Hôm nay,  

Kéo Pháo Ra?

31/03/202219:57:00(Xem: 5526)

Lịch sử quân sự

dbp 2


Nhân ngày tang của đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhật trình cánh tả Le Monde số ra ngày 4 tháng 10-2013 đăng bài “Anh hùng của nền độc lập Việt Nam đã chết” (Le général Giap, héros de l'Indépendance vietnamienne, est mort) của ký giả thân Cộng Jean-Claude Pomonti từng bị chính phủ VNCH và Hoàng gia Miên trục xuất. 


Năm 2004, Pomonti quay lại Hà Nội và thực hiện phỏng vấn Võ Nguyên Giáp. Pomonti ghi trong bài viết: 


“Giáp say mê Nã Phá Luân và trong tất cả những chiến thuật của Bonaparte, Giáp giữ lại yếu tố bất ngờ. Trước sự ngạc nhiên của chúng tôi, Giáp kêu lên: ‘Việc Bonaparte đào thoát khỏi đảo Elbe về đất liền cầm quân, là tuyệt vời!’ Giáp muốn nhắc đến việc vua Louis XVIII gửi ngự lâm quân chặn bắt Nã Phá Luân nhưng rồi đạo quân ấy đã theo hoàng đế. Một nháy mắt của Giáp về sự trung thành của các tướng lĩnh đối với chính mình. […] Giáp còn là một thiên tài tiếp vận. Một ngày, Giáp nhắc lại với chúng tôi phương châm mà Bonaparte vận dụng khi hành binh sang Ý: ‘Nơi nào một con dê chui qua, một người lính có thể vượt qua. Nơi nào một người lính có thể đi qua, một tiểu đoàn có thể hành quân.’ Giáp nói tiếp: ‘Ở Điện Biên Phủ, để cung cấp 1 ký gạo cho bộ đội đang vây cứ điểm, dân công tiêu thụ 4 ký trong lúc vận chuyển. Chúng tôi đã dùng 260,000 dân công, 20,000 xe đạp, 11,800 bè gỗ, 400 xe vận tải Molotova và 500 ngựa.’ Dưới sự che chở của rừng rậm, đại bác Việt Minh đã được tháo rời từng cơ phận để mang lên các ngọn đồi nhìn xuống lòng chảo, rồi ráp lại.” [1]


Là ghi chép của Jean-Claude Pomonti.


Với những ai quan tâm chiến tranh, nếu đã có một thiên tài quân sự, thì thiên tài đó phải là Trần Đăng Ninh, tổng cục trưởng Tổng cục Hậu cần Việt Minh đã cung cấp vũ khí, thuốc men, đạn dược, lương thực cho quân đoàn tác chiến chủ lực Việt Minh trong suốt 9 năm chiến tranh, không bao giờ thiếu, bất kỳ địa hình trận đánh. Một Trần Đăng Ninh mà trong hồi ký Võ Nguyễn Giáp không một lời tri ân. Trừ phi… chính các cố vấn Tàu: trung tướng Vu Bộ Huyết (于步血) tổng cục Hậu cần, chủ nhiệm quân nhu-quân dụng, thiếu tướng Mã Tây Phu (马西夫), tổng cục tài chính-lương thực, thiếu tướng Lý Học Thư (李学) quản lý vật tư … phụ trách và làm hết?  


Trên các trang sử Quân đội Nhân dân, thường xuyên số dân công được ghi 25,000. Phía Pháp ước tính 70,000 cho trận Điện Biên. Lần đầu tiên Võ Nguyên Giáp thừa nhận sử dụng 260,000 dân công. Cưỡng bách hay tình nguyện? Những ai sống trong Nam sau 75 biết rõ: mỗi hộ, mỗi tổ dân phố phải cắt cử người đi lao động XHCN cho đủ chỉ tiêu Phường-Quận. Vào thời chiến, chắc chắn là một bắt buộc trong những vùng “giải phóng”.


