Hôm nay,  

Đêm, Người Ở Lại

27/08/202115:44:00(Xem: 4198)

 


blank


Bà Tám Niệm chết hai ngày rồi, nhà chưa lo được đủ bộ ván hòm. Thằng con Út ở nông trường về chiều hôm qua đã không biết làm gì để tiếp giúp mọi người, chỉ ngồi đầu giường mà khóc. Đầu hôm, có người này người nọ, đi ra đi vô cũng đỡ trống lạnh. Khuya lại, âm u thấy mà ghê.

Nhà ngoài còn hai người, ông Xã Miễng và thằng Cu Ngọng ngồi đánh cờ tướng. Cái chái lợp bằng tàu dừa, không có vách vừng, gió thổi u u mà bốn năm đứa nhỏ nằm trên bàn ngủ ngon lành. 

Trong này nhìn ra, thằng Út rùng mình. 

Hồi chiều, anh Tư đạp xe từ trại cưa về cho hay ngày mai hy vọng có được thêm một vách và cái nắp hòm thành ra theo như lời ông Xã Miễng, anh em tụi nó rán để tới ngày mai. 

Thiệt tình mà nói, thằng Út có muốn tiếp tay với mọi người cũng không biết phải tiếp cái gì. Nhang đèn khỏi phải đốt vì chỉ có hai cặp đèn cầy để dành cho lúc liệm, lúc nhập quan, lúc thành phục, rồi cáo thần, phát dẫn… Nhang thì còn một bó nhỏ xíu, dành cho bà con tới lễ phúng điếu, động quan, hạ huyệt… 

Trời tối om, lại có gió lớn. Thằng Út tủi thân khóc tiếp tục. Tiếng khóc của nó lúc này chỉ còn nghe như tiếng hậm hực của một con chó lúc đánh hơi có người lạ. Thiệt ra nó khóc hết ra tiếng rồi. Chiều hôm qua, nó kể lể liền miệng tới nửa đêm, sáng ra thì khàn khàn cần cổ, người ta hỏi, nó gật đầu, nó lắc đầu. 

Ông Xã Miễng không nghe tiếng nó khóc, nhưng nghe được tiếng nó hịt mũi, bèn gõ gõ mấy con cờ lên bàn, quay vô lớn tiếng:

“Cái thằng này! Út à, ra đây mà chơi, làm cái giống gì mà rúc rúc ở trong đó, rồi khóc thút thít hoài. Ra đây.” 

Thằng Út bên trong chợt thôi hị mũi nhưng không thấy động tịch gì hết. Cu Ngọng phụ lời ông Xã Miễng:

“Ga ây quoánh cờ, Út ơi!” 

Rồi nó nói nhỏ hơn, như nói với Xã Miễng: 

“Ai cũng chết, chết hì hôi, buồn dàm gì cho mệt.” 

“Ừ, buồn làm chó gì, chết thì thôi,” ông Xã Miễng tiếp lời nó. “Để tao vô lôi nó ra đây.”

Vừa nói, ông vừa ngay giò đẩy ghế về đàng sau, chống tay xuống bàn gượng đứng dậy. Mấy đứa nhỏ đang ngủ, nghe tiếng nói lớn lúc nãy, có đứa giật mình lăn trở. Một đứa ngóc đầu dậy hỏi lè nhè:

“Ba tui dìa chưa ông Xã?”

Thằng Cu Ngọng nói liền:

“Chưa âu! Ngủ i!”

Thằng nhỏ im lặng nằm trở lại. Trong kia, ông Xã Miễng một tay vịn cửa buồng, một tay bưng cây đèn dầu, khom người nhìn vô. Thằng Út nằm quay lưng ra, một chân nó duỗi thẳng, thọc dưới gầm giường. “Trời lạnh quá mà thằng này ở trần.”

Ông Xã Miễng lại lên giọng:

“Mầy không ra coi đánh cờ, ở đó mà nằm dật nằm dựa, muỗi nó cắn mày chết… Út!”

Ông nói xong thì bước luôn vô buồng. Thằng Út quay ra, nó nói ú ớ trong miệng không ra tiếng, rồi vịn thành giường ngồi dậy. 

“Chà chà, bắt đầu có mùi rồi nghe. Điệu này thì ngày mai nhứt định là phải tính cho xong, không thể để cù cưa cù nhằng như vầy được, nghe Út.”

