Hôm nay,  

Rượu Dưới Trăng

08/12/202107:38:00(Xem: 4302)

Inline-moonshine-spirits-liquor-Kings-County
Moonshine:Rượu dưới trăng?

 

Khoảng đầu thế kỷ thứ 19, ở Mỹ nổi lên phong trào chống nạn rượu chè, do phụ nữ và các nhà thờ dẫn đầu. Năm 1838, Massachusetts ra luật cấm bán rượu lẻ dưới 15 gallon. Tuy luật này về sau bị huỷ bỏ, nhưng một số tiểu bang khác nối gót Massachusetts và ra luật riêng của mình. Như năm 1846 Maine trở thành tiểu bang đầu tiên ban hành đạo luật cấm bán rượu trong tiểu bang. Lúc Nội Chiến bùng nổ năm 1861, một số lớn các tiểu bang đã ra luật cấm rượu dù liên bang vẫn chưa cấm.

 

Sang đầu thế kỷ 20, nước Mỹ phát triển ào ạt theo đà công nghiệp hoá và kỹ nghệ hoá. Tại những thành phố lớn, nông dân từ các vùng xa kéo về kiếm việc, chẳng khác gì mấy Sài Gòn – Bình Dương thời nay. Tệ đoan xã hội như rượu chè bài bạc ngày càng tăng. Phong trào chống rượu lớn mạnh theo. Một hiệp hội mang tên Anti-Saloon League gọi các quán nhậu saloon là chốn đồi truỵ, và thúc đẩy các nhà lập pháp cấm rượu. Hầu hết các cơ xưởng cũng ủng hộ vì muốn giảm thiểu rủi ro và tai nạn, đồng thời gia tăng năng suất và giờ làm việc của công nhân.

 

Năm 1917, Hoa Kỳ nhảy vào Đệ Nhất Thế Chiến, cả nước phải thắt lưng buộc bụng. Tổng thống Woodrow Wilson ra lệnh tạm cấm buôn bán rượu, viện cớ ngũ cốc cần để dành để chế biến thực phẩm. Nhân cơ hội này Quốc Hội đề nghị Tu Chính Án thứ 18, dự tính trong vòng bảy năm sẽ sửa Hiến Pháp và cấm bán rượu trên toàn quốc. Nhưng chỉ mất 11 tháng là đề nghị này đã hội đủ ba phần tư số tiểu bang đồng thuận. Thế là vào tháng Giêng năm 1919 Hiến Pháp Hoa Kỳ chính thức cấm rượu trên toàn quốc, mở đầu cho một thời kỳ u ám gọi là Prohibition (Cấm đoán).

 

Trong vòng một năm, các hãng rượu cũng như các quán bar đều phải dẹp tiệm. Thật là một chiến thắng tuyệt vời cho phe chống rượu — ít ra là trên mặt giấy tờ. Nhưng trên thực tế, việc thi hành các đạo luật được Quốc Hội ban hành dựa trên TCA18 không đơn giản chút nào. Bởi vì sao? Vì con người từ ngàn xưa bao giờ cũng nghĩ ra đủ cách để lách luật, nhất là khi đụng đến rượu. Thế là một kỹ nghệ rượu lậu, tiếng lóng gọi là “bootleg”, ra đời. Những người vận chuyển rượu lậu, gọi là “runner”, làm rất nhiều tiền. Các quán saloon kiểu mới mọc lên, đó là những căn phòng kín tại những địa điểm bí mật, gọi là “speakeasy” (nói nhỏ), nơi khách có thể uống rượu lậu một cách kín đáo.

 

Gọi là kín đáo cho vui, chứ thật ra những chỗ đó trước sau gì cũng bị cảnh sát phát hiện. Thế là một đường dây hối lộ đút lót thành hình, lắm khi dính dáng đến quan toà. Tuy nhiên điều đáng nói, và đáng sợ hơn cả, là từ khi rượu bị cấm, các băng đảng xã hội đen nổi lên ào ào. Chữ gangster ra đời, tiếng Việt ta gọi là găng-tơ. Chúng tranh giành mối, chúng bảo kê các quán rượu, và dĩ nhiên chúng có súng. Các vụ bắn giết diễn ra như cơm bữa. Thế là tệ nạn rượu chè được thay thế bằng những tệ nạn còn … tệ hơn. Đã vậy, giá rượu (lậu) cứ tăng dần khiến người bình dân càng thêm bất mãn. Tình hình trở nên bi đát thêm nữa khi nước Mỹ rơi vào cuộc Đại Khủng Hoảng kinh tế vào thập niên 1930.

