Hôm nay,  

Nơi Ẩn Náu

11/06/202121:27:00(Xem: 4438)
 
Gã công nhân đùng đùng bỏ về. Trăm mảnh vụn của tờ giấy sa thải chấp chới bay như bươm bưóm. Những bánh xe cày xuống mặt đường. Cát bụi tung mù bãi đậu xe. Nửa tiếng sau gã trở lại. Tiếng súng nổ lốp bốp như bắp rang. Ba người chết. Nét sững sờ hằn trên khuôn mặt. Chủ hãng, người cai và một mẹ công nhân hay bới móc, chỉ chọc. Kẻ sát nhân thong thả lái xe lại đồn cảnh sát. Tôi mới giết tụi nó xong. Câu tự thú ngắn, gọn. Giọng nói gằn xuống hai chữ “tụi nó” như người ta gạch dưới những chữ quan trọng. Tôi giết cả ba đứa. Súng tôi còn để trong xe. Chìa khóa đây. Chiếc xe mầu đỏ.

Đó là chuyện thật. Khoảng năm sáu năm về trước. Ngay trong thành phố này. Báo chí tường thuật tỉ mỉ. Và hắn, anh chàng công nhân viên làm chung với tôi, viết lại từng chi tiết; thêm mắm thêm muối cho gay cấn gấp trăm ngàn lần chuyện thật rồi chuyền tay cho mọi người đọc chơi.

Ai cũng khen hắn viết hay. Dĩ nhiên là hay rồi. Bởi hắn là nhà văn. Có sách xuất bản đàng hoàng. Hắn ít nói. Cả con người hắn chỉ được nụ cười ngây ngô là đáng nhớ; nụ cười ngỡ như không vấy chút bụi trần. Hắn lịch sự với mọi người; ngay cả với tôi, kẻ ra vào văn phòng cả xếp nhỏ lẫn xếp lớn như người ta ra vào tùy tiện, thoải mái cái nhà vệ sinh ở cuối hành lang.

Cái tật lớn của hắn là viết bất kể lúc nào.

Có lần nghe hắn gõ bàn phím như con chim gõ mõ đóng những mỏ nhọn vào thân gỗ bọng, mụ chủ bước ra, tới đứng sau lưng hắn, nheo nheo con mắt Tiệp Khắc đã có nhiều nếp nhăn, bắt gặp đám mẫu tự La-Tinh có dấu có móc ngoằn ngoèo ở trên, bèn hỏi “Mày viết gì thế?”

Bị bắt quả tang, hắn đỏ mặt bối rối, rồi tuôn ra cái sự thật đầy gai góc. Từ góc phòng tôi vểnh tai lên nghe cho rõ. Được cái tiếng Anh của hắn cũng dễ nghe.

“Viết truyện.”

“Viết truyện?” Cái vạch lông mày lưa thưa nhướng lên.

“Mới tìm được nét tâm lý trung thực, phải viết liền, không thì nguội mất.”

Mụ chủ lặng lẽ bỏ đi.

Chiều hôm ấy mụ chủ nói với tôi là hắn xài giờ của hãng để làm chuyện riêng.

Tôi thì thầm với hắn chuyện ấy, thêm chút muối, chút mắm rằng tôi có thể nói giùm để mụ chủ thông cảm chuyện viết lách của hắn. Hắn cám ơn tôi và hào hứng nói thêm rằng một giây phút cảm hứng có thể ghi tên nhà văn vào danh sách vĩnh cửu. Rồi hắn lan man qua chuyện ông Gheorghiu nhà văn nào đó ở nước tôi. Hắn say mê nói về những anh nông dân Johan, những mục sư Kuruga, những nhân vật Traian… (không biết tôi viết tên có đúng không) vớ vẩn trong cuốn “Giờ Thứ Hai Mươi Lăm” nào đó mà tôi chưa bao giờ nghe nói đến chứ đừng bàn đến chuyện đã đọc hay chưa.