Thằng Út vẫn lầm lì. Nó lầm lì chống tay xuống đầu gối đứng dậy, lầm lì kéo góc cái mền cho thẳng mấy lằn nhăn trên thây ma má nó, rồi lầm lì đi ra cửa, bỏ mặc Xã Miễng một mình đứng đó.

Ngoài này, thằng Cu Ngọng cầm cái ca mủ vừa gõ nhịp xuống bàn tay vừa hát ư ử trong miệng. 

Đi ngang cửa buồng, ngang thằng Út, nó đứng lại một chút, nói nhỏ:

“Cao i múc ngước, ngấu ngước chà.”

Thằng Út ngó sững Cu Ngọng một cái rồi quay đi. “Mầy đi múc nước thì tao đi lấy trà rồi ra chụm lửa…” Nó nghĩ, ”khóc hoài chỉ mệt thêm thôi.” Ông Xã Miễng bưng đèn trở ra, ngồi lại bàn cờ, hai tay chống cằm suy nghĩ nước đi. Được một chút, ông lại đứng dậy, lần về phía tấm đệm bên vách, trên đó đã để sẵn lổn ngổn các thứ đồ tẩm liệm.

Cái “dải lụa” dùng để buộc tóc được thay thế bằng cái khăn rằn xé dọc làm đôi. Hai cái khăn vải trắng cũng lại là hai mảnh của cái bao bồng bột cắt đôi, một dùng để tắm, một dùng để lau mặt xác chết, rồi cái lược thưa, cái chậu nước, một cái gáo dừa múc nước, một cái nồi dùng nấu nước lá sả, một cái kéo cắt móng tay móng chân… Tất cả đã sẵn sàng, chờ xong bộ ván hòm thì liệm. 

“Trong khoảng giờ Tỵ ngày mai mà không xong thì thiệt tình không biết tính làm sao.” Ông Xã Miễng chỉ lo một điều là nội trong hai ba tiếng đồng hồ buổi sáng “thằng Tư” không đem về kịp tấm vách với cái nắp hòm rồi công chuyện kéo dài ra, qua khỏi giờ Tỵ là khó lòng lắm. “Tẩm liệm, động quan này nọ thì cũng phải có giờ có giấc, chớ đâu phải muốn làm là làm.” 

Ông ngồi chồm hổm nắn nót cây lược thưa, im lặng. Thằng Út lúc này đã châm ngọn lửa. Ánh sáng lung linh, chập chờn ngã qua ngã lại làm nó chợt thấy đêm nay gió nhiều quá, rồi nó cảm thấy lạnh. Nó ngồi bẹp xuống đất, đưa mũi quẹt vô đầu gối xong để yên cái đầu ở đó, nhìn vào ngọn lửa. 

Đêm khuya, ai cũng im lặng. Nó thấy buồn quá chừng. Má nó chết, làm như ai cũng biết trước cả tuần lễ, vậy mà anh Tư nó chạy đôn chạy đáo vẫn chưa lo đủ bộ ván hòm. Làm cho trại cưa nhà nước năm sáu năm nay, tới lúc bà già chết, không được một chút thông cảm. Cả ngày nay, ngồi khóc chớ nó chờ, chờ anh Tư về cho biết công chuyện chạy lo cho đủ bộ ván đi tới đâu. Rồi đêm nay nó chờ, chờ anh Tư đội sương đội gió chống bè lên tuốt trên ngọn, bẻ mấy lóng cây về để có mà cưa, “may ra mấy ổng cho mấy tấm giác da về đẽo gọt lại, xài được.”

Thằng Cu Ngọng bắc lên bếp cái ấm nước rồi ngồi xuống cạnh thằng Út, một tay choàng qua vai bạn, nói nhỏ: 

“Mày hổng dạnh sao?”

“Ừ, lạnh!” Giọng thằng Út khàn khàn.

“Bận áo dô i.”

Thằng Út lắc đầu.

“Cao dấy áo cho mầy nghe!”

Thằng Út lắc đầu.

“Mà mầy dạnh hông?”

Thằng Út gật đầu. Cu Ngọng cụt hứng. Cái thứ “điếc hay ngóng, ngọng hay nói” mà gặp một thằng cỡ thằng Út này cũng đành chịu thua. Cu Ngọng nhìn nó một chút rồi đứng dậy, lầm bầm:

“Ngó buồn dắm, cội nghiệp!”

