Hôm nay,  

Hồn Xuân

28/01/202200:00:00(Xem: 2710)

 

Minh hoa Đinh Trường Chinh
Hình minh họa - Tranh Đinh Trường Chinh 

 

Kể từ “Ngày ấy”, cuộc chia biệt tới nay đã hơn 45 năm vật đổi sao dời, cụ ông cụ bà mới có dịp gặp lại nhau. Kể nhau nghe chuyện gió bấc mưa phùn, màu trăng trên bến cũ. Tình già, tình như rêu.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                            
Bé gái tên Nhiên hầu bà nội đã nhiều năm nay, từ năm cô lên mười. Hầu, là phải luôn gần nội, đôi lúc đọc truyện cho bà nghe, mô tả những gì đang có trước mắt nhưng nay bà không còn nhìn thấy. Cây mai vườn nhà ngày giáp Tết nhiều hoa hay ít. Có đàn chim trời nào đang bay qua trên từng cao kia không? Tính tình bà rất hiền hòa. Hay kể chuyện xưa. Hồi ông nội là một sĩ quan quan trẻ, rất đẹp trai, hào hoa, rất thương yêu bà. Bà bảo, thuở bé, bà đã thấy đàn chim bay từ phương bắc vào nam trốn mùa lạnh, ngày đầu xuân trời quang mây tạnh, khí tiết ấm áp, chúng bay trở về phương bắc. Đại khái bà muốn biết những gì giờ đây bà chỉ cảm, chỉ nghe, chỉ ngửi được, nhưng không thể nhìn thấy được.

Bà nội nói bà mất ánh sáng vì ông nội cho bà được mù. Ông tặng bà một dịp thương nhớ không dịp nào có thể nhớ thương hơn. Một trận khóc dai dẳng, khiến đôi mắt mờ dần. Đâu ngờ nước mắt là lá chắn vĩnh cửu che cắt ánh sáng. Ông nội cũng thương bà lắm, nên trong thăm thẳm lòng ông, có món ích kỷ lạ lùng, ông muốn bà nên mù, “Em ạ, hãy thôi nhìn. Đừng nhìn gì nữa khi mỗi chúng ta người này đã mất người kia”.

Sống trong cái lịch sử quái lạ, đầy hố thẳm của Việt Nam, sự cách biệt tâm linh tình cảm giữa hai thế hệ nối nhau đã chứa đầy ly biệt. Bé Nhiên rất rối rắm mỗi khi nghe bà nội tâm sự. Cô không tiêu thụ nỗi cái biển “nỗi lòng” quá khứ của một người mất ánh sáng. Cô đang trong một thế giới riêng, vô tư trẻ trung, khó chia sẻ, hóa giải được tâm trạng của bà, tuy cô và bà có dòng máu chung.

Lại rất đỗi hoang đường, khi Nhiên nghe cha cô nói/kể/giảng giải về “Ngày ấy”, ngày đành chia biệt giữa ông bà nội của cô. Cha cô nói nhiều lắm, nhưng ông cười thật thà, không tin rằng mình nói/tả đúng cái thời sự thời cuộc đã từng diễn ra ấy. Với ông, nó như một chuyện cổ tích.

Ông tự than van “Hồi đó cha mới sáu tuổi mà, nào biết trời trăng gì”. Những đường phố, vỉa hè Sàigòn, người ta vất đầy những vũ khí, nón sắt, giày trận, những bộ quân phục màu ô liu. Quân đội Miền Nam tan rã, bỏ núi rừng rút về đồng bằng, tan nát từ đồng bằng, co cụm trong thủ đô, rồi tan bong bóng. Đường phố một trưa nắng bỗng như rực lửa, với tiếng gầm thét của đoàn xe tăng, những binh lính ốm o, da tái nhợt, bấy lâu từ sâu trong múi rừng đã xuất hiện giữa các đại lộ Sàigòn. Gấp gáp quá, dân chúng Miền Nam chẳng ai kịp buồn thảm hay tỉnh táo biện minh cho cái giây phút tuyệt vọng ấy.

Đã 47 năm qua, cha của Nhiên, một đứa bé sáu tuổi nay đã qua năm mươi, tuổi của tri thiên mệnh, ông đã chẳng thể kể lại câu chuyện “Ngày ấy” đúng sự thật là một nhân chứng đã từng tham dự. Tuổi thần tiên, trí nhớ trong lành đã rất mực nhuộm màu mơ hoặc. Những nan vấn bí ẩn, về cái gọi rằng lịch sử, vẫn chưa hề được giải mã.

