Hôm nay,  

Kéo Pháo Ra?

31/03/202219:57:00(Xem: 5666)

Lịch sử quân sự

dbp 2


Nhân ngày tang của đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhật trình cánh tả Le Monde số ra ngày 4 tháng 10-2013 đăng bài “Anh hùng của nền độc lập Việt Nam đã chết” (Le général Giap, héros de l'Indépendance vietnamienne, est mort) của ký giả thân Cộng Jean-Claude Pomonti từng bị chính phủ VNCH và Hoàng gia Miên trục xuất. 


Năm 2004, Pomonti quay lại Hà Nội và thực hiện phỏng vấn Võ Nguyên Giáp. Pomonti ghi trong bài viết: 


“Giáp say mê Nã Phá Luân và trong tất cả những chiến thuật của Bonaparte, Giáp giữ lại yếu tố bất ngờ. Trước sự ngạc nhiên của chúng tôi, Giáp kêu lên: ‘Việc Bonaparte đào thoát khỏi đảo Elbe về đất liền cầm quân, là tuyệt vời!’ Giáp muốn nhắc đến việc vua Louis XVIII gửi ngự lâm quân chặn bắt Nã Phá Luân nhưng rồi đạo quân ấy đã theo hoàng đế. Một nháy mắt của Giáp về sự trung thành của các tướng lĩnh đối với chính mình. […] Giáp còn là một thiên tài tiếp vận. Một ngày, Giáp nhắc lại với chúng tôi phương châm mà Bonaparte vận dụng khi hành binh sang Ý: ‘Nơi nào một con dê chui qua, một người lính có thể vượt qua. Nơi nào một người lính có thể đi qua, một tiểu đoàn có thể hành quân.’ Giáp nói tiếp: ‘Ở Điện Biên Phủ, để cung cấp 1 ký gạo cho bộ đội đang vây cứ điểm, dân công tiêu thụ 4 ký trong lúc vận chuyển. Chúng tôi đã dùng 260,000 dân công, 20,000 xe đạp, 11,800 bè gỗ, 400 xe vận tải Molotova và 500 ngựa.’ Dưới sự che chở của rừng rậm, đại bác Việt Minh đã được tháo rời từng cơ phận để mang lên các ngọn đồi nhìn xuống lòng chảo, rồi ráp lại.” [1]


Là ghi chép của Jean-Claude Pomonti.


Với những ai quan tâm chiến tranh, nếu đã có một thiên tài quân sự, thì thiên tài đó phải là Trần Đăng Ninh, tổng cục trưởng Tổng cục Hậu cần Việt Minh đã cung cấp vũ khí, thuốc men, đạn dược, lương thực cho quân đoàn tác chiến chủ lực Việt Minh trong suốt 9 năm chiến tranh, không bao giờ thiếu, bất kỳ địa hình trận đánh. Một Trần Đăng Ninh mà trong hồi ký Võ Nguyễn Giáp không một lời tri ân. Trừ phi… chính các cố vấn Tàu: trung tướng Vu Bộ Huyết (于步血) tổng cục Hậu cần, chủ nhiệm quân nhu-quân dụng, thiếu tướng Mã Tây Phu (马西夫), tổng cục tài chính-lương thực, thiếu tướng Lý Học Thư (李学) quản lý vật tư … phụ trách và làm hết?  


Trên các trang sử Quân đội Nhân dân, thường xuyên số dân công được ghi 25,000. Phía Pháp ước tính 70,000 cho trận Điện Biên. Lần đầu tiên Võ Nguyên Giáp thừa nhận sử dụng 260,000 dân công. Cưỡng bách hay tình nguyện? Những ai sống trong Nam sau 75 biết rõ: mỗi hộ, mỗi tổ dân phố phải cắt cử người đi lao động XHCN cho đủ chỉ tiêu Phường-Quận. Vào thời chiến, chắc chắn là một bắt buộc trong những vùng “giải phóng”.