 

Mùa tranh cử tổng thống năm 1932, ứng cử viên Franklin D. Roosevelt hứa hẹn nếu đắc cử ông sẽ bãi bỏ Tu Chính Án 18. Đối thủ của ông, đương kim tổng thống Herbert Hoover, thua thê thảm. Tháng Hai năm 1933, ngay sau khi FDR vừa nhậm chức, Quốc Hội liền đề xuất Tu Chính Án 21 với mục đích bãi bỏ TCA18. Chỉ trong vòng sáu tháng TCA21 đã kiếm đủ ba phần tư số tiểu bang chấp thuận. Ngày 5/12 năm 1933, nghị viện tiểu bang Utah biểu quyết thông qua TCA21, chấm dứt các luật liên bang cấm bán rượu trên nước Mỹ. Một số tiểu bang vẫn ngoan cố giữ lại vài đạo luật cấm cản, nhưng đến năm 1966 thì việc cấm nấu rượu ở Mỹ coi như hoàn toàn biến mất.

 

Tuy nhiên phép vua vẫn thua lệ làng. Chẳng hạn như ở Texas, sang thế kỷ 21 rồi mà một vài thành phố vẫn tiếp tục không cho bán rượu; cư dân ở đó muốn mua rượu phải lái xe sang các thành phố lân cận. Người viết từng sống tại những nơi như vậy nên khá rành. Mỗi khi nhà có tiệc tùng là trước đó phải lái xe khoảng 30 dặm để mua rượu bia chất sẵn. Các tiệm rượu mọc lên như nấm ngoài bìa ranh giới thành phố. Nhưng dần dà hội đồng thành phố cũng khôn ra vì thấy có cấm cũng chẳng ăn thua gì mà lại mất một nguồn lợi tức đáng kể. Thế là cách đây vài năm họ đổi luật, cho phép bán bia rượu như mọi nơi; thành phố có thêm thu nhập, người dân không phải đi xa. Thật hợp tình hợp lý.

 

Nói đến đây chợt nghĩ tới Việt Nam. Dân Nam Kỳ chắc nhiều người biết chữ rượu đế có nguồn gốc là rượu lậu. Đầu thập niên 1860, sau khi Pháp chiếm được miền Nam, họ không những không ngăn cấm mà còn khuyến khích dân ta nấu và bán rượu để họ thu thuế. Nhưng một khi người Pháp xây được lò rượu Bình Tây thì chúng trở mặt, ra luật cấm dân ta nấu rượu hòng chúng có thể độc quyền. Thậm chí chúng còn có luật bắt các quận huyện mỗi tháng phải mua một số lượng rượu nhất định do công ty nhà nước nấu — dân ta gọi là rượu ty.

 

Nhưng luật thì mặc luật, người dân vẫn lén nấu rượu riêng vì rượu ty không đủ để cung cấp mà cũng không thơm ngon hạp khẩu bằng rượu ta nấu. Để tránh bị ruồng bố, người dân nấu hoặc giấu rượu trong các vùng có cỏ đế cao hơn đầu che quanh, còn gọi là trảng đế. Thế là từ đó tiếng Việt có thêm chữ rượu đế để ám chỉ loại rượu trốn thuế này. Ngoài Bắc tình hình cũng không khá hơn bao nhiêu. Dân Bắc Kỳ thì gọi rượu lậu nấu theo kiểu đi ngang về tắt này là rượu ngang, hay còn gọi là cuốc lủi để ám chỉ cảnh nấu chui nấu lủi; rượu nhà nước thì gọi là rượu quốc doanh.

 

Ngày nay chữ rượu đế đã trở thành danh từ chung dùng để gọi loại rượu trắng cất theo kiểu dân gian ở miền Nam. Ở Mỹ vào thời Prohibition cũng có một từ tương tự như rượu đế, đó là rượu ‘moonshine’, gọi tắt của chữ ‘moonshine whiskey’ — tức rượu whiskey nấu ban đêm dưới ánh trăng (để không bị phát hiện).

