Hôm nay,  

Chuyện Chàng Nàng

03/01/202207:56:00(Xem: 4213)

Truyện ngắn  


h01

Chuyện hoa

 

Thuở còn là tình nhân, chàng chạy xe mấy trăm cây số đến thăm nàng. Chàng đem tặng nàng một cành hoa. Chỉ hoa thôi, không có lá. Thật ra, nàng thấy hoa giống cái lá màu đỏ. Hình như nàng chưa thấy loài hoa này bao giờ. Chàng nói:

 

–  Anh chọn hoa này vì cô hàng hoa bảo hoa này lâu tàn và… Chàng cười cười –  Giá cũng phải chăng.

 

Dạo ấy chưa có Google, nên nàng phải “truy cập” thông tin ngoài chợ. Đảo qua nhiều hàng tiệm, cuối cùng nàng biết, đó là Anthurium. Mãi sau này, tình cờ đọc trong tờ báo Việt, nàng mới nghe thêm tên Việt của hoa: hồng sơn môn.

 

Lại chuyện hoa

 

Mùa hè, chàng về đến nhà, mồ hôi nhễ nhại, tay bưng chậu tiểu hồng màu phấn thật đẹp. Nàng mừng rỡ đón chàng và đón lấy chậu hoa từ tay chàng. Nàng duyệt nhanh trong trí nhớ, xem hôm nay có sự kiện gì “vĩ đại” mà chàng tặng hoa. Ngày cưới đã qua. Chàng đã quên như thường lệ.

 

Nàng rạng rỡ:

 

– Cám ơn anh nghen. Hoa đẹp ghê. Có dịp gì đây anh?

 

– Dịp gì mà dịp. Anh ngồi trong xe ngủ gà, ngủ gật. Đến trạm chót, người ta xuống hết. Ông soát vé kêu anh dậy và chỉ chậu hoa. Anh nói, không phải của anh. Ông bảo, không sao, đây là trạm chót, anh đem về mà dùng.

 

Nàng nghĩ thầm, chàng, tuy không “ga lăng”, nhưng được tính thật thà.                    

 

Chuyện đàn

 

Nàng có học đàn guitar cổ điển, thỉnh thoảng đem đàn ra tính tính tình tang. Vui miệng, nàng rủ chàng học đàn. Chàng nói bằng giọng người Việt gốc… Nam:

 

– Ông bà mình hay nói đàn địch. Em đàn rồi thì phần địch để anh.

 

Nàng bực bực, đành cười trừ. Chớ gây gổ có được gì đâu. Trong những bài nàng hay tập, chàng chỉ nhớ mang máng được giai điệu của bài 14 trong cuốn Carulli. Chàng hỏi:

– Bữa nay sao chưa thấy em đàn cái bài gì mà từng tưng tưng tưng tứng tứng tưng

 

Nàng nhớ, có đọc bài thơ cách đây vài chục năm, khi nàng là còn bé tí ti, lời đối thoại giữa hai người.

 

Không là chúa, chẳng là vua,

Không là lính trận mà ra chiến trường!

Chỉ là nhạc sĩ lang thang,

Yêu đàn là một, yêu nàng là hai!

 

Chẳng ưa chúa, chẳng ưa vua

Chẳng ưa lính trận, chỉ ưa tiếng đàn!

Lấy chàng, nghe hát tình tang,

Còn hơn chung đỉnh giàu sang bất nghì!

 

Nàng ơi, thú thật tình si!

Yêu nàng, nói dối biết gì đàn đâu!

 

Chàng ơi, em biết từ lâu!

Lấy em, em dạy đàn sau ngại gì!

 

Nàng biết tài nghệ của mình, không hề có “tham vọng” dạy chàng đàn. Nhưng, nàng đôi lần ướm ý, rủ chàng đi học chung. Chàng nói, để coi, tới hồi nào mà anh biết đọc nốt, để phụ em lật trang trong khi em đánh đàn, là mãn nguyện rồi. Nghe chàng nói vậy, nàng mát ruột. Cho dù, cái “hồi nào” của chàng không biết đến bao giờ mới thực hiện.