Phần quan trọng trong tường thuật của Pomonti là câu hỏi về việc kéo pháo ra khỏi thung lũng, lui ngày tấn công đã ấn định 25 tháng 1 sang 13 tháng 3-1954. Võ Nguyên Giáp trả lời bằng Pháp văn: “Le chef de nos conseillers chinois s’était prononcé pour une attaque rapide. Je donne l’ordre de retirer les troupes, y compris l’artillerie. La décision la plus difficile de ma carrière de commandant en chef.” (Cố vấn trưởng Trung quốc muốn đánh nhanh. Tôi ra lệnh rút quân ra, kể cả pháo binh. Là quyết định khó khăn nhất trong binh nghiệp Tổng chỉ huy của tôi.)  


Trong chương Quyết Chiến Điện Biên Phủ, đăng trong Thượng Tướng Phong Vân Lục, Nxb Đại Bách Khoa Toàn Thư năm 2000, Vương Chấn Hoa (王震华) cho một phiên bản khác: Chính Vi Quốc Thanh (韋國清), cố vấn trưởng Trung cộng, lấy quyết định hoãn tấn công và thay đổi phương thức đánh nhanh, thọc sâu, giải quyết chiến trường “nở hoa từ trung tâm” bằng cách áp sát, “bóc măng” từng lớp. [2]


Đâu là sự thật?


Đa phần sự thật không nằm trong những lý lẽ mà Võ Nguyên Giáp cũng như Vi Quốc Thanh viện dẫn, và một cách trùng hợp cả hai cùng viện dẫn chung những lý lẽ: Quân đoàn Tác chiến Việt Minh chưa chuẩn bị đủ; cần đưa sư đoàn 308 sang đột phá Thượng Lào để Navarre phải phân tán binh lực; các đại đoàn trưởng chưa tin chắc thắng. Các lý lẽ này ít đứng vững. Trước mỗi chiến dịch, Việt Minh đều rèn quân chỉnh cán, chiến sĩ và cán bộ chỉ huy đều phải học tập thông suốt đường lối chỉ đạo, thấm nhuần ý chí quyết thắng cũng như tuyệt đối tin vào đường lối đúng đắn của Đảng. Không được quyền băn khoăn, vì sẽ bị xem là “dao động”, chưa “giác ngộ”, còn “hữu khuynh”, chưa gột rửa tinh thần tiểu tư sản ngại gian khổ. Chưa “quyết tâm phấn đấu”… Trên mặt quân sự, với 5 sư đoàn chính quy 304, 308, 312, 316, 351 cộng thêm trung đoàn độc lập 148 lên đến 60,000 lính, Việt Minh chiếm ưu thế tuyệt đối về quân số. Binh lực Pháp đã bị phân tán trước đó, không cần sư đoàn 308 đánh Thượng Lào, vì Navarre đã huy động toàn bộ tổng trừ bị tái chiếm Phú Yên-Bình Định cho chiến dịch Atlante đang diễn ra. Quân đồn trú Điện Biên Phủ không hề giảm đi sau khi sư đoàn 308 sang Lào.


Lui ngày tấn công, như thế không thay đổi chung cuộc. Với công sự không đủ sức chịu pháo, không đường bộ tiếp tế, khả năng không trợ kém, mười ngàn binh sĩ Liên hiệp Pháp tại Mường Thanh không có lối thoát giữa rừng núi vây bọc. 


Nhưng như vậy, thì vì sao Võ Nguyên Giáp và Vi Quốc Thanh bất ngờ lui tấn công một tuần trước khi khai trận? Lui tấn công còn cho de Castries thêm thời gian củng cố chiến lũy. Vì sao?