Nhìn hai con mắt rực rỡ tin yêu của hắn, tôi chỉ thấy tội nghiệp, nhưng hắn không hiểu. Hắn hăng hái bảo mỗi lần tạo ra một nhân vật, hắn phải cố sống trọn vẹn tâm trạng nhân vật ấy. Từ kẻ sát nhân, kẻ anh hùng, người thất nghiệp, gã ăn mày, ăn xin, tên sở khanh, người đứng vất vơ đầu đường xó chợ, kẻ trộm, kẻ cướp, tên hãm hiếp phụ nữ… Tất cả những tâm lý nhân vật ấy hắn đều đã tự đọa đày mình để trải qua, để sống thực, để viết cho “sống”.

Hắn khoe. Nhưng tôi không tin. Dẫu vậy, tôi cũng đem kể lại với chị cai, rồi vui miệng tâu lại với bà chủ. Tôi không ghét gì hắn ngoài cái lịch sự, cái trầm mặc Á Đông của hắn. Những thứ đó làm tôi ngứa mắt.

Nghe tôi kể xong, mụ chủ tắc lưỡi, “Tao không tin nó đủ tư cách sống trọn tâm trạng của nhân vật.”

“Sao không?” Tôi cãi. “Nó là nhà văn bên nước nó mà.”

“Văn chương của bọn thiểu số ư?”

Tôi không hiểu người đàn bà (cũng di dân như tôi) muốn nói gì trong cái câu hỏi trống không ấy. Tôi không hoàn toàn đồng ý với hai người đàn bà đứng đầu cái cơ quan phi lợi nhuận èo uột nhất nhì trong thành phố ấy, nhưng tôi cũng không mấy tin tưởng hắn có thể vượt nổi ra ngoài cái hàng rào ngôn ngữ thiểu số nghèo nàn của nước hắn.

Vậy mà mụ chủ quyết định đuổi hắn.

Lúc nghe cái quyết định đột ngột ấy, tôi vừa ngạc nhiên vừa hả dạ. Cũng tội nghiệp cho hắn. Làm nhà văn, viết bằng cái ngôn ngữ mà số người muốn đọc không đếm được quá mười đầu ngón tay.


À, hắn còn làm thơ nữa. Nghe đâu thơ hắn ngọt ngào mê đắm.

Chính mắt tôi thấy những cô gái nhỏ nhắn, dễ thương đến tận văn phòng tìm hắn. Với tôi, người thiếu phụ Đông Âu ở lứa tuổi xồn xồn đang nỗ lực ngăn cản sự phát triển bề ngang thì tất cả những người đàn bà Á Châu, nhất là Việt Nam đều nhỏ nhắn, duyên dáng, dễ thương (chính miệng hắn cũng đã từng nói với tôi như thế.)

Có lúc hắn giải thích, đó là khách, có lúc hắn nheo mắt bảo, “Độc giả ái mộ!”

Tôi ghét những cô gái cầm cuốn sách lại cho hắn ký tên.

Và bây giờ thì tôi hả dạ biết bao, bởi hắn bị sa thải khỏi công ty rồi. Đáng đời thằng đàn ông ở cái xứ chèn ép phụ nữ cả ngàn năm ấy! Tôi nhớ có lần, viết xong một đoạn – ngay trong giờ ăn trưa của công sở – hai con mắt hắn đỏ hoe. Tôi hỏi, hắn hăng hái trả lời rằng nhân vật làm hắn khóc. Vì thương nhân vật chính trong truyện ngắn đang viết mà hắn không cầm được nước mắt. Rồi hắn bảo khóc được như vậy là mừng, bởi nhân vật phải gợi được cảm xúc như thế mới sống thực.

“Nhân vật bị gì mà bạn cảm động đến như vậy?” Tôi tò mỏ hỏi.

“Nhân vật bị mất việc làm.” Hắn xôn xao, “trong lúc vợ con đau ốm và cha mẹ ở quê nhà đang cần sự giúp đỡ.”

