế sự điên đảo…
Vô cùng thương tiếc Trung Tá Phi Công Nguyễn Văn Triều
Anh bước vội vào trong toa xe điện. Một chút ăn năn vì anh về muộn. Anh lỡ quên, hôm nay ba mươi Tết! Anh tìm một chỗ ngồi kín đáo và cố thu người sao cho ấm. Anh vụt nhớ, bên nhà giờ này là mồng một Tết. Anh nhớ câu thơ ai viết:“ Đêm xuống bên ni, Ngày lên bên nớ”. Mắt anh đau đáu nhìn ra ngoài trời. Chicago tràn ngập tuyết.
Tuyết! Đấy là cái ám ảnh dai dẳng của tôi trong một thời gian rất dài. Nước tôi không có tuyết, và lẽ dĩ nhiên cũng không có nhiều món đặc trưng khác của Tây, của Tàu, của Châu Phi chẳng hạn, thế nhưng ước mơ của tôi được thấy tuyết tận mắt là tha thiết hơn cả.
Chúng tôi đinh ninh rằng chúng tôi là những người hồi cư sớm nhất, nhưng không phải. Về đến địa hạt Dương Xuân Thượng, chúng tôi biết rằng đã có nhiều gia đình về trước chúng tôi đến cả nửa tháng. Trên con đường núi đưa về chùa, cỏ mọc che cả lối đi. Chú Tâm Mãn đẫn đầu đoàn người hồi cư, có vẻ nóng nảy hơn hơn ai hết.
Nếu một ngày có hai mươi bốn giờ thì trong cơ thể em cũng nhốt đủ hai mươi bốn cái xương sườn. Một ngày kia, có thể gọi là giờ thứ hai mươi lăm, em gặp phải tai nạn làm gãy mất một cái xương sườn. Vào bệnh viện, chụp quang tuyến X và người ta ra tay giải phẫu, thò tay vào chỗ hóc hiểm để bắt tạm cho em một con vít bằng kim loại, hy vọng đôi ba tháng sau em thôi ca cẩm hát hò bản nhạc “chuyện một chiếc cầu đã gãy”.
Thằng bạn kể, khi nó vào thăm Má nó đang ở nursing home, má hỏi: "Mày vừa từ địa ngục về thăm tao đó hả?" Nó vừa dứt tiếng thì trời nổi gió gào, và tối om, và tôi với tên bạn lạc nhau.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.