Phần quan trọng trong tường thuật của Pomonti là câu hỏi về việc kéo pháo ra khỏi thung lũng, lui ngày tấn công đã ấn định 25 tháng 1 sang 13 tháng 3-1954. Võ Nguyên Giáp trả lời bằng Pháp văn: “Le chef de nos conseillers chinois s’était prononcé pour une attaque rapide. Je donne l’ordre de retirer les troupes, y compris l’artillerie. La décision la plus difficile de ma carrière de commandant en chef.” (Cố vấn trưởng Trung quốc muốn đánh nhanh. Tôi ra lệnh rút quân ra, kể cả pháo binh. Là quyết định khó khăn nhất trong binh nghiệp Tổng chỉ huy của tôi.)  


Trong chương Quyết Chiến Điện Biên Phủ, đăng trong Thượng Tướng Phong Vân Lục, Nxb Đại Bách Khoa Toàn Thư năm 2000, Vương Chấn Hoa (王震华) cho một phiên bản khác: Chính Vi Quốc Thanh (韋國清), cố vấn trưởng Trung cộng, lấy quyết định hoãn tấn công và thay đổi phương thức đánh nhanh, thọc sâu, giải quyết chiến trường “nở hoa từ trung tâm” bằng cách áp sát, “bóc măng” từng lớp. [2]


Đâu là sự thật?


Đa phần sự thật không nằm trong những lý lẽ mà Võ Nguyên Giáp cũng như Vi Quốc Thanh viện dẫn, và một cách trùng hợp cả hai cùng viện dẫn chung những lý lẽ: Quân đoàn Tác chiến Việt Minh chưa chuẩn bị đủ; cần đưa sư đoàn 308 sang đột phá Thượng Lào để Navarre phải phân tán binh lực; các đại đoàn trưởng chưa tin chắc thắng. Các lý lẽ này ít đứng vững. Trước mỗi chiến dịch, Việt Minh đều rèn quân chỉnh cán, chiến sĩ và cán bộ chỉ huy đều phải học tập thông suốt đường lối chỉ đạo, thấm nhuần ý chí quyết thắng cũng như tuyệt đối tin vào đường lối đúng đắn của Đảng. Không được quyền băn khoăn, vì sẽ bị xem là “dao động”, chưa “giác ngộ”, còn “hữu khuynh”, chưa gột rửa tinh thần tiểu tư sản ngại gian khổ. Chưa “quyết tâm phấn đấu”… Trên mặt quân sự, với 5 sư đoàn chính quy 304, 308, 312, 316, 351 cộng thêm trung đoàn độc lập 148 lên đến 60,000 lính, Việt Minh chiếm ưu thế tuyệt đối về quân số. Binh lực Pháp đã bị phân tán trước đó, không cần sư đoàn 308 đánh Thượng Lào, vì Navarre đã huy động toàn bộ tổng trừ bị tái chiếm Phú Yên-Bình Định cho chiến dịch Atlante đang diễn ra. Quân đồn trú Điện Biên Phủ không hề giảm đi sau khi sư đoàn 308 sang Lào.


Lui ngày tấn công, như thế không thay đổi chung cuộc. Với công sự không đủ sức chịu pháo, không đường bộ tiếp tế, khả năng không trợ kém, mười ngàn binh sĩ Liên hiệp Pháp tại Mường Thanh không có lối thoát giữa rừng núi vây bọc. 


Nhưng như vậy, thì vì sao Võ Nguyên Giáp và Vi Quốc Thanh bất ngờ lui tấn công một tuần trước khi khai trận? Lui tấn công còn cho de Castries thêm thời gian củng cố chiến lũy. Vì sao?