“Bạn yêu văn chương đến vậy sao?” Tôi đăm đăm nhìn hắn như nhìn một sinh vật đi lạc vào trái đất từ một hành tinh nào đó.

“Chứ sao.” Hắn chậm rãi trả lời, hai con mắt rõi vào khoảng không trước mặt. “Người ta vẫn bảo nước tôi có bốn ngàn năm văn hiến, bà biết mà!”

Vậy mà hắn lại bị đuổi việc giữa lúc bất ngờ nhất. Mấy ngàn năm văn hiến cũng không cứu hắn khỏi những ngày khốn khó trước mắt.

Buổi sáng, giờ nghỉ giải lao, tôi tần ngần nhìn hắn soạn hộc tủ. Hắn làm tôi liên tưởng đến những con gà bơi đống rác nơi những nông trại miền quê. Giấy tờ, hồ sơ, lẫn với những mảnh giấy nhỏ chi chít những chữ (chắc bản thảo của hắn chứ gì!) Hắn chần chừ đọc mảnh giấy này, tẩn mẩn vuốt lại miếng giấy kia. Rồi bỗng dưng hắn lôi từ đống giấy ra một tờ giấy, đứng bật dậy, nhìn chăm chăm vào những con chữ ngoằn ngoèo, rồi quay lại, dúi mảnh giấy vào tay tôi.

“Đọc lại đi!” Hắn ra lệnh, cộc lốc.

Tôi nhận ra ngay. Tấm giấy sáu bẩy năm về trước hắn viết lại câu chuyện thật về vụ sát nhân trong hãng làm bao tay cao su, nơi có gã công nhân bị đối xử bất công.

“Đọc kỹ đi!” hắn lập lại trước khi tiếp tục chúi đầu vào đống giấy vụn.

Hắn làm tôi nhói tim. Bước đi không tiện mà ở lại cũng không xong.

Trong một cử chỉ ngắn gọn, hắn tuồn hết giấy tờ vào cái bọc rác đen, buộc túm lại, đẩy cửa sau, lầm lũi bước đi.

Nắng vạch bóng hắn đổ dài trên nền đất nâu.

Tôi chạy biến vào phòng hai mụ xếp.

Gần cả tháng trời sau đó, mụ chủ, mụ cai, (và tôi nữa, Trời đất ạ!) bị cái hốc hác bào mòn hai gò má và nỗi lo âu tô đậm cái quầng thâm dưới hai con mắt.

Hãng tốn bộn tiền mướn thêm nhân viên an ninh.

Nhưng chả có chuyện gì xảy ra.

Vài tháng sau, tình cờ gặp hắn trong thư viện. Nói nào ngay, thỉnh thoảng tôi cũng vào thư viện (không phải để tìm sách của cái ông Gheorghiu nào đó), mượn cuốn phim về xem giết thì giờ! Sau khi chào hỏi qua loa, tôi đã kể cho hắn nghe mọi chuyện từ cái hôm hắn ôm cái bọc giấy bỏ hãng ra về.

“Cứ tưởng hôm ấy bạn xách súng lại hãng chứ!” Tôi xuống giọng nói khích bằng âm thanh ngậm ngùi.

Hắn cười, với chút ngạo mạn nhếch lên trên khóe môi.

“Bạn không giận khi bị đối xử bất công sao?” Tôi lại hỏi.

Hắn thản nhiên nhìn vào khoảng không, “Tôi đã buồn mỗi lần nhân vật của tôi bị ngược đãi hay gặp chuyện không vui, thành ra đến phiên tôi, lòng tôi chả còn chút cảm xúc nào để phẫn nộ…”

Bây giờ thì tôi tin là hắn sống chết với nhân vật trong truyện của hắn, và dù không đọc được những gì hắn viết, tôi cũng tin hắn tạo được những nhân vật đậm nét trong cõi văn chương hắn, và thành thật mà nói, cho đến bây giờ tôi mới thấy được cái yếu đuối của những kẻ dùng văn chương làm nơi ẩn náu. 
 