Hãy đi hỏi mọi người. Hỏi những mái đầu hôm nay trắng màu cước ở phố Bolsa, Nữu Ước, Houston. Hãy đến hỏi những phận người đang khô héo ở Sàigòn, Đà Nẵng, Nha Trang. Hỏi những trang giấy vàng ố sự thật. Tất cả sẽ nói cho nghe, “Ngày ấy” rạch ròi. Bởi, chính họ, trong suốt cuộc nội chiến Bắc-Nam, tất cả đã cùng lên sân khấu diễn tuồng. Chẳng ai là khán giả. Kịch hạ màn, chỉ họ với nhau hiểu và nhớ tuồng kịch.

Chỉ họ chia sẻ những vết thương với nhau thôi. Bình minh cho một bên. Bên còn lại, nhận lấy hoàng hôn.

Những đêm trăng còn lại, ai đó ngồi một mình. Có thể trong núi non. Có thể giữa con đường mọi người thân quen đã không còn ai.

Mọi sự đã già nua. Kẻ diễn tuồng đã lần lượt cỡi hạc bay đi, kẻ còn lại đã tay run chân yếu, mất trí nhớ. Nhưng chuyện đời chẳng bao giờ khép lại, vì mỗi mùa xuân luôn mở ra cuốn lịch mới.

**

Chiều lung. Gió đầu xuân se lạnh. Bà bảo đặt một chiếc ghế ngoài vườn cho bà ngồi.   Chừng như bà đánh hơi được mùi của núi, bà quay mặt đúng hướng núi. Tai bà rất thính, bà nghe được tiếng côn trùng xa. Nhiều đêm khuya, bà ngủ rất ngon, hơi thở đều, nhưng môi miệng bà luôn thầm thì. Nói với ai trong giấc ngủ? Giọng bà rất êm ái. Câu chuyện có đầu có đuôi, của tâm sự, tình tự. Nhiên luôn nằm cạnh bà. Nghe rất nhiều “Tâm sự trong đêm” của bà. Một đêm, khách trong giấc mơ đi rồi, bà tỉnh táo nói với Nhiên, “Xương cốt ông nội của con mùi trầm, gỗ trầm thơm”.

Mải mê cõi tục lụy, nhưng có người sống với thần tiên.

Qua một cánh đồng rộng, từ đây nhìn thấy phía Đông Trường Sơn xa xa. Núi xanh thẳm. Núi miệt mài kéo từ bắc vào nam. Mây đen nặng tầng tầng, che lấp một phần ánh mặt trời. Phần còn lại là ráng chiều le lói.

Bà nói với Nhiên:

- Con có thấy một người đàn ông, y phục màu ô liu, dáng cao lớn, đang đi vào xóm mình? Kia kìa, hình như ông đang trở về nhà.

Nhiên nhìn ra cổng, con đường đất dẫn ra cánh đồng, những bờ ruộng nước, lúa thời con gái xanh mướt, cô chẳng thấy ai. Cô nói:


- Con chẳng thấy ai bà ơi.

- Có mà! Người đang tới.

Nhiên nhìn lại lần nữa, nói với bà:

- Có mấy con cò trắng. À có chị Thám, hình như đi chợ về.

Bà nở nụ cười, nói thật tình:

- Người ấy đã vào.

Bất ngờ bà nhổm người dậy. Như chờ ôm một người. Rồi bà ôm khoảng không. Như ta ôm một ai thân thiết lâu ngày mới gặp lại nhau. Hẳn trong đôi mắt tối của bà có ai hiện hình. Một ai lung linh. Môt nhẹ tênh rưng rưng mà bao la, thứ ánh sáng hừng đông, một mặt trời sẽ có mặt.

Đầu bà nghiêng qua một bên, như nghiêng mặt chờ người kia áp cái má vào, làn da ấm lâu ngày tưởng đã lạc loài nhau. Bà vỗ vỗ bàn tay vào khoảng không, như ta thân mật vỗ lưng người kia khi tha thiết ôm nhau. Thế giới tối tăm bà đã thoắt dựng một hình người. Một thiết kế hoang đường.

- Em chờ mình lâu quá.