Chính vì Hội nghị Bá Linh bắt đầu ngày 25 tháng 1-1954, là ngày ấn định khai chiến ban đầu. Anh, Pháp, Nga, Hoa-Kỳ ngoài bàn đến vị trí của Đức sau thế chiến, còn tìm cách giải quyết “vấn đề Đông Dương”. Nga-Sô yêu sách thành công sự tham gia của Trung cộng trong vòng đàm phán thứ nhì sẽ diễn ra vào tháng 4-1954 tại Genève. Chính đây mới là nguyên nhân lui tấn công sang giữa tháng 3 của Võ Nguyên Giáp (hoặc Vi Quốc Thanh). Chính từ lúc này Bắc Kinh sẽ gia tăng viện trợ tối đa cho Việt Minh để Chu Ân Lai đến Genève trong thế thượng phong. 

blank

Mô hình tái hiện cảnh Việt Minh kéo pháo vào trận địa.
(Bảo tàng Chiến thắng Lịch sử Điện Biên Phủ).

 

Nếu chiến tranh là cánh tay nối dài của chính trị, như Clausewitz định nghĩa, và với ai am hiểu tổ chức của các quân đội Cộng sản từ Nga sang đến Tàu rồi Việt Minh, thì một quyết định ngưng ngang quan trọng như vậy phải do Mao gửi công điện cho Vi Quốc Thanh hoặc Hồ Chí Minh yêu cầu Võ Nguyên Giáp trì hoãn. Cá nhân Võ Nguyên Giáp không thể lấy một quyết định ảnh hưởng đến cục diện cuộc chiến mà không thông qua Tổng bí thư kiêm Tổng quân ủy trung ương là Trường Chinh lúc đó. Nhưng vì sao đã ngưng ngang?


Vì cả Mao và Hồ Chí Minh đều muốn biết kết quả hội nghị Bá Linh diễn ra cuối tháng Giêng. Cả hai không muốn dốc hết vốn liếng vào một canh bạc. Chu Ân Lai phải có mặt ở Genève thì Điện Biên Phủ mới nặng nghìn cân, ngược lại, chỉ là một trận đánh như trận Nà Sản trước đó. 

Cho đến khi ấy ngoài khối Cộng sản, Trung cộng chưa được công nhận như một quốc gia Trung Hoa mà vị thế chính thức là Đài Loan. Chiến tranh Cao Ly khiến Bắc Kinh bị cô lập. Một mình Nga-Sô sau “băng hà” của Stalin không đủ sức nặng. Sự có mặt của Chu Ân Lai mới làm lệch cán cân. Tầm quan trọng của Hội nghị Bá Linh là đây. Bắc Kinh phải có tiếng nói, sức áp đảo trên trường quốc tế thì những chi viện cho Việt Minh mới đáng công, đáng của. 


Trước Bá Linh, quân viện cho Việt Minh bằng người, ngựa, lừa. Sau Bá Linh là hàng đoàn xe Molotova từ Hà Khẩu (Vân Nam) sang Lào Cai rồi xuống đến tận Tuần Giáo chỉ cách Điện Biên Phủ 70 cây số. Anh hùng Tô Vĩnh Diện và xe đạp Peugeot chỉ “thi công” vận tải từ binh trạm Nà Nhạn, trên 20 cây số cuối cùng. 


Trước Bá Linh, Mao và Hồ Chí Minh “chắc thắng” nhưng ý thức sẽ hao tổn binh lính. Vì Điện Biên mạnh gấp đôi Con Nhím Nà Sản mà tại Nà Sản, cả hai sư đoàn 308 của Vương Thừa Vũ và 312 của Lê Trọng Tấn đều “thất thu”. Không đột phá. Chịu tiêu hao. Tại Điện Biên, giá “mạc chược” phải cao hơn. 


Dốc hết túi vào một canh bạc khiến Mao cân nhắc. Một chiến thắng phải có tầm ảnh hưởng chính trị, phải là tiếng sấm rền trong chính giới quốc tế có quyền định đoạt vận mệnh Đông Dương, thì mới thích đáng. Là lý do cho việc kéo pháo ra của Võ Nguyên Giáp. Có nghĩa, khi ấy, Cộng sản chưa quyết đánh. 