Chính vì Hội nghị Bá Linh bắt đầu ngày 25 tháng 1-1954, là ngày ấn định khai chiến ban đầu. Anh, Pháp, Nga, Hoa-Kỳ ngoài bàn đến vị trí của Đức sau thế chiến, còn tìm cách giải quyết “vấn đề Đông Dương”. Nga-Sô yêu sách thành công sự tham gia của Trung cộng trong vòng đàm phán thứ nhì sẽ diễn ra vào tháng 4-1954 tại Genève. Chính đây mới là nguyên nhân lui tấn công sang giữa tháng 3 của Võ Nguyên Giáp (hoặc Vi Quốc Thanh). Chính từ lúc này Bắc Kinh sẽ gia tăng viện trợ tối đa cho Việt Minh để Chu Ân Lai đến Genève trong thế thượng phong. 

blank

Mô hình tái hiện cảnh Việt Minh kéo pháo vào trận địa.
(Bảo tàng Chiến thắng Lịch sử Điện Biên Phủ).

 

Nếu chiến tranh là cánh tay nối dài của chính trị, như Clausewitz định nghĩa, và với ai am hiểu tổ chức của các quân đội Cộng sản từ Nga sang đến Tàu rồi Việt Minh, thì một quyết định ngưng ngang quan trọng như vậy phải do Mao gửi công điện cho Vi Quốc Thanh hoặc Hồ Chí Minh yêu cầu Võ Nguyên Giáp trì hoãn. Cá nhân Võ Nguyên Giáp không thể lấy một quyết định ảnh hưởng đến cục diện cuộc chiến mà không thông qua Tổng bí thư kiêm Tổng quân ủy trung ương là Trường Chinh lúc đó. Nhưng vì sao đã ngưng ngang?


Vì cả Mao và Hồ Chí Minh đều muốn biết kết quả hội nghị Bá Linh diễn ra cuối tháng Giêng. Cả hai không muốn dốc hết vốn liếng vào một canh bạc. Chu Ân Lai phải có mặt ở Genève thì Điện Biên Phủ mới nặng nghìn cân, ngược lại, chỉ là một trận đánh như trận Nà Sản trước đó. 

Cho đến khi ấy ngoài khối Cộng sản, Trung cộng chưa được công nhận như một quốc gia Trung Hoa mà vị thế chính thức là Đài Loan. Chiến tranh Cao Ly khiến Bắc Kinh bị cô lập. Một mình Nga-Sô sau “băng hà” của Stalin không đủ sức nặng. Sự có mặt của Chu Ân Lai mới làm lệch cán cân. Tầm quan trọng của Hội nghị Bá Linh là đây. Bắc Kinh phải có tiếng nói, sức áp đảo trên trường quốc tế thì những chi viện cho Việt Minh mới đáng công, đáng của. 


Trước Bá Linh, quân viện cho Việt Minh bằng người, ngựa, lừa. Sau Bá Linh là hàng đoàn xe Molotova từ Hà Khẩu (Vân Nam) sang Lào Cai rồi xuống đến tận Tuần Giáo chỉ cách Điện Biên Phủ 70 cây số. Anh hùng Tô Vĩnh Diện và xe đạp Peugeot chỉ “thi công” vận tải từ binh trạm Nà Nhạn, trên 20 cây số cuối cùng. 


Trước Bá Linh, Mao và Hồ Chí Minh “chắc thắng” nhưng ý thức sẽ hao tổn binh lính. Vì Điện Biên mạnh gấp đôi Con Nhím Nà Sản mà tại Nà Sản, cả hai sư đoàn 308 của Vương Thừa Vũ và 312 của Lê Trọng Tấn đều “thất thu”. Không đột phá. Chịu tiêu hao. Tại Điện Biên, giá “mạc chược” phải cao hơn. 


Dốc hết túi vào một canh bạc khiến Mao cân nhắc. Một chiến thắng phải có tầm ảnh hưởng chính trị, phải là tiếng sấm rền trong chính giới quốc tế có quyền định đoạt vận mệnh Đông Dương, thì mới thích đáng. Là lý do cho việc kéo pháo ra của Võ Nguyên Giáp. Có nghĩa, khi ấy, Cộng sản chưa quyết đánh. 