Không nghe ai nói gì, vì Nhiên chẳng thấy ai bên bà. Chỉ nắng chiều và núi xa xanh màu chàm. Bà quàng cánh tay mặt vào khoảng  không, như ta choàng qua vai âu yếm một người. Giọng bà rất buồn:

- Gần em chút nữa.

Bà ngửi không gian. Bà nói nhỏ nhẹ. Nhiên nghe rõ, Da của ông nội mùi nhang khói. Nhiên bắt đầu sợ hãi, nhưng quả thật cô nghe rõ mùi trầm thơm, thoảng trong gió.

Bà ra dấu bảo Nhiên đứng dậy, nhường chiếc ghế cho ông ngồi.

Núi phía trời tây hãy còn le lói ánh chiều.

“Em vẫn thường thấy mình về trong giấc ngủ khuya khoắt, cơn mơ đầy nắng. Rồi mình vội bỏ đi. Sao mà bỏ em. Vì sao cuộc đời chỉ còn ý nghĩa trong những giấc chiêm bao”.

Chừng có ai nói gì đó. Trong khoảng chiều im vắng. Bà lắng tai nghe. Lời trong lá rụng, trong cành trúc lay, trong nắng mềm. Những lời an ủi bà. Những nhắc nhở kỷ niệm. Hỏi bà cái tình thế, cái hoàn cảnh vợ con còn nơi trần thế. Chừng như được dịp tỏ tình, bà tuôn trào tâm sự.

Bọn họ đã đến. Chúng ta phải ra đi. Anh bỏ biệt em từ lúc đồn lũy tan bóng nước. Con chúng ta  ra khỏi trường, vì bị đuổi học. Tài sản còn sót lại của chúng ta lần lượt ra đi, đến chỗ chợ trời, để con cái có miếng ăn. Những vật vô tri hóa ra nó có đường vận mệnh làm ta nhớ nhung. Soạn mấy bộ vét cùng những vật kỷ niệm của anh như đồng hồ, ống vố, những đôi giày hàng hiệu, bỗng nhớ nhung những ngày phép, anh diện vào, anh đưa em đi tiệc tùng khiêu vũ. Dưới ánh đèn màu, anh đẹp lắm, một người chồng luôn hào hoa. Tưởng anh chẳng bao giờ cũ. Bây giờ anh không còn trên cõi đời để được cũ dần mòn. Chẳng còn anh để rệu rạo bên em lẩm cẩm. Hết gì ăn rồi. Em xếp chiếc áo cưới cùng mấy chiếc áo dài, nó ra đi, tới chỗ bụi bặm nơi lề đường chợ trời. Em lột chiếc nhẩn cưới, chao ơi là tủi lòng. Nó đang biến thành bo bo, bột mỳ Liên xô, khoai sắn.

Buồn nhất ngày em thu dọn cái bàn thờ. Bán bộ lư đồng, chiếc lư nhang sứ đồ cổ. Bán cái tủ thờ gỗ quý nạm xa cừ Nhị thập tứ hiếu. Em khóc vùi. Xưa kia em quỳ bên anh cúi lạy tổ tiên, Lễ gia tiên trong ngày cưới. Nay đành đoạn đề một bọn cùi đày, so bì giá cả. Nhà trống trơn. Mọi thứ ra đi. Đó cũng là giai đoạn cuối cùng của ánh sáng trong đôi mắt em. Ánh  sáng bỏ em. Ngày tưởng niệm một năm anh Ra-đi, thì em không còn thấy gì nữa.

Gió không có hình hài nhưng gió có chiều ngang chiều dọc, gió chạy vút một đường dài. Từ trước mặt ra sau lưng. Gió đóng mộc trong trí nhớ.

Bà đưa một bàn tay vào không vuốt mặt người chồng lâu năm được gặp nhau. Bàn tay dịu dàng. Cái vuốt nhẹ âu yếm. Khuôn mặt trường niên buồn bã của bà bỗng tươi hẳn ra, qua nụ cười. Chừng như đây là đúng lúc ta lột hết cõi lòng cho gió mây.

Cái khoảng không ấy là hy vọng đời bà. Khoảng trống ấy là nơi gặp gỡ của tình yêu.

Anh ngồi đi. Ông ngồi trên chiếc ghế con bé Nhiên vừa đứng dậy nhường chỗ. Người ông gầy nhưng thanh thoát, dáng vẽ một tiên ông.