Trong tập “Một Đoạn Trong Thánh Kinh”
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Gái muộn chồng thì thậm khổ/ Trai muộn vợ cũng thậm khổ/ Mây trên trời thì kéo xuống/ Gió ngoài biển thì thổi vô...
Đại Quan họ Đỗ, quê cha đất tổ ở Huyện Nho Quan, Tỉnh Ninh Bình, một vùng núi non hùng vĩ, sơn thủy hữu tình nhưng nghèo. Ninh Bình là vùng đất hẹp, người đông cho nên đất đai quý hơn vàng. Tổ tiên bao đời sống bằng nghề nông, đổ mồ hôi nước mắt trên vài mẫu ruộng, sống chết với ruộng đồng nhưng cuộc đời vẫn không khá.
Gần 2 thập niên quen biết, học hỏi và làm việc cùng Thầy. Mới thấy sự tận tụy, miệt mài của Thầy, nhất là những khi dịch kinh điển. Tuổi cao mắt mờ và không rành máy tính, Thầy viết bằng tay, dò từ chữ với kính rọi phóng đại. Rồi nhờ người đánh máy, rồi Thầy dò lại, v.v… Nghiệp làm sách, trong đó có những tập kinh của Thầy dịch, có lần Thầy gởi tiền lì xì tặng "người thiết kế sách" và nhắc anh chàng tội nghiệp, bảo rằng "dẫu có hư, nhưng không hỏng", hãy thương yêu đùm bọc nhau và làm việc cho Phật giáo. Thầy là một số ít vị Tăng lữ xem việc ấn bản những kinh kệ, sách vở văn hoá Phật giáo là quan trọng và thường khuyến tấn. Thầy, một con người khiêm cung, hiền hoà và mẫu mực.
Alphonse Daudet (13/5/1840 - 16/12/1897) là một nhà văn Pháp và là tác giả của nhiều tập truyện ngắn nổi tiếng. Ông sinh ra ở Nîmes (thuộc miền Nam nước Pháp). Ông bắt đầu viết văn từ năm 14 tuổi, đến năm 18 tuổi Alphonse ra thi tập "Những Người Đàn Bà Đang Yêu" (Les Amoureuses, 1858) và được đón nhận ngay. Độc giả Pháp đặc biệt yêu mến ông qua các tiểu thuyết "Thằng Nhóc Con" (Le Petit Chose), gần như là thiên hồi ký của thời niên thiếu đau khổ của chính mình mà đôi khi cũng được ví với nhân vật trong tác phẩm "David Copperfield" của đại văn hào Charles Dickens của Anh. Những năm sau ông viết nhiều tiểu thuyết cũng thành công không kém, qua các đề tài xã hội của một nước Pháp dân chủ thay thế cho chế độ quân chủ. Cho đến cuối đời, Daudet dao động từ niềm vui thẳng thắn (Nhân vật huyền thoại Tartarin de Tarascon) đến sự mỉa mai như quất mạnh (Numa Roumestan), hoặc nỗi u sầu bệnh hoạn nhất.
Đôi tay, cánh tay, thân mình của anh bê bết máu, Anh đã men theo hàng rào kẽm gai suốt mười cây số mà không thể luồn bên dưới rào được. Anh cũng không hề thấy một nơi nào có kẽ hở để lách qua. Nhưng mà ở ngay phía bên kia, chỉ cách chừng năm mươi phân thôi, ở bên trên những vòng dây có gai nhọn hoắt làm rách toạc mọi thứ, một thế giới khác sẽ hiện ra, nơi đó nhà cửa không đổ sụp xuống, nơi đó đàn bà, trẻ con không lẩn trốn như thú vật, và đàn ông thì không còn sợ hãi, không còn chịu cảnh đói rách lạnh rét nữa.