 

Hội nghị Bá Linh khai mạc 25 tháng 1-1954 và kết thúc ngày 18 tháng 2-1954. Trên trang Báo Điện tử của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong bài "Kéo Pháo Vào, Kéo Pháo Ra - Quyết Định Khó Khăn Nhất!", viết: “Thực hiện quyết định của Bộ Chỉ huy chiến dịch, ngay từ chập tối ngày 26-1-1954, lực lượng pháo binh của ta đã đồng loạt tiến hành rút khỏi trận địa. […] Với những nỗ lực và quyết tâm của bộ đội pháo binh, mờ sáng ngày 5 tháng 2-1954 (tức mùng 3 Tết âm lịch), khẩu pháo cuối cùng đã được kéo về vị trí tập kết, nhiệm vụ kéo pháo ra đã hoàn thành thắng lợi.”  


Như thế, dân Việt hôm nay biết tiến trình kéo pháo ra bắt đầu ngày 26, một ngày sau hội nghị Bá Linh khai mạc. Nhưng rồi sau đó, sau “thắng lợi đàm phán Béc-lin” thì kéo pháo lên núi trở lại lúc nào? Quân đội Nhân dân không nhắc đến.

blank


Trên trang web
ANTV - Truyền hình công an nhân dân, bài “Con đường kéo pháo huyền thoại trong chiến dịch Điện Biên” đăng ngày 7 tháng 5-2019 nhân kỷ niệm 65 năm Điện Biên Phủ, viết: “Cho đến hôm nay, cựu chiến binh Phạm Đức Cư, một chiến sỹ của Trung đoàn 367 pháo cao xạ năm xưa vẫn còn nhớ rõ từng con dốc, con đèo mà ông và những đồng đội đã gồng sức, gồng mình đưa pháo qua. Sau 9 ngày đêm, lực lượng của ta đã đưa pháo vào chiếm lĩnh trận địa an toàn, bí mật. Tuy nhiên, ngay sau đó, khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định đổi phương châm tác chiến từ đánh nhanh thắng nhanh sang đánh chắc tiến chắc, lực lượng pháo binh lại nhận được lệnh kéo pháo trở lại nơi tập kết vất vả gian khổ gấp đôi song tất cả vẫn quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ bằng mọi giá...” 


Có nghĩa, phải mất 9 ngày đêm để kéo pháo lên núi trở lại. Là ít nhất. Rồi thêm vài tuần lễ nữa cho pháo thủ lấy lại sức, lập phương án mới, tái phối trí, tái tiếp tế và phối hợp bộ binh. Vì vậy khai trận 13 tháng 3.


Huyền thoại “kéo pháo ra” vẫn được xem là thiên tài của Võ Nguyên Giáp, trên thực tế không cần thiết. Vì cho đến kết thúc, các tiền sát viên pháo binh Pháp và Phi đoàn Quan sát Pháo binh Bắc phần đã không xác định được vị trí pháo Việt Minh. Đại bác 105 ly của sư đoàn nặng 351 đều đặt trong hang núi, ngụy trang và kéo ra khi bắn. 


Là huyền thoại. Còn thiên tài thực sự?


Báo Đảng ca ngợi: “Chiến thắng Điện Biên lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu khẳng định tư duy quân sự sắc sảo và linh hoạt của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với quyết định chuyển phương án tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”.

  

“Tư duy quân sự sắc sảo” gộp trong ba mệnh đề: “Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu; đánh chậm, đánh chắc, chắc thắng mới đánh; thần tốc, táo bạo, bất ngờ.” 


Mệnh đề 1: “Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu” không phải của Võ Nguyên Giáp mà của Tôn Tử, trong Binh Pháp yêu sách “Đánh vào khoảng trống” là nơi địch ít quân, bố phòng kém hoặc bất lợi.


Mệnh đề 2: “Đánh chậm, đánh chắc, chắc thắng mới đánh” là của tướng Thomas Jonathan Jackson trong nội chiến Nam-Bắc Mỹ: “Không bao giờ tác chiến nếu cơ may quá mỏng (Ne jamais se battre si les chances sont trop minces)”.