 

Hội nghị Bá Linh khai mạc 25 tháng 1-1954 và kết thúc ngày 18 tháng 2-1954. Trên trang Báo Điện tử của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong bài "Kéo Pháo Vào, Kéo Pháo Ra - Quyết Định Khó Khăn Nhất!", viết: “Thực hiện quyết định của Bộ Chỉ huy chiến dịch, ngay từ chập tối ngày 26-1-1954, lực lượng pháo binh của ta đã đồng loạt tiến hành rút khỏi trận địa. […] Với những nỗ lực và quyết tâm của bộ đội pháo binh, mờ sáng ngày 5 tháng 2-1954 (tức mùng 3 Tết âm lịch), khẩu pháo cuối cùng đã được kéo về vị trí tập kết, nhiệm vụ kéo pháo ra đã hoàn thành thắng lợi.”  


Như thế, dân Việt hôm nay biết tiến trình kéo pháo ra bắt đầu ngày 26, một ngày sau hội nghị Bá Linh khai mạc. Nhưng rồi sau đó, sau “thắng lợi đàm phán Béc-lin” thì kéo pháo lên núi trở lại lúc nào? Quân đội Nhân dân không nhắc đến.

blank


Trên trang web
ANTV - Truyền hình công an nhân dân, bài “Con đường kéo pháo huyền thoại trong chiến dịch Điện Biên” đăng ngày 7 tháng 5-2019 nhân kỷ niệm 65 năm Điện Biên Phủ, viết: “Cho đến hôm nay, cựu chiến binh Phạm Đức Cư, một chiến sỹ của Trung đoàn 367 pháo cao xạ năm xưa vẫn còn nhớ rõ từng con dốc, con đèo mà ông và những đồng đội đã gồng sức, gồng mình đưa pháo qua. Sau 9 ngày đêm, lực lượng của ta đã đưa pháo vào chiếm lĩnh trận địa an toàn, bí mật. Tuy nhiên, ngay sau đó, khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định đổi phương châm tác chiến từ đánh nhanh thắng nhanh sang đánh chắc tiến chắc, lực lượng pháo binh lại nhận được lệnh kéo pháo trở lại nơi tập kết vất vả gian khổ gấp đôi song tất cả vẫn quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ bằng mọi giá...” 


Có nghĩa, phải mất 9 ngày đêm để kéo pháo lên núi trở lại. Là ít nhất. Rồi thêm vài tuần lễ nữa cho pháo thủ lấy lại sức, lập phương án mới, tái phối trí, tái tiếp tế và phối hợp bộ binh. Vì vậy khai trận 13 tháng 3.


Huyền thoại “kéo pháo ra” vẫn được xem là thiên tài của Võ Nguyên Giáp, trên thực tế không cần thiết. Vì cho đến kết thúc, các tiền sát viên pháo binh Pháp và Phi đoàn Quan sát Pháo binh Bắc phần đã không xác định được vị trí pháo Việt Minh. Đại bác 105 ly của sư đoàn nặng 351 đều đặt trong hang núi, ngụy trang và kéo ra khi bắn. 


Là huyền thoại. Còn thiên tài thực sự?


Báo Đảng ca ngợi: “Chiến thắng Điện Biên lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu khẳng định tư duy quân sự sắc sảo và linh hoạt của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với quyết định chuyển phương án tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”.

  

“Tư duy quân sự sắc sảo” gộp trong ba mệnh đề: “Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu; đánh chậm, đánh chắc, chắc thắng mới đánh; thần tốc, táo bạo, bất ngờ.” 


Mệnh đề 1: “Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu” không phải của Võ Nguyên Giáp mà của Tôn Tử, trong Binh Pháp yêu sách “Đánh vào khoảng trống” là nơi địch ít quân, bố phòng kém hoặc bất lợi.


Mệnh đề 2: “Đánh chậm, đánh chắc, chắc thắng mới đánh” là của tướng Thomas Jonathan Jackson trong nội chiến Nam-Bắc Mỹ: “Không bao giờ tác chiến nếu cơ may quá mỏng (Ne jamais se battre si les chances sont trop minces)”.


Mệnh đề 3: “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ?”