 

Gần đây, ở Texas có hai nhà khởi nghiệp người Việt mới mở một lò rượu đế tên SuTi. Trong một chương trình phỏng vấn trên đài ABC địa phương vừa thắng giải Emmy, anh chủ lò cũng gọi rượu đế là một dạng ‘moonshine’. Tất nhiên SuTi không nấu rượu dưới trăng mà cũng chẳng giấu rượu trong trảng đế như xưa nữa, nhưng phải … nộp thuế đầy đủ. Và theo lời kể của SuTi thì chính vì một số luật lệ khắt khe từ thời Prohibition còn sót lại mà họ không thể ship rượu đế Ông Già, cho nên ai muốn mua phải đến tận lò mới mua được.

 



Hôm nọ có dẫn một nhà báo kỳ cựu ở Sài Gòn đến thăm SuTi. Ảnh kể ngày xưa ảnh cũng từng lặn lội sâu vô vùng Gò Đen kiếm rượu đế đúng điệu để uống mà viết bài — “không phải cái thứ Gò Đen dân chúng pha lại bán ở các quán bên đường,” ảnh giải thích. Tợp xong miếng rượu đế Ông Già, nhà báo Nam Kỳ nhà ta khà một tiếng: “Được!”

 

Chợt nhớ câu ca dao:

Ngó lên trảng đế chòm tranh

Em không bỏ mẹ theo anh đâu mà mừng!

 

– Ian Bui (Dallas)

 
Phụ lục hình ảnh:

H01Thiên hạ uống mừng ngày chấm dứt luật cấm rượu. Nguồn: Internet.

H002Rượu bị đổ xuống cống ở New York City sau khi luật cấm rượu ra đời. Nguồn: Internet.

H02Người đàn ông gõ cửa quán nhậu bí mật “speakeasy” thời Prohibition. Nguồn: Internet.

H03
Dân chúng xuống đường đòi quyền uống. Nguồn: Internet.

 

 H04

Khách từ Houston (trái) lặn lội đến SuTi mua rượu đế Ông Già. Ảnh: DC.

  