Mệnh đề 3: “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ?”

 

Sau chiến thắng Biên Giới đầu tháng 10-1950, Việt Minh đã có thể chiếm Hà Nội vì quân Pháp hoảng loạn mất tinh thần liên tiếp rút khỏi Lạng  Sơn, Lào Kai, Hòa Bình. Phải mất ba tháng sau Võ Nguyên Giáp mới khai trận Vĩnh Yên ngày 13 tháng 1-1951, thì đã quá muộn, vì danh tướng de Lattre de Tassigny với quân viện đã sang Đông Dương (ngày 17 tháng 12-1950) khiến Vĩnh Yên là một thất trận của Việt Minh.  


Trên mặt hành quân, Võ Nguyên Giáp gần với Lord Bernard Montgomery ở tính thận trọng, chậm chạp điều binh, hơn là ở khả năng thần tốc của Guderian hay Rommel.    

 

Trần Vũ

(Tháng 3-2022)


[1] Le général Giap, héros de l'indépendance vietnamienne, est mort (lemonde.fr)

[2] Thượng Tướng Phong Vân Lục





Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Những ngày cuối tháng tư quân trường Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung vẫn đang cắm trại, chồng tôi chưa về, nhưng trước khi đi anh đã bảo tôi ở nhà có gì thì bám theo cha mẹ và các em để đùm bọc lẫn nhau. Gia đình cha mẹ tôi ở gần nên hai nhà như một...
Tôi bồn chồn liếc mắt nhìn đồng hồ, rồi lại nhìn chừng về phía hội trường đầy ấp hơi người và ồn ào tiếng cười nói. Đã hơn tám giờ mà chương trình vẫn chưa bắt đầu. Chưa bao giờ tôi thấy khó chịu về chuyện giờ giấc như lúc nầy. Thấp thoáng trong đám đông, tôi thấy Khánh đang chạy đôn đáo chừng như kiểm điểm sự có mặt của một số khách “nồng cốt”, để bắt đầu chương trình...
Tiếng hát Cẩm Vân trong trẻo, vút cao, nghèn nghẹn đầy xúc cảm. Tôi buông thả Mi7 và chuyển vội La thứ như chưa muốn ngừng những âm vang cuối. Nốt dứt đoạn ngân dài, tất cả lặng yên, bên ngoài có tiếng gió đêm Sài Gòn vội về, bất chợt...
Tố Như tiên sinh đã để lại cho hậu thế câu thơ tháng ba đẹp như tranh trong truyện Kiều, “cỏ non xanh tận chân trời/ cành lê trắng điểm một vài bông hoa…” Đọc xong câu thơ thì nửa số người đọc đã nhắm mắt lại để hình dung ra bức tranh mùa xuân vẽ bằng thơ; với hai màu xanh, trắng vào tay hoạ sĩ, chúng ta có bức tranh chiêm ngưỡng bằng mắt, nhưng với nhà thơ chúng ta có bức tranh trong trí tưởng tuyệt vời… Tôi nói với ông bạn mê thơ đang ngồi chung bàn cà phê mà mọi người đang nói chuyện thời sự nên không phù hợp với một sáng tháng ba trời mát lạnh vì mưa đêm qua rả rích tới sáng, anh em rủ nhau ra ngoài trời ngồi uống cà phê cho mấy ông bạn còn hút thuốc được thỏa mãn thú tính. Thế là những ông đã giã từ làn khói mỏng bị những ông còn hút thuốc giận cho, rồi cãi nhau.
Đầu tháng Tư, hoa tulip đã vội gõ cửa mọi nhà sau giấc đông miên ngắn ngủi. Mùa Xuân cũng theo hoa tulip trở về, mở ra khúc giao mùa. Trong gió Xuân đầu mùa còn lạnh, ngoài xa trên cánh đồng rừng quê muôn vạn búp non đang nẩy lộc đâm chồi. Cỏ non, cây rừng già vẫn mạnh mẽ vươn lên tràn đầy sức sống. Đàn cá hồi thức giấc bắt đầu vượt thác trở lại quê hương nguồn cội...