 

Sau chiến thắng Biên Giới đầu tháng 10-1950, Việt Minh đã có thể chiếm Hà Nội vì quân Pháp hoảng loạn mất tinh thần liên tiếp rút khỏi Lạng  Sơn, Lào Kai, Hòa Bình. Phải mất ba tháng sau Võ Nguyên Giáp mới khai trận Vĩnh Yên ngày 13 tháng 1-1951, thì đã quá muộn, vì danh tướng de Lattre de Tassigny với quân viện đã sang Đông Dương (ngày 17 tháng 12-1950) khiến Vĩnh Yên là một thất trận của Việt Minh.  


Trên mặt hành quân, Võ Nguyên Giáp gần với Lord Bernard Montgomery ở tính thận trọng, chậm chạp điều binh, hơn là ở khả năng thần tốc của Guderian hay Rommel.    

 

Trần Vũ

(Tháng 3-2022)


[1] Le général Giap, héros de l'indépendance vietnamienne, est mort (lemonde.fr)

[2] Thượng Tướng Phong Vân Lục





Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Đợi, và đợi. Có đến khoảng gần một trăm người xếp hàng đợi. Mới có năm giờ sáng thôi! Trời Đà Lạt đổ sương xuống nghe ướt tóc, ướt vai. Phòng bán vé còn đóng kín cửa. Sáu giờ mới bán vé. Biết vậy rồi, nhưng đám đông người này vẫn đến sớm chờ đợi. Chẳng qua là số xe có giới hạn, mình đến sớm mới mong có xe đi, nếu không thì phải về và trở lại vào ngày mai. Người ta nhìn nhau, như ngầm nói qua đôi mắt rằng đến sớm chắc ăn hơn. Mà không chừng có người đã ngủ đêm trước phòng bán vé để được xếp hàng phía trên cùng.
Tháng 7 trời xanh cao, mùa lên hâm nóng. Mặt đất nung nhiệt ngấm ngầm địa chấn, như muốn cùng người rung vang lời ngân quá khứ. Tháng 7 gọi về hàng phượng đỏ thắm rung rinh chùm nở, thứ lung linh ảo mờ, gần gụi mà xa thẳm, “mù không lối vào...” (TCS). Vang vang trong gió, lời trẻ thơ láng giềng vọng lại đùa vui tiếng nước...
Nếu Thanksgiving ở bên Mỹ mang màu sắc rộn rã chuẩn bị cho mùa Giáng Sinh, thì Thanksgiving bên Canada lại rơi vào Tháng Mười dịu êm, có đủ màu sắc nâu vàng đỏ của lá cây chuyển màu cuối Thu, với màu cam của những trái pumpkins cho lễ hội Halloween . Những ngày này, gia đình tôi chộn rộn với những đợt “thu hoạch” cuối cùng, chuẩn bị dọn dẹp vườn tược sạch sẽ trước khi mùa lạnh đang đến. Theo ý nghĩa nguyên thủy của Thanksgiving là Tạ Ơn đất trời cho mùa màng bội thu, thì năm nay gia đình tôi cũng xin được Tạ Ơn. Mấy cây táo và plum trúng mùa trĩu quả, hái mấy lượt vẫn không hết. Những quả plum tím căng mọng ngọt ngào, vừa đem tặng bạn bè, hàng xóm, vừa để đông lạnh ăn dần, mà vẫn còn mấy rổ tươi đầy ắp. Mùa táo, nhiều gia đình Việt Nam thích đem ngâm chua ngọt, trong khi những người bản xứ làm mứt táo, hoặc sên táo làm apple pie, một trong những món bánh khoái khẩu của nhiều người trong bàn ăn Thanksgiving bên cạnh pumpkin pie .