Thế mà giờ đây, tôi mất đi khứu giác và vị giác, nghĩa là tôi chẳng ngửi được mùi hương của hoa, của ly cà phê, của người đẹp sức nước hoa Baccarat đắt tiền bước ngang qua; tôi cũng chẳng nếm được thức ăn ngon, mất đi cái sung sướng thưởng thức món sơn hào hải vị trong nhà hàng. -- Tùy bút của một nạn nhân Covid-19. Việt Báo trân trọng mời đọc.
Đã hẳn thân phận con người quả là nhục nhã khi chỉ có thể im câm thúc thủ trước mọi sự định đoạt, nhào nặn của Định Mạng và Ngẫu Nhiên, nhưng nếu được những thế lực vô tâm này xếp bày cho trúng số thì cũng không tệ lắm. Hỡi ông lão bán vé số, hởi anh phu hốt rác, đừng chết, đừng tuyệt vọng trước giờ xổ số!
Tôi bước ra cửa, vì biết không giành nổi với mấy bà đang chết mê chết mệt thằng bé con và thầm mỉm cười. Mới hôm kia, bà nào cũng hăng máu đả đảo hải tặc rất quyết liệt, tưởng như không có gì cản nổi, mà bữa nay ôm cưng thằng… con hải tặc quên trời đất, mà câu nào cũng có chữ “cha mày, cha mày” thiệt là âu yếm, đáng yêu làm sao!
Vào ngày 22 tháng 7 năm 2011, cánh hữu cực đoan Anders Breivik đã đặt một quả bom ở thủ đô Oslo, giết chết tám người, trước khi tiến đến hòn đảo Utoya nhỏ bé, nơi hắn rình rập và bắn chết 69 người, phần lớn là thành viên thiếu niên thuộc cánh thanh niên của Đảng Lao động.
Bây giờ cô Laura mới hiểu ra một điều đơn giản mà sung sướng hạnh phúc cho cả đôi bên, thà mỗi tháng cô gởi 200 đô về Việt Nam nuôi má là xong bổn phận báo hiếu lại còn được tiếng giúp đỡ gia đình anh trai vì họ ăn ké vào những đồng tiền đó và thỉnh thoảng cô gởi riêng cho nhà anh Hiền chút tiền họ mừng vui và mang ơn cô biết bao nhiêu.
Chỉ đơn giản có thế. Và họ đi cùng chuyến. Ghe không lớn lắm. Sáu mươi mấy người chen chúc nhau dưới hầm. Tiếng máy khậm khoạc inh tai. Được một ngày một đêm thì máy nóng, tỏa khói mịt mù. Bầy người giúi đầu vào nhau, tay quạt liên hồi, miệng nhào nháo những cơn ho. Tài công tắt máy, chờ cho nguội bớt. Gặp cơn bão nhiệt đới. Sóng cao như những ngọn đồi. Chiếc ghe lắc đám dân vượt biên chồng chất trong khoang như lắc những con xúc sắc trong lòng đĩa. Cơn bão lắng dần, người nằm vùi cả lên nhau. Người con gái co quắp một xó. Người thanh niên co ro một xó khác, lẫn lộn giữa những thân người xa lạ. Ướt át, nhớp nhúa, hôi hám nồng nặc. Tàn cơn bão, biển lặng, sóng êm. Dưới ánh sáng lờ mờ của hầm tàu, người thanh niên nhìn quanh, toàn những khuôn mặt lạ. Cô gái tỉnh dậy, tròn mắt nhìn người đàn ông không quen mà cô đang nằm úp trên ngực anh ta. Cô luống cuống chống tay ngồi dậy. Chân tay nhơm nhớp chất bài tiết. Nhìn quanh. Toàn những người lạ. Mãi, hai người mới nhìn thấy nhau.
Đoản thiên của một nhà văn Pháp Mone Dompnier, do Thái Lan chuyển ngữ. Lần đầu đến với Việt Báo, xin trân trọng iới thiệu.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.