Cu Ngọng định rủ ông Xã Miễng trở lại bàn cờ thì anh Tư thằng Út về. Ngó bộ đồ là biết ướt mới vừa ráo. Không ai thắc mắc gì hết vì biết rằng anh lội nước từ đầu hôm tới giờ, bè cây về.

Ông Xã Miễng ngồi bật dậy ngay:

“Sao mầy Tư? Xong không?”

Anh Tư lần tay mở nút áo ngực, buông gọn:

“Chưa chắc!”

“Sao?”

Thằng Út, thằng Cu Ngọng cũng đã đứng cạnh ông Xã từ lúc nào. Cả hai đều há hốc miệng ngó châm bẩm vô mặt anh Tư.

Ông Xã hỏi nữa:

“Sao? Sao?”

Anh Tư chợt xẵng giọng:

“Hứ, mệt muốn chết mà còn bực mình. Chiếc xe đạp chó đẻ cứ tuột dây sên liền liền, tui giận tui hất ngoài đầu đường rồi.”

“Tao hỏi mầy mấy tấm ván thì làm sao?” Ông Xã gằn từng tiếng.

Anh Tư cởi hẳn áo ra, quăng lên bàn:

“Tùm lum chuyện, không chắc chắn được. Mấy lóng cây sao, thì mình ên tui bè không nổi, dài lắm. Còn cây dầu thì nhiều lóng tốt mắc kẹt hết, mấy lóng ngoài, bể, nứt thấy mà ghê, cũng phải bè về. Rồi phải thôi đâu, về tới trại, mới hay mấy cha nội tui, xả mấy lóng thị, đứt một hơi hai lưỡi cưa, còn có lưỡi cuối cùng, phải xả tiếp. Mẹ nó, phải đủ ván chở về tỉnh, hết lưỡi cưa cũng phải chờ đi tỉnh chở về, không biết tới chừng nào.”



Anh Tư nói xong thì uể oải ngồi xuống ghế, vò cả hai tay lên cái đầu sói gần hết tóc, hực hực cần cổ như cố nén xúc động. Hai thằng, thằng Út, thằng Cu Ngọng vẫn đứng im. Ông Xã Miễng chấp chấp miệng rồi cố nói gượng: 

“Biết đâu được, biết đâu được mầy! Biết đâu phước đức ông bà mầy khiến tụi nó cưa tới sáng cũng không đứt lưỡi cưa rồi sáng tụi nó cưa lóng dầu là khỏe cho mình.”

Thấy anh Tư trầm ngâm, ông Xã ngồi xuống ghế bên cạnh, tiếp lời:

“Mà mày có chắc là thằng cha Bảy Mương gì đó, thằng cha thủ trưởng gì đó hứa là sáng sẽ cho cưa mấy lóng cây mầy bè về không?”

“Chả chỉ nói là làm xong ba lóng thị trên đường rầy, thì làm. Tui biết nếu không có gì trục trặc thì đêm nay xong tuốt.”

“Nếu không có cái gì trục trặc,” anh Tư nói mấy tiếng đó mà thót trong ruột. Ơn huệ, cảm tình của anh với thằng cha thủ trưởng trại cưa qua một lời hứa, lời hứa mà thiệt tình, bà già chết anh mới cắn răng tin tưởng.

Có một điều anh chưa nói ra, mà chắc có lẽ anh sẽ không bao giờ nói ra: Lâu nay, trong thâm tâm chính anh và các bạn làm công cho trại, ai cũng mong cho luôn luôn có một cái gì đó trục trặc, để được nghỉ làm. Bởi vì, làm cật lực cũng không đủ ăn, mà không làm không được. Nghỉ làm, có khi còn khá hơn, về nhà quơ quào cách khác, hợp lý, hợp pháp chớ đương không mà nghỉ ngang, ai dám. Thành ra, có nhu cầu của tỉnh đòi hỏi, toàn trại phải làm đêm thì chuyện máy kéo, máy cưa hư hoặc lưỡi cưa lần lượt đứt hết là chuyện thường.