 

Chuyện hát

 

“Gu” nghe nhạc của chàng nàng khác hẳn nhau. Ví dụ như chuyện phổ nhạc bài thơ của Hữu Loan,  Màu Tím Hoa Sim. Nàng mê mẩn Áo Anh Sứt Chỉ Đuờng Tà do Thái Thanh hát. Còn chàng nhất định, Phương Dung ca Những Đồi Hoa Sim mới “dzách lầu”.

 

Vậy mà, có lần họp mặt bạn bè, chàng và một ông bạn già lên song ca bài Mãi Mãi Bên Em của Từ Công Phụng, nói, để tặng hai bà vợ... hiền. Nàng cảm động quá, bèn đồng ca với chàng bài Biển Tình. Chàng, nàng tình tứ cầm tay nhau khi hát đến câu (và có sửa chữa đôi chút mà không xin phép nhạc sĩ) đời anh rất đẹp vì có em, đời em cũng đẹp vì có anh

 

Chuyện ngôn ngữ

 

Nàng vừa về đến nhà, chàng hí hửng khoe:

 

– Lúc nãy Ba qua chơi, Ba dọn “dường” của mình.

 

Nàng giật mình:

 

– Sao anh không dọn đi mà để Ba làm?

 

Chàng tỉnh bơ:

 

– Ba thích, để Ba làm chớ sao lại cản!

 

Nàng nhăn nhó:

 

– Ai mà lại để Ba dọn giường, coi sao được!

 

Chàng vỡ lẽ:

 

– Không, đâu phải dọn “dường” để ngủ, mà dọn “dường” để trồng hoa đó mà.


Nàng thở phào:

 

– May quá, chỉ là Trung Nam bất đồng.

 

Chàng cũng mừng:

 

– Hên thiệt, chớ không là bị “dợ” dũa cho te tua.

 

Chuyện trí nhớ

 

Chàng ngồi trước computer, nóng chân, bèn cởi chiếc vớ cầm nơi tay. Chưa kịp cởi chiếc thứ hai, nghe điện thoại reo. Chàng, tay cầm vớ, tay nhấc máy. Nói chuyện xong, nàng thấy chàng lom khom như đang tìm kiếm gì. Nàng hỏi:

 

– Kiếm gì vậy anh?

 

Chàng giơ giơ chiếc vớ trước mặt:

 

– Không biết đâu mất chiếc vớ rồi.

 

Nàng nhìn xuống chân chàng:

 

– Có phải còn nơi chân anh đó không?

 

Chàng phì cười:

 

– Ừ, đúng rồi.               

 

Chuyện nhìn nhau

 

Có lần đi chung với chàng mấy trạm xe điện ngầm, nàng lấy mắt kính ra mang, tính nhìn rõ trang quảng cáo trên báo. Nhưng nàng đổi ý, quay qua tán dóc đôi câu bâng quơ với chàng. Chàng phải xuống xe, chàng vuốt má nàng, nói: “Chiều gặp”. Nàng nhìn vào tờ báo. Nàng hơi hoảng, vì thấy chữ không được rõ như mọi khi. Nàng lo lo, không lẽ mình lên độ nhanh như vậy. Nàng không đọc nữa, nhìn mông lung ra cửa sổ. Nàng có cảm tưởng, hai người đối diện đang nhìn nàng khó hiểu. Chẳng lẽ họ chưa bao giờ thấy đàn ông Á Châu âu yếm vợ nơi công cộng. Hay là, hôm nay nàng duyên dáng, xinh xắn khác thường. Nhưng ánh mắt của họ không có vẻ gì đang chiêm ngưỡng nàng. Nàng nghĩ, không đọc sách nữa thì gỡ mắt kính xuống. Khi bỏ kính vào túi, tay nàng chạm phải miếng thủy tinh tròn cứng. Nàng rụng rời. Thì ra, nãy giờ, nàng làm… độc nhãn đại hiệp. Trời ơi, vậy là, lúc nãy “bịn rịn” chia tay, chàng đã bỏ mất phần đầu của một câu nói nổi tiếng: Yêu nhau không những chỉ nhìn nhau, mà cùng nhìn về một hướng…

 

 Chuyện  chu đáo

 

Nàng đi làm xa ở xứ nóng. Về nhà, đúng ngay ngày vào đông bất ngờ, tuyết trắng xóa. Nàng rất nhát lạnh. Đi đón nàng, chàng cẩn thận gói ghém áo lạnh và giày ống. Sau khi làm xong thủ tục chào đón nhau, chàng kéo va –li của nàng lại ghế. Chàng bảo nàng mặc áo khoác và đổi giày. Nàng xổ giày trong bao ra. Đích thị là một đôi giày ống mùa đông, có hai chiếc đàng hoàng. Nhưng, một chiếc màu đen, một chiếc màu nâu. Và, cả hai chiếc cùng là giày bên phải. Nàng không nhịn được cười:

 

– Anh coi nè, vầy thì làm sao  đây?