-Mình từ thiên đường trở lại?

-Không, bọn anh ở gác lửng của thiên đường, nơi trung chuyển.

-Ừa, thằng con của chúng mình nó cũng phải ở đảo châu Á hơn một năm mới tới Mỹ.

Ông bất ngờ thở ra. Bà hỏi:

- Ôi đã tới được chốn thiên đàng mà các anh còn những người buồn bã, thất chí, sầu muộn ư, mình ơi!

- Em ạ, người Mỹ H.O gốc Việt hôm nay chẳng biết tâm tình tâm huyết họ vui buồn ra sao, chứ thiên thần gốc Việt bọn anh hôm nay toàn một thảm trạng nhai lại. Ựa cái nỗi lòng đắng cay, nhai hoài mãi cái quá khứ khó tiêu. Không là loài nhai lại cũng loài gặm nhấm. Một đời bận rộn gặm nhấm, đục khoét chính đời mình.

**

Trong hơi chiều, trong mây cao, trong tiếng núi xa vọng lại, bà sờ mặt vai chồng. Bà lục tìm những vết thương. Xưa kia lửa đã cháy trên da thịt này.
Bà nói với khoảng trống:

- Mình đã “Rời khỏi chốn này” sau những  loạt đạn cuối cùng ở đồn lũy Xuân Lộc. Hôm nhận được tin buồn em tìm đến nơi nhận mình về, lo việc sau cùng, nhưng giữa chừng thì đường sá đầy ngập người chạy loạn. Mọi người khuyên em nên trở về, nơi đó không còn ranh giới đồn lũy gì, tất cả đã tan tành. Ngược chiều, giáp mặt em, là những xe tăng, đại pháo, binh lính chân mang dép, mình áo chàm, tay lăm le ngọn súng.

Trông họ khá đơn giản, nghèo nàn và khổ hận. Các anh đã thua trận vì đoàn quân này. Họ thắng các anh vì các anh là những Con Người.

Họ đã gởi trước vào đây những “Đoàn quân em bé”. Chết như đang trong giấc ngủ, giữa các đường phố Miền Nam. Trên ngực các em có xâm hàng chữ “Sinh Bắc tử Nam”. Có em chết lõa lồ, háng non tơ chưa một sợi lông măng. Bầy thiên thần ấy đi hàng tiền phong, phụng hiến cho những cuộc mở đường. Họ đã thắng các anh vì xem những em bé kia không phải là con người.

Bà ôm cái khoảng không, đã nhuốm màu hoàng hôn. Đôi mắt không còn ánh sáng của bà trông rất tội nghiệp. Tâm sự dài lắm. Niềm đau, bao kỷ niệm màu máu bầm, những hy vọng bong bóng nước, bấy lâu đã hành hạ bà.

Bà gục vào vai người không bóng người. Nước mắt chảy dòng. Bà nói “Cảm ơn mình lau nước mắt cho em. Ôi mình còn giữ chiếc lau kỷ niệm này ư?”
Không gian bày biện những nghi ngờ. Trăng đã lên. Nhiên thấy bà nội trắng hếu. Bộ áo quần bà ba lụa trắng. Mái tóc trắng. Trời đầy ánh trăng. Mây màu trăng. Nhiên lạnh. Mùi xương cốt ông nội thoảng mùi thơm gỗ trầm. Không gian rỗng trống bỗng mọc ra xương cốt. Những xương khổ hạnh như lũ cây mọc trên đá.
 