Anh Tư rùng mình suy nghĩ ”Mình vô phước, bà già chết nhằm cái lúc này mà không dám hở môi. Có ai dám nói với ai về cái ý nghĩ nguy hiểm đó. Lâu nay, tình trạng trong trại thì ràng ràng như vậy mà thiệt tình, mỗi người đều làm theo ý nghĩ của mình, giữ cho khéo, cho kín.”

Anh lại vò mạnh cái đầu sói. Thằng Út ứa nước mắt, kéo ghế ngồi cạnh anh rồi lại hịt hịt. Ông Xã Miễng muốn đánh tan những phút buồn thảm đó, nói lớn:

“Được, chắc được mà, rán mà tin đi. Không lẽ mầy vô phước quá vậy sao!”

Anh Tư mím môi:

“Biết đâu được, chú!”

Anh quay nhìn về góc nhà, nơi để những đồ tẩm liệm, tặc lưỡi:

“Thiệt! Tốn biết bao nhiêu mới chia được một ít thủy ngân đổ miệng cho bà già, để tới bây giờ, hết hơi hết thuốc gì rồi… Chú coi đó, sả nó héo queo.”

Câu nói, nói đúng ngay mối lo của ông Xã Miễng. Ông vì cảm tình lối xóm, rồi vì cái lòng tin của anh Tư, muốn tận lực giúp đỡ cho đám tang bà Tám Niệm đàng hoàng tươm tất mà thiệt tình trong hoàn cảnh này, ông chịu thua.

“Mầy nhớ nghe Tư, ngày mai, phải xong trước Ngọ, đừng để trễ. Thiệt tao cũng rầu muốn chết.”

Rồi nhà lại rơi vào im lặng tịch mịch, tiếng côn trùng được lúc, xoáy tuốt vô óc con người ta.

Thằng Cu Ngọng châm xong bình trà rồi. Nó xách lại bàn, tay kia cầm theo cái ca mủ:

“Ngước chà, ngước chà ngóng nghe. Ai uống hì uống.”

Nó đặt bình trà lên bàn rồi lật vạt áo thọc vô ca, lòn mấy ngón tay, xoay qua xoay lại, đưa lên miệng thổi mấy cái. Ý chừng cho là sạch rồi, nó đặt xuống trước mặt anh Tư:

“Uống chà i chú Cư.”

Anh Tư liếc nhẹ về phía cái ca, rồi nói với ông Xã:

“Không chừng tui hạ cái lưỡng diện xuống, lấy mấy tấm ván đó làm cho đủ bộ áo quan luôn à chú.”

Ông Xã Miễng trợn mắt một lúc, chợt hớt hải: 

“Ý, đâu được mầy! Chấp quan mà phải phá nhà, ai cho mầy làm chuyện đó. Mà mầy coi, bề cao cái lưỡng diện có là bao nhiêu, không lẽ mầy nối ván.”

“Phá nhà thì phá chứ chú. Mình cạy đi tấm lưỡng diện thì có chút đỉnh, ăn nhằm gì.”

“Mà tao nói có cụt.”

“Tui cắt mấy tấm kia hết, tui cắt ba tấm kia hết.”

Anh Tư cố nói. Thật ra, đầu óc anh ù lì, chai cứng hết rồi. Ông Xã Miễng lắc đầu chầm chậm:

“Không được, không được! Mầy biết đó, ông bà còn nói mà, giường bốn thước hai, quan tài bốn thước bảy. Ai đời mầy liệm bà già mầy nằm còng queo, mày làm ăn sao nông nổi được…”

Anh Tư nín khe.

Ông Xã cảm thấy như mình lầm lỗi, cũng nín khe. Một lúc ông nói nhỏ:

“Sáng, không lo nổi, mầy trở về liền. Tháo tấm lưỡng diện thì dễ ợt, còn cái chuyện phải nối ván là phải chịu vậy rồi. Chưa bao giờ trong đời tao nghe nói tới chuyện làm áo quan mà nối ván, cũng chưa nghe nói làm như vậy là không nên. Thì thôi, mình miễn cưỡng làm cho qua buổi đi. Để kéo dài hoài, mầy mang tội chớ không phải chơi đâu. Còn nếu muốn xứng xái mà cũng đủ lễ đủ nghĩa thì liệm bằng chiếu, chôn bằng chiếu.”

“Bằng chiếu?”