H05

Nữ nghệ sĩ Kiều Chinh cùng hai nhà khởi nghiệp rượu đế Suti Suý Đinh (trái) và Tiến Ngô (phải). Ảnh: Mark LG.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
“Mày có vợ hồi nào vậy?” chưa kịp chào, mẹ đã ném ra câu hỏi bất ngờ. Tôi lặng thinh. Cục nghẹn trong cổ họng. Tiếng mẹ đã khàn nhưng nghe vẫn quen, vẫn gần gũi, nhưng đặm chút ngạc nhiên và thấp thoáng chút phiền muộn. Hệt như lần hỏi tôi mười mấy năm trước rằng Sao con trốn học. Đường dây điện thoại chợt kêu ù ù, như thể có máy bay hay xe vận tải cơ giới hạng nặng chạy qua chỗ mẹ đứng. Cũng có thể tại tai tôi ù. Tôi cũng không chắc lắm. Giọng nói mẹ chìm vào khối tạp âm hỗn độn. Mẹ lặp lại câu hỏi trong tiếng động cơ rì rầm. Rồi tất cả im vắng bất ngờ. “Hở con?” Mẹ nói.
Bê, con trai của Mẹ, đã theo Mẹ đến giảng đường từ thuở còn trong bụng Mẹ. Suốt thời gian đại học của Mẹ, Bê có nhiều đóng góp khác nhau theo từng thời kỳ. Khi Mẹ làm bài kiểm tra môn Đầu Tư và Tài Chính trong lục cá nguyệt đầu tiên, Bê mới ba tháng tuổi. Mẹ nhẩm tính, bài thi một tiếng rưỡi, đi về từ nhà đến trường thêm một tiếng rưỡi. Như vậy, Bê phải xa Mẹ ít nhất ba tiếng đồng hồ. Mẹ biết tính Bê, mỗi hai tiếng đồng hồ Bê oe oe đòi bú sữa Mẹ. Bê xấu đói lắm, đòi mà không được, Bê nhăn nhó um sùm. Ngày hôm đó, dì Thành đến giữ Bê. Dì Thành rất hồi hộp. Dì chưa có em bé, chẳng biết phải làm sao cho đúng ý Bê. Mẹ thi xong, phóng ra xe về nhà. Mẹ bắt đầu sốt ruột. Mẹ xa Bê đã hơn ba tiếng đồng hồ. Giờ này Bê chắc Bê đã thức giấc. Hy vọng Bê chịu khó nhâm nhi món trà thảo dược cho trẻ sơ sinh trong khi chờ Mẹ về. Thời đó chưa có điện thoại di động. Bởi vậy, có lo cũng để bụng, chứ Mẹ chẳng biết làm sao. Mẹ ba chân bốn cẳng chạy ba tầng lầu. Vừa đến cửa đã nghe tiếng Bê khóc ngằn ngặt.
Khi chơi những bản nhạc hay, Khang khóc theo giai điệu. Mước mắt chảy, tay kéo tình xuống lên, thân hình diệu dẻo theo cảm hứng. gần như mê cuồng, không biết mình là ai. Tôi cảm nhận được cái hay xuất thần nhưng không hiểu. Khang nói: -- “Cậu Út biết không, cái hay của âm nhạc làm cho lòng sung sướng nhưng cái đẹp của âm nhạc làm cho hồn cảm động. Khi món quà quá lớn, quá sức yêu, không thể cười, chỉ có thể khóc.” Tôi nghĩ, những lúc như vậy, Khang không chơi đàn, mà múa với hồn oan.
Tôi làm việc giữ xe cho một casino ở ngoại ô Toronto, gọi là parking attendant. Đó là nghề mà thanh niên ít chịu làm, phần vì lương thấp, mức tối thiểu, hồi đó 5 đồng một giờ, nhưng lý do chính là vì nó buồn. Bãi đậu xe nằm dưới hầm tối, không nhìn thấy người qua lại, nếu ở ngoài trời cũng sau lưng nhà cao tầng. Không ai làm chỗ đậu xe ở khung cảnh xinh đẹp, nơi ấy dành cho hàng quán. Đi học ban ngày, tôi làm thêm ban đêm là việc thích hợp, có thể thỉnh thoảng ngồi học bài. Nhân viên trong phiên gác trước tôi là cô gái bằng tuổi hoặc cùng lắm lớn hơn một hai tuổi, nhưng không hiểu sao cô vẫn có thói quen gọi tôi là em và xưng chị.
Anh cho xe dừng lại nơi góc đường rồi đi bộ về phía căn nhà. Tuyết đang rơi dầy đặc trắng xóa cả bầu trời, đúng là một White Christmas như nhiều người mong muốn. Những ánh đèn màu trang hoàng trước sân các nhà nhấp nháy vui tươi như đang mừng đón Chúa Hài Đồng giáng trần. Anh bước lên bậc thềm gỗ, bước rón rén đến cửa sổ nhìn qua tấm rèm mỏng, hơi giật mình sựng lại khi thấy ba mẹ con cô ấy đang dọn bữa ăn đêm Noel. Hẳn là họ vừa đi lễ về, anh thầm nghĩ. Nhìn đứa con trai mười ba tuổi và đứa con gái mười một tuổi giúp mẹ sắp xếp bày biện thức ăn trên bàn, anh thoáng chút xúc động và an tâm vì các con đã lớn, có thể đỡ đần mẹ trong nhiều việc nhà, anh cũng thấy bớt đi mặc cảm tội lỗi của mình.