Thị Trần Giữa Đàng,
Đêm cuối năm Tây lịch 2021. 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
"Chiều nay, Khang ngồi bờ đá lắng nghe sóng vỗ lần cuối vì ngày mai anh sẽ ra đi đến nước thứ ba. Khang đang nghe tiếng vọng bao kỷ niệm từ ngày bước vào mê lộ lịch sử, mang tuổi trẻ đi mải miết mà không tìm thấy lối ra trên chính quê hương mình. Khang nhớ ánh nắng chiều thoi thóp quê nhà luôn cho anh ý niệm dở dang, muộn màng số phận cho đến ngày gặp Lĩnh cùng hai đứa học trò trên chiếc sân nhà. Nơi ấy một thời chứa chấp một con người mà linh hồn đã chết nhưng cố bám víu trần gian, tận tụy mãi võ để kéo dài sự sống cho dù mỗi ngày xiêu vẹo, nghiêng ngả trên chính bước đi của mình." -- Một truyện ngắn mang nặng tâm sự hoài niệm một thời trai trẻ nơi quê nhà, của nhà văn Lê Lạc Giao, Việt Báo trân trọng giới thiệu.
Có xa quê hương đất nước nhiều năm, mỗi khi Tết đến Xuân về, người ta mới cảm nhận không khí chung quanh mình như thiếu thiếu một cái gì rất quan trọng? Không phải vì đất lạ, người không quen biết, không cùng chủng tộc. Cũng không phải vì những đồ ăn, thức uống khi mua về thiếu đi cái hương vị đất nước của quê hương bản quán mà có lẻ chỉ vì... cái không khí chung quanh mình nó khác biệt và cả cái mùi vị của mùa xuân cũng nhiều lạ lẫm.
Tôi bao giờ cũng hình dung Tết gắn liền với đất Bắc, nơi đi trước mùa Xuân phải có một mùa Đông. Mùa Đông ở nơi này mỗi năm mỗi khác, nó có thể lạnh nhiều hay lạnh ít, độ ẩm có thể cao hay thấp, nhưng nhất thiết không thể không có gió bấc và mưa phùn. Không khí se lạnh làm cho con người phải co ro một chút, rùng mình một chút, chính là sự chuẩn bị không thể thiếu để cho ta bước vào cái mốc thời gian mới đối với mỗi người mỗi nhà.
Ông cụ thường ca cẩm anh con trai nuôi mèo từ một con đến cả đàn, từ đời cụ mèo đến chắt mèo trong khi chuyện vợ con chẳng hề nghĩ đến. Nhiều năm trước đám bạn anh phải tranh nhau mà xin mèo về làm thú cưng. Giờ thì họ không muốn xin nữa vì ngại chăm, hoặc dẫu có muốn chăm thì đã đến lúc chăm cháu nội cháu ngoại chứ không đến lượt thú cưng. Thế là lũ mèo của anh hiện tại còn những bốn con, được cái ông cụ thương anh con trai nên anh có việc đi đâu thì lại cặm cụi cho chúng ăn.
Truyện này viết về một người anh, và nhiều phần là hư cấu. Nghĩa là, chỉ một phần có thực. Nhưng tôi không thể nào nói rõ là phần nào thực, phần nào hư. Nói rõ có khi lại hỏng. Đã viết truyện thì, chẳng tác giả nào nói rõ đâu. Ngay như nhan đề “Bên Trời Đại Lý” cũng thấy là bên kia sự thật rồi, vì Việt Nam mình làm gì có thị trấn Đại Lý, nơi sẽ là bối cảnh của truyện ngắn này. Nhưng, nếu nói thiệt ra là Chợ Lớn, thì lại trần gian quá, chẳng thơ mộng tí nào. Thêm nữa, có một số độc giả có thành kiến với người Tàu -- làm ơn, xin sửa lại, gọi là người Hoa mới đúng và lịch sự hơn – nếu thành kiến, khi đọc, có thể mất vui. Do vậy, trong truyện này, chúng ta đồng ý rằng địa danh Chợ Lớn sẽ được mã hóa thành Đại Lý, một vương quốc cổ trong truyện Kim Dung. Các độc giả không ưa cường quốc phương Bắc xin tưởng tượng rằng Đại Lý chỉ có trong truyện, chớ đừng nhớ rằng nơi này đã bị nhà Minh thâu tóm từ thế kỷ 14.