“Ừ, bằng chiếu chứ sao. Ở nhiều vùng, con người ta đói khổ quá, chết thì bó bằng chiếu. Chôn bằng chiếu thì có lễ của cách chôn chiếu, còn chôn hòm thì có lễ của cách chôn hòm, đủ lễ đủ nghĩa chớ chơi đâu. Mầy có biết cái bài thơ gì của ông Nguyễn Khuyến, như là trối lại cho con cháu đó, ‘Đồ khâm liệm chớ hề xấu tốt, kín chân tay đầu gót thì thôi.’ Người ta một đời phú quí còn không câu nệ nữa, huống chi cái thứ mạt rệp như mình.” 

Anh Tư thở dài từng chập, theo từng câu của ông Xã. “Thiệt cái thời buổi này, chết rồi cũng còn khổ!” Anh không cần biết cái ý kiến của ông Nguyễn Khuyến gì đó hay ho lắm không, chớ thiệt tình, bà già chết mà không lo được tới nơi tới chốn thì sống làm sao cho khá. Anh lúc lắc cái đầu:

“Thì cũng rán chờ tới mai. Mọi thứ tui nhờ chú giúp cho. Thiệt tui muốn chết đứng rồi.”

“Để đó tao. Mầy có lo cho lắm cũng không qua được thời thế đâu. Hồi trước nó khác, bây giờ nó khác.”

Rồi ông tự tay rót trà ra ca, lòng nhẹ nhõm. Anh Tư cũng đứng dậy, mặt bình thản. Anh đi về phía mấy đứa nhỏ, nhón gót coi kỹ từng đứa. Tụi nó chắc lạnh, đứa nào cũng co quắp lại, hai tay thọc vào đùi mặt mày xanh xao quá. 

Thằng Út không biết đi đâu mất, có lẽ nó trở vô buồng không chừng. Anh Tư đưa tay sửa cái đầu thằng con lớn cho ngay rồi lững thững bước ra ngõ.

Anh không nói nhưng ông Xã biết, anh đi dắt chiếc xe đạp về. Thằng Cu Ngọng hình như cảm thấy lạc lõng, nó bô bô cái miệng:

“Cới phiên ông Xã i ó. Ông Xã! Cui em con quáo xuống bắt xe, bắt ngựa. Cới ông Xã.” 

Ông Xã Miễng chậc lưỡi đứng dậy chầm chậm đi về phía bàn cờ, ông muốn đổ quạu với thằng Ngọng này quá. Nãy giờ lo chuyện này chuyện kia chứ thiệt tình trong bụng ông tính nát nước cũng không gỡ được cú bắt này, đành mất con ngựa lại còn thất thêm một nước. “Nãy giờ lu bu như vậy mà thằng Ngọng không quên, tổ cha nó.” Ông nói lấp lửng:

“Gần sáng rồi! Chắc tao đánh ít nước nữa với mầy cho vui, rồi xù, đi ngủ. Sáng còn nhiều chuyện phải làm nữa, mầy à.”