 

Chàng hơi quê, cũng cười:

 

– Ai mà biết em mua chi hai đôi giày giống hệt nhau như vậy.

 

Nàng giỡn cho chàng đỡ “xệ”:

 

– Không sao đâu anh. Chắc đôi ở nhà cũng bị lỗi như vậy.

 

Hôm đó, dù hơi bị lạnh chân một chút, nàng vẫn thấy vui lắm. Chàng hơi lơ đễnh một tí, nhưng quả thật chàng chu đáo chứ bộ.

                               

Chuyện dài ngày

 

Từ khi thằng con vào đại học, “ra riêng”, chàng nàng thấy nhà vắng quá. Bạn bè có người bảo, giống vợ chồng son. Người khác cãi, son nồi gì, giống tụi tui đây, như hai con khỉ già. Nàng nghĩ, hình như người bạn cãi có lý. Thỉnh thoảng, chàng ca ư ử: Tôi dới nàng, hai đứa già như nhau, mơ ước cùng dui cho đến ngày bạc đầu... Lâu lâu, nàng hát ê a: May mà có nhau, đời còn dễ thương...

 

Ngó đi, ngoảnh lại, chàng nàng góp tuổi hùn chung, nay đã tròn bách niên. Theo lịch trên tường, năm sắp hết, tết sắp đến. Nhưng, đất trời nơi chàng nàng ở, vẫn đang co ro trong tiết đông buốt giá. Nàng mượn mấy câu vè ngày xuân của anh bạn, để chàng nàng chúc tết lẫn nhau:

 

Tân niên xin chúc quý bà

Luôn tìm được chút Mình à, Mình ơi.

Dẫu rằng tuyết đổ, mưa rơi,

Vẫn luôn cần chút Mình ơi, Mình à.

 

Các ông dầu trẻ, hay già,

Chớ đừng quên tiếng Mình à, Mình ơi".

Dẫu đi khắp bốn phương trời,

Vẫn luôn nhớ gọi Mình ơi, Mình à".

 

 Hoàng Quân

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cây Phượng Vĩ Hoa Vàng có tên khoa học là Delonix regia var plavida thuộc họ Fabaceae có nguồn gốc từ Myanmar được sư trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng mang về Việt Nam, đầu tiên được trồng ở Huế một số cây dọc theo con đường ở phố Ngô Quyền, ngã ba Phan Bội Châu, Lê Lợi... đã thu hút nhiều du khách đến ngắm cảnh và chụp hình. Hoa phượng vĩ vàng có tuổi đời lên đến 5, 6 chục năm, cây nhỏ hơn hoa phượng đỏ, ít lá và hoa có màu vàng tươi bắt mắt, thường nở từ tháng giêng, tháng hai và nở rộ và khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, nên còn gọi là loài hoa “ chào mùa hè”. Hoa nở rụng tạo thành một “thảm hoa vàng” trên đường đi, gây nhiều ấn tượng cho những ai đi dạo trên những con đường này. Năm 2005, Công ty công viên cây xanh Sài Gòn mang về trồng một số nơi ở Sài Gòn nhưng chưa được nhiều.
Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ.
Tình yêu không phải là thứ ngôn ngữ nói ra, mà là ngôn ngữ để giữ kín! Tôi đã chôn kín hình ảnh đẹp nhất một đời người. Bây giờ người con gái năm xưa đang ở đâu, sống ra sao trong vạn nẽo đường trần hệ lụy. Có còn nhớ cơn mưa bong bóng chiều nào nơi hiên ngôi chùa nhỏ? Có còn tìm thấy những cơn mưa bong bóng bên đời? Hay tất cả đã phôi pha, đã trôi theo những giọt mưa bong bóng một thời đã mất?


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.