Nhạc sĩ Hùng Lân mất vào ngày 17/9/1986 tại Sài Gòn. Hôm nay, ngày 17/9/2025 tôi nhớ tới ông. Tính ra đã 39 năm. Ba năm trước, tại nhà thờ Phanxicô Dakao đã có một lễ giỗ 36 năm ngày mất của ông. Linh mục Đỗ Xuân Quế, chủ tế lễ giỗ, đã nói trong thánh lễ: “‘Hôm nay là lễ giỗ thứ 36 của ông Phêrô Hoàng Văn Hương tức là nhạc sĩ Hùng Lân. Ông là người đáng cho chúng ta trân trọng và quý nhớ. Vậy chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện cho ông được vào nước Thiên Chúa. Nếu ông đã được vào rồi thì xin nhớ đến chúng ta là những người đang tiếp tục cuộc hành trình nơi dương thế đang hướng về Nước Trời.” Sau thánh lễ là chương trình tưởng niệm trong đó có tiết mục trình diễn nhạc của Hùng Lân, cả nhạc đạo lẫn nhạc đời. Người dẫn chương trình cho tiết mục này là nhạc sĩ Cao Huy Hoàng, đến từ Phan Thiết. Ông chia sẻ: “Nếu ngày ấy, thầy Hùng Lân qua đời, Chúa hỏi ‘nén bạc của ta đâu?’, thầy có lẽ không trả lời hoặc chưa trả lời kịp thì hôm nay, chúng ta có thể nhìn lại và thấy được rằng nén bạc của thầ
« Chưa gặp em tôi đã nghĩ rằng, có người con gái đẹp như trăng… khi gặp em rõ thấy một bà chằng! » … Chằng tinh, hay chằn tinh là một loài người hay cũng coi là một loài quỷ hung ác. Tùy vào hoàn cảnh, tùy vào người ta gặp, ta đối diện. Nay thế giới có nhiều loại chằn tinh, chằn ở trong mọi lãnh vực, chính trị, văn hoá, kinh tế, giáo dục và cả trong xã hội v.v…Do đấy, ta muốn tìm hiểu nguyên do chằn ở đâu ra. Hẳn là trong văn hóa Nam Bộ Việt Nam - Ấn Độ - Khmer…? Theo tác giả Huỳnh Thanh Bình, chằn là một loại sinh vật truyền kỳ, làm hộ pháp, canh giữ chùa, tháp, chánh điện phật giáo nam truyền và chiếm vị trí quan trọng trong văn hóa và tâm linh của người Khmer nam bộ, phổ biến trong kho tàng truyện kể dân gian và tuồng tích sân khấu của đa phần người Đông Nam Á.
Cả ông ta và tôi cùng cười xòa. Ui, mình đúng là đãng trí thứ thiệt. Phần Lan đã gia nhập Eurozone từ 1999 và dùng Euro ngay từ buổi đầu như những quốc gia thành viên khác. Ngày trước, nhắc đến những thủ đô bắc Âu, người ta thường nghĩ đến Oslo giàu có của Na Uy, Copenhagen trẻ trung của Đan Mạch. Giờ đây, Helsinki dần dà từng bước góp mặt vào danh sách những thủ đô được du khách ưa chuộng. Sức thu hút của thành phố ngày càng tăng. Từ 15 năm nay, Helsinki là một trong những thành phố tân tiến nhất Âu châu.
Bà xỏ chân vào đôi dép, lê lẹp xẹp vào buồng. Bà lấy ra một bịch nhựa trong đó đựng trăm thứ lặt vặt không ra hình thù gì. Bà nhìn trước, ngó sau như người ăn trộm. Chị mua ve chai đứng ở ngoài cửa bếp. Như một việc đã quá quen thuộc, chị đón lấy cái túi, móc vào cái cân xách. Trước kia chị phân loại giấy ra giấy, nhựa ra nhựa, nay thì hai bên đã thỏa thuận với nhau là có một cái giá trung bình cho toàn thể. Bà thì nhìn đăm đăm vào mớ hàng lặt vặt ấy như nhìn một thứ gì quý giá lắm. Mà không quý sao được, vì đó là kết quả của nhiều tuần bà lượm lặt và cất giữ.