Ông Xã Miễng quay qua, rồi quay lại rồi với tay lấy cái ca, cái bình trà, rót nước. Ông ngồi thẳng lưng hít mạnh, mặt ngước cao, rõ ràng là muốn rặn ra một cái ngáp. Thằng Cu Ngọng lúc đó cúi đầu xuống bàn cờ, không thấy.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vốn là một quân nhân, sau khi triệt thoái từ miền Trung về Saigon, tôi được bổ xung cho một đơn vị pháo binh đang hành quân ở vùng Củ Chi, Tỉnh Tây Ninh, yểm trợ sư đoàn 25 Bộ BinhB. Khoảng ba tuần trước khi mất nước tôi bị thương ở chân. Nằm trong quân y viện Tây Ninh vài ngày, bác sĩ cho về nhà dưỡng thương một tháng ở Saigon.
Ngày xưa, thông thường, chồng của cô giáo được gọi là thầy, cũng như vợ của thầy giáo được gọi là cô. Cho dù người chồng hoặc vợ không làm việc trong ngành giáo dục. Nhưng trường hợp cô giáo tôi, cô Đỗ Thị Nghiên, trường Nữ Tiểu Học Quảng Ngãi thì khác. Chồng của cô, thầy Nguyễn Cao Can, là giáo sư dạy trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi. Cô Đỗ Thị Nghiên dạy lớp Bốn, trường Nữ Tiểu Học. Trong mắt nhìn của tôi, của con bé mười tuổi thuở ấy, cô Nghiên là một cô giáo rất đặc biệt. Cô nói giọng bắc, giọng nói trầm bổng, du dương. Tóc cô ngắn, ôm tròn khuôn mặt. Da cô trắng nõn nà. Có lần ngoài giờ học, trên đường phố của thị xã Quảng Ngãi, tôi thấy hai vợ chồng thầy Can, cô Nghiên đèo nhau trên xe gắn máy. Cô mặc jupe, mang kính mát, ngồi một bên, tréo chân, khép nép dựa vai thầy. Ấn tượng để lại trong trí của con bé tiểu học là hình ảnh của đôi vợ chồng sang trọng, thanh lịch, tân thời, cùng mang thiên chức cao cả: dạy dỗ lũ trẻ con nên người.
Tháng Tư này tròn 50 năm biến cố tang thương của miền Nam Việt Nam, những người Việt hải ngoại, đời họ và thế hệ con cháu đã trưởng thành và thành công trên xứ người về mọi mặt học vấn cũng như công ăn việc làm. Họ đang hưởng đời sống ấm no tự do hạnh phúc đúng nghĩa không cần ai phải tuyên truyền nhồi sọ. Nhưng trong lòng họ vẫn còn bao nhiêu kỷ niệm thân thương nơi chốn quê nhà.
Có một buổi trưa, hai đứa đang thưởng thức bò bía, đậu đỏ bánh lọt ở chùa Xá Lợi, góc Bà Huyện Thanh Quan và Ngô Thời Nhiệm (?), thì gặp một "cái bang". Đầu đội khăn rằn, đeo mắt kiếng cận nặng, cổ quấn vài ba chiếc khăn đủ màu và ông còn dẫn theo hai con chó, vừa đi vừa múa tay múa chân như người say rượu. Chừng như ông không cần thấy ai, chung quanh chỉ có ông và hai con chó. Người đàn ông "cái bang" đó là nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo nổi tiếng của Việt Nam: Bùi Giáng. Hai con chó vừa đi vừa sủa vang, khiến một số nữ sinh Gia Long đang đứng quanh xe bò bía, vội vã chạy né qua bên kia đường. T
Một ngày nọ, ngài gặp một bà mẹ, bà ôm một đứa con vừa mất vừa đi vừa khóc lóc thảm thiết, ai cũng mũi lòng thương, thông cảm vì mất con là nỗi đau khổ nhứt trong cuộc đời… người ta mách bảo là bà nên gặp Sa Môn Cồ Đàm, bà sung sướng bế con đã mất đi ngay và gặp phật, xin phật dùng phép thần thông cứu sống con bà. Xung quanh phật, các tì kheo đang ngồi cầu nguyện cho chúng sanh được giải thoát và cũng cầu nguyện cho các chúng sanh còn tại thế sẽ may mắn mà gặp được giáo pháp của Như Lai. Rồi người mẹ đau khổ cũng được gặp phật.