Chuyện xảy ra trên một chuyến xe Greyhound. Xe đò Greyhound có vẽ con chó sói xoải cẳng phi nước đại bên hông là thứ nối liền các thành phố bên Mỹ và Canada. Nhiều người trong chúng ta chắc đã từng ngự trên những chuyến xe xuyên liên bang này. Tôi cũng đã từng xuôi ngược với Greyhound. Từ Montreal qua Washington D.C. thăm bạn bè dân thủ đô nước Mỹ như các ông Dzương Ngọc Hoán, Nguyễn Tường Đằng. Từ Vancouver qua Portland thăm ông Từ Công Phụng. Từ Seattle về Vancouver sau khi cưỡi du thuyền đi Alaska thăm mấy chú gấu tuyết. Nói như vậy để thấy tôi cũng có chút kinh nghiệm khi chen vai thích cánh cùng những người không có hoặc ngại lái xế riêng.
Hai chữ giang hồ không mấy xa lạ trong đời sống của mỗi người đều thường đề cập trong thơ, văn, điện ảnh… và cũng là câu nói thường tình với cá nhân, nhóm người trong xã hội. Tác phẩm Thủy Hử ban đầu là Giang Hồ Khách Truyện, sau lấy tên là Thủy Hử vì “căn cứ địa” Lương Sơn là vùng đầm, hồ nên Thủy Hử (bến nước). Truyện nầy qua bản dịch của La Thần và Á Nam Trần Tuấn Khải, gồm 3 cuốn, năm 1973, sau đó với Tử Vi Lang nên rất quen thuộc với độc giả Việt Nam. Trong truyện Thủy Hử của của nhà văn Thi Nại Am (1296-1372) ở Trung Hoa vào triều Nguyên-Mông (1295-1368), kể về câu chuyện của Tống Giang triều nhà Tống, nổi dậy kéo theo “giang hồ hảo hán” gồm 108 người đến núi Lương Sơn. Gọi là anh hùng Lương Sơn Bạc.
Ở Sơn Tây, tôi là khách lạ nhưng mang tâm trạng sâu đậm như người trở về nguồn cội. Đầu tiên tôi tìm mua tấm bản đồ tỉnh lỵ nhưng không ai bán, họ chỉ dẫn địa điểm Thành Cổ rồi theo 4 hướng Đông Tây Nam Bắc của hình vuông ấy là sẽ tìm ra mọi nơi. Hướng Nam đối diện với phố Quang Trung còn gọi là Cửa Tiền, Cửa Hậu ở hướng Bắc có phố Lê Lợi và nếu đi thẳng đến cuối đường sẽ gặp sông Hồng, hướng Đông là Cửa Tả nhìn ra chợ Nghệ và cuối cùng hướng Tây hay Cửa Hữu có phố Ngô Quyền.
Buổi sáng cuối tuần, mùa đông chớm về với những cụm mây xám nhạt, lơ lửng trôi trên bầu trời California, không khí se se lạnh, tôi và Hoàng ngồi ngoài hàng hiên quán Coffee Lovers của Thành phố Hoa vàng nhìn trời hưu quạnh. Bên hai ly cà phê sữa nóng và dĩa bánh Patechaud, Hoàng nói chậm dãi, nhỏ nhẹ, kể cho tôi nghe về quê ngoại của Hoàng thời niên thiếu.
Theo thông lệ trước đây, hằng năm vào đầu tháng 9, CVKer 65 Bok Thân có tổ chức buổi tiệc gây quỹ cho địa phận Kontum. Năm nào Bok Thân cũng thành công mỹ mãn, gởi về quê nhà nhiều số tiền lớn lao dùng cho các hoạt động bác ái của địa phận. Sau dịch cúm Tàu phù, kinh tế trì trệ, dân chúng cũng ngại đám đông nên Bok Thân phải uyển chuyển tổ chức 2 năm một lần; lần này là Đêm Tình Thương lần thứ Sáu.
Memphis là thành phố lớn của tiểu bang Tennessee, nổi tiếng là một trong những cái nôi của dòng nhạc Blues & Jazz của nước Mỹ. Cách đây 4 năm, tôi lái xe đến thăm Memphis chỉ để được nghe nhạc Blues “nguyên chất” tại B.B King’s Blues Club, một trong những “việc đáng làm trong đời” đối với những người mê nhạc Jazz. Nghe nhạc Jazz ở Memphis sẽ thấy được dòng nhạc như chảy trong huyết quản của người da đen ở Miền Nam Hoa Kỳ. Vào đầu tháng 10 năm nay, tôi trở lại thành phố Memphis, nhưng đó không phải là đích đến của chuyến đi. Memphis có phi trường chỉ cách Tu Viện Mộc Lan khoảng hơn một tiếng lái xe. UH, một cô bạn đồng tu đã từng cùng học với một vị thầy, cùng sinh hoạt trong một nhóm Phật tử ở Quận Cam California được chấp nhận vào ni đoàn, làm lễ xuống tóc xuất gia tại Mộc Lan. Tôi cùng một nhóm bạn nhận lời mời đến dự sự kiện trọng đại của một đời người này.
Đọc xong email của Cathy, Khôi mỉm cười khoan khoái, bước xuống phòng khách pha cho mình ly cà phê nóng của buổi sáng cuối tuần. Trời đã cuối Thu, những chiếc lá khô cuối cùng lao xao đuổi nhau theo những cơn gió nhẹ trên mặt đường, tạo nên một âm thanh vui tai. Hàng cây khô trụi lá khẳng khiu đang rung rinh trước gió, chuẩn bị cho những ngày đông dài sắp tới. Khung cảnh thật bình yên. Bình yên như tâm hồn Khôi sau những tháng ngày băn khoăn, ray rứt đã qua.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.