Cho đến thời đại này, chuyện bói vẫn được tôn trọng, không chỉ trong dân gian, mà còn xảy ra sau lưng sân khấu chính trị, kinh tế. Hầu hết các nhà lãnh đạo ở Đông phương đều xem bói, có khi đã tuyển dụng một thầy bói nổi tiếng để hỏi việc thành bại mỗi lần gặp khó khăn và thầy bói đó chỉ đạo thay vì vị lãnh tụ được lòng tin của dân chúng. Ở Tây phương cũng vậy, ngày xưa họ tin dùng các thầy phù thủy; ngày nay họ dùng những kỹ thuật khoa học để dự đón tương lai. Bất kỳ thứ gì, nếu có chữ “đoán” đều thuộc về dòng họ “Bói”. Bói là những hành động và lời lẽ làm cho “mê” và “tin” một cách “tín” nhiệm. Hầu hết những người có học đều xem bói là mê tín, nhưng cái thứ mê tín này ẩn núp tận xương tủy thần kinh, chỉ chờ đúng dịp sẽ xuất hiện. Từ những chuyện quan trọng như đầu tư kinh doanh, xuất quân viễn chinh, quyết định chính trị, cho đến những chuyện vui chơi: Khi vào một đám đông, bạn chỉ cần bắt đầu xem chỉ tay của một người, lập tức, kẻ lạ người quen kéo đến ngồi chung quanh, chờ đến p
Hồi còn nhỏ, tôi nghe nhạc xuân với tinh thần “kỳ thị” cao độ. Nghe “…tình xuân chớm nở đêm qua, khi mùa chinh chiến đã lui ra ngoài đời…” thì thấy phê quá xá! Nhưng lại hết sức bực mình khi nghe bên hàng xóm vẳng sang “… trên đường đi lễ xuân đầu năm… chách chách chách chách bum chách bùm chách bum (tiết tấu habanera) Qua một năm ruột rối tơ tằm…”. Tôi càu nhàu trong đầu “nhạc xuân gì mà buồn thế!...” Sau này lớn lên, tôi mới thấy mình vô lý quá cỡ. Thực ra bài Xuân Thì của Phạm Duy giai điệu buồn cũng không kém gì bài Câu Chuyện Đầu Năm của Hoài An. Vấn đề chỉ là tại mình thích thì khen hay, còn không thích thì chê là buồn, thế thôi!
Những cánh mai đua nở giữa mùa đông, xác rơi phủ mặt đất màu vàng tươi của cái chết còn rất mới. Mới như tuổi thơ của tôi ngày hôm qua. Suốt tuổi trẻ, Tết vẫn đem cho tôi một hạnh phúc buồn bã khi sống lại kỷ niệm, thứ cảm giác hao hao như gốc mai gọi mùa xuân bằng những cánh hoa rơi. Tôi yêu những tập tục ngày xưa mà bây giờ có sự cảm thông rằng không mấy ai đủ sức làm theo. Người ngoài nước thay đổi để hội nhập vào văn hóa mới, cả người trong nước cũng vậy. Tôi hoài niệm sự yên bình của đời sống và sự đơn giản của con người trong mắt tôi ngày ấy.
Hẳn nhiên rồng được cho là loài linh thú. Ngày xưa cha ông chúng tôi săn rồng ngoài biển, có khi trên núi. Về sau, rồng bị săn giết nhiều, không kịp sinh đẻ, thế giới sợ chúng tuyệt chủng nên đưa vào sách đỏ. Tôi ở xa về, tôi nghĩ mình sống ngang với lịch sử. Tôi thèm thịt rồng. Nga là đại gia, nó làm giàu vô cùng nhanh nhờ buôn đất đai, chứng khoán, và mọi thứ ám muội khác. Nga nói, “Ngày nay không mấy ai biết vị thịt rồng ta ra sao, các nhà hàng sang trọng trong nước phải mua rồng tận bên Tàu. Thịt rồng Tàu tanh lợm, nhưng thèm thì đành phải ăn.”
Truyện ngắn của nhà văn Hoàng Quân lúc nào cũng trĩu nặng hoài niệm quá khứ dù đang trăn trở với cuộc sống hiện tại nơi quê người. Việt Báo trân trọng gửi đến quý độc giả một sáng tác mới nhất của chị.
Một truyện ngắn của nhà văn Tiểu Lục Thần Phong – truyện không có cốt truyện mà chỉ là những gam màu của cuộc sống hiện đại trên nước Mỹ, xen lẫn những quan điểm riêng tư của tác giả. Việt Báo hân hạnh giới thiệu.
Hôm 22/1/2022, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc (pronounced Foock, xin đừng xuyên tạc) đăng đàn phát biểu trong chương trình “Xuân Quê Hương” dành cho kiều bào về Việt Nam đón Tết, có đọc hai câu thơ của ông, nguyên văn: Mỗi năm Tết đến Xuân về/ Quê hương đất mẹ đề huề đón con. Lê Thị Mộng Nở tôi vốn dòng dõi mười đời con cháu nhà bần cố nông, dù thơ văn dốt đặc cán mai, nhưng đọc hai câu thơ này của Nguyễn Chủ tịch


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.