Cuối tháng Ba, những cơn gió nóng tràn về thành phố. Một hai trận mưa lạc loài đến sớm rồi thôi. Không khí ngột ngạt. Mùi đất nồng khó chịu. Như một cô gái uể oải trong cơn bệnh, thành phố trông mệt mỏi, rạc rời. Đoan đi vào Câu lạc bộ của trường. Bình thường, cứ đến thứ Sáu là không khí chuẩn bị cho chiều văn nghệ thứ Bảy lại nhộn nhịp. Nhưng hôm nay, như có một cái gì kéo mọi thứ chùng xuống. Chị Thuận, người phụ trách Câu lạc bộ, mỉm cười khi thấy Đoan, nhưng là một nụ cười kém tươi. Chị vẫn câu chào hỏi thường lệ: “Em uống gì không?” “Dạ, chị cho em nước chanh.” Chị Thuận pha ly nước chanh đặc biệt, nóng, ít đường, mang đến để trước mặt Đoan, và kéo ghế ngồi xuống bên Đoan. Hình như không có gì để bắt chuyện, chị Thuận nhìn ra sân, nói nhỏ:
Tôi khép cánh cửa phòng ngủ, rón rén bước ra, sợ gây tiếng động làm thằng cháu nội lại giật mình thức giấc; thằng bé đã mười tháng tuổi, biết làm đủ thứ trò như con khỉ con, chiếc mũi bé xíu của nó chun lại, đôi môi dầy cong lên, mỗi khi bà nội bảo nó làm xấu, thật dễ thương, canh nó hơi mệt vì phải chơi cho nó đừng chán, lèo nhèo, nhưng chơi nhiều thì sức bà nội có hạn, làm sao chạy theo nó cả ngày được!
Những cái mặt hướng về phía trước. Những cái đầu hơi cúi, những cái lưng hơi còng có lẽ bởi sức nặng của chiếc ba lô đeo sau lưng, hay tại - nói một cách màu mè, văn vẻ, đầy giả dối là - gánh nặng của đời sống. Trước mặt tối đen. Bên phải là những cánh cửa cuộn bằng tôn đóng kín. Những cánh cửa lạnh lùng, vô cảm; lầm lì từ khước, âm thầm xua đuổi. Dưới chân là nền xi măng. Cứng và lạnh. Không thể là nơi tạm dừng chân, nghỉ mệt. Sâu vào phía sát vách là nền lót những viên gạch vuông. Không một cọng rác. Không một bóng chó hoang, mèo lạc. Không cả những hình hài vô gia cư bó gối vẩn vơ nhìn nhân gian qua lại.
Đức hạnh cao quý thể hiện thành tâm vô phân biệt. Tâm vô phân biệt tạo thành một sự bình đẳng tuyệt đối trong giáo pháp của đức phật. Giáo pháp thâm sâu vi diệu của Như Lai thì không phải ai cũng hiểu hết, cũng ngộ được điều đó đa phần các vị đại trí thấu đạt. Còn lòng từ bi của phật thì lan tỏa vô phân biệt như ánh sáng mặt trời soi sáng khắp nơi nơi, như mưa rơi tắm mát đại ngàn. Những lời giảng dậy trên đây được dẫn chứng nhiều và rõ nhứt là ở phật giáo Tây Tạng.
Anh Hai của tôi, sau chuyến vượt biên thất bại, bị giam ở nhà tù Bình Đại Bến Tre chín tháng, khi trở lại trường Phan Thanh Giản, Cần Thơ mới biết đã bị cắt hộ khẩu, mất việc làm, bèn quay về Sài Gòn sống tạm với gia đình, chờ cơ hội vượt biên tiếp theo. Một hôm, anh bị cơn sốt rét tái phát hành hạ, (hậu quả của những ngày trong trại giam), cần phải đến bệnh viện chữa trị, nhưng hộ khẩu không có, anh bèn mượn cái Sổ Sức Khỏe của thằng cháu (con bà chị họ ở kế bên nhà), để đi khám bệnh
Năm đó, tôi qua Arlington,Texas thăm gia đình, rồi ghé Dallas thăm người hàng xóm cũ thân thiết từ khi còn ở Việt Nam . Chú Thím ấy đónvợ chồng tôi nồng hậu như mọi khi, bữa ăn đặc sản món Huế như tôi yêu cầu, sau đó kéo nhau ra phòng khách ăn bánh uống trà . Rồi Thím gọi cháu ngoại: - Thiên Ân ơi, ra đây ca hát cho hai bác Canada nghe đi con.-Cô bé hai, ba tuổi tung tăng ngoan ngoãn khoanh tay chào chúng tôi, rồi bạo dạn chạy ra giữa phòng, tay giả bộ cầm micro phone, rồi nhún nhảy tự nhiên hát một bài hát Tiếng Việt thật rõ ràng .
Ngày xưa rất xa xưa, ở vùng quê thôn dã, người dân sống giản dị, đơn sơ, mộc mạc; người ta trồng tỉa những vườn rau cải, vườn ngô, vườn cà… lấy hoa lợi để sống. Thường thường có chim chóc kiếm ăn đến phá phách, dãi dãi, mổ mổ những hạt mới ươm trồng hay những nụ hoa mới ra, chúng ăn, với con người trồng tỉa lấy hoa lợi là chúng nghịch ngợm và phá hoại, ăn khín. Mới đầu chúng đến một vài con, sau rủ nhau đến nhiều hơn, cả nhà cả đàn chim chóc… và người gia chủ trồng tỉa phải tìm cách bảo vệ hoa màu của họ, nguồn sống của họ.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.