Cho tới bây giờ, thỉnh thoảng trong giấc ngủ tôi vẫn nằm mơ tới chuyện thi Tú tài và giật mình tỉnh dậy, mừng húm mà mồ hôi vẫn đổ ra. Trong lần thi Tú Tài I, tôi đã thức đêm thức hôm học đến bị yếu phổi. Chữ “Tú Tài” nặng nhọc với tôi như vậy tuy nghĩa của nó là “đẹp đẽ, có khả năng, tài giỏi”.Ông Tú Xương có lẽ cay đắng với chữ “Tú Tài” không kém gì tôi. Ông vác lều chõng đi thi tất cả 8 lần, từ khoa Bính Tuất (1886) tới khoa Bính Ngọ (1906). Ba lần đầu ông đạp vỏ chuối, tới lần thứ tư, năm Giáp Ngọ (1894), ông mới vớ được cái Tú Tài nhưng là Tú Tài đậu vớt, chữ ngày đó gọi là “Tú Tài Thiên Thủ”. Ông chết với cái danh Tú Tài, chẳng bao giờ kiếm được cái “Cử Nhân” mặc dù vẫn cặm cụi đi thi.
*SONG THAO Tôi chừ chỉ chơi thể thao trên ghế sa-lông, ngồi coi người ta chơi. Thứ tôi coi người ta chơi là hockey, tennis và đôi khi bóng tròn. Mình không còn khả năng thì coi người ta chạy nhảy cũng là một cách chơi. Cách chơi biết mình biết ta. Các ông bạn tôi cũng chơi như tôi. Có điều mỗi người chơi theo ý thích riêng của mình. Ông Hoàng Xuân Sơn, ông Luân Hoán cũng na ná như tôi. Nhưng ông Luân Hoán hơi ngả về bóng tròn. Ông Hồ Đình Nghiêm máu mê hơn. Ông sa đà vào bóng tròn. Thời gian vừa qua, ông coi giò coi cẳng các nữ nhân tranh giải bóng tròn thế giới FIFA một cách mê mệt. Ngày ngày ông bá cáo bà con trên Facebook tường tận về từng cặp chân vàng mà trắng, cô nào đá hay, cô nào chụp banh giỏi, ông rành như có họ hàng thân thiết.
Bạn có thể xem bài này như truyện ngắn. Có thể gọi là nhiều truyện ngắn trong một truyện ngắn, hay là ghép từ nhiều mẩu truyện. Bạn cũng có thể đọc như tùy bút, hay bản tin, hay là vân vân... nghĩa là bất cứ những gì có chữ, có thể đọc lên, có thể nghe được như âm thanh. Đó là những gì tự nhiên hiện lên trong trí nhớ của tôi, những gì tôi bất chợt nghe bên tai khi ngồi bên sông, ven biển, góc rừng, hay khi nửa đêm nhìn ra hàng hiên.
Chẳng hiểu vì sao, vào lúc bắt đầu cảm thấy già, tôi lại lẩm cẩm đi tìm lại định nghĩa về chữ “bạn”. Bạn tôi là ai? Tại sao tôi lại kết bạn với họ? Lúc trẻ đã từng có một thời suýt bị vợ bỏ vì “lo cho bạn nhiều hơn cho gia đình”; nhưng khi đến độ tuổi “lục thập nhi nhĩ thuận” tôi lại đâm ra làm biếng gặp hầu hết những nhóm bạn từng một thời thân thiết.
Hôm đó, cô nhất định phải giết cây dạ quỳnh. Khi đêm tối bao phủ, cô sẽ ra tay. Lấy một con dao bén để xắt cành lá nó ra từng mảnh nhỏ. Lấy chai thuốc Draino loại hủy hoại rễ cây để ngâm hết các rễ của nó. Nó phải chết một cách tiệt tích, không còn một chút cơ hội nào sống sót. Nó phải bị phơi khô trên cao vì Quỳnh đụng đất sẽ có thể mọc lại. Cô biết, giết Quỳnh là mất đi tiếng nói vo ve chị em tâm sự. Cô đơn khi có Quỳnh sẽ thay vào cô đơn không có Quỳnh. Cô sẽ bắt đầu một cô đơn khác.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.