Một thời gian ngắn sau Hiệp Định Genève tháng 7, 1954, gia đình chúng tôi rời Phủ Cam dọn vào ở trong khuôn viên trường Đồng Khánh. Măng chúng tôi dạy môn Nữ Công Gia Chánh, và có lẽ vì là một quả phụ với 6 con, nên được Bà Hiệu Trưởng Nguyễn Đình Chi, ưu ái giúp đỡ cho gia đình được sống trong 2 căn phòng trên lầu Ba (bên phải, nếu từ cổng trước nhìn vào). Cùng ở trên lầu Ba sát cạnh gia đình chúng tôi là gia đình của bà quả phụ Trần Thi, mà chúng tôi thường kêu là Dì Hoàn vì Dì là bạn của Măng tôi từ khi 2 người học chung với nhau tại trường Đồng Khánh trong thập niên 30. Gia đình Dì cũng đông không kém gia đình tôi – 7 người. Dì ít cười và có vẻ nghiêm khắc. Các nữ sinh nghỉ trưa tại trường rất sợ gặp “Bà Thi”, dễ bị Bà la rầy hay cho “kỷ luật”, nhất khi bị bắt gặp đi lang thang trong hành lang thay vì phải ở trong phòng học.
Hạo chỉ có cậu Tân là người cậu duy nhất. Mẹ Hạo là chị cả trong gia đình có bốn người con. Mẹ, dì Hiên, cậu Tân và dì út Hậu. Cậu Tân vốn là một nông dân chính hiệu. Hình như cậu học mới qua bậc tiểu học là cậu bỏ cây bút để cầm cái cày, cái cuốc. Đến năm cậu trên bốn mươi, cậu đã có bảy người con, bốn trai, ba gái. Có lẽ cậu thấy cuộc sống làm một người nông dân quá cực hay sao mà cậu nhảy ra tham gia chánh quyền. Cậu được bầu làm xã trưởng...
Những chuyến xe ngập ngừng, chậm chạp lăn trên con đường gập ghềnh để chuyên chở đoàn người đi thăm cha, anh, em, con, chồng ở khắp nơi trong những trại tù, nơi mà lớp người mới gọi là "Trại Học Tập Cải Tạo" nghe ngược ngạo, chua chát nhiều đắng cay. Từ Quốc Lộ 1, phải đi khoảng chừng 2 cây số, trên một con đường mòn, xuyên qua rừng cây gỗ quý cẩm lai là đến trại tù cải tạo Hàm Tân...
Cuộc hôn nhân ngắn ngủi vài năm của Bình với người vợ cũ tan vỡ. Mộng Điệp là người phụ nữ vật chất, đứng núi này trông núi nọ, tính nết đanh đá chua ngoa luôn có những lời nặng nhẹ chê bai chồng không biết kiếm tiền giỏi như người ta...
Chuỗi dài thời gian của quá khứ ta còn giữ được. Giữ được mãi mãi cho đến khi trí đã mòn sức đã kiệt. Giây phút hiện tại coi như chẳng có gì. Nó vuột khỏi tay ta từng sát na rồi cũng tan biến vào quá khứ đề xếp hàng cùng với chuỗi thời gian đã qua. Tương lai là điều chưa có, chưa đến nên ta cũng chẳng làm chủ được gì của những điều ở cõi xa thẳm diệu vợi...
Hôm đi Cần Thơ, đứa cháu gọi bằng chú kể chuyện đi Hòn Kẽm- Đá Dừng, ranh giới tự nhiên hiện nay giữa 2 huyện Quế Sơn-Hiệp Đức, một địa danh mà thời trung học và đến mãi sau này tôi vẫn nghĩ là vùng núi non hiểm trở phía thượng nguồn sông Thu Bồn, nơi được biết đến nhiều bởi trận lụt kinh hoàng ở Quảng Nam năm Giáp Thìn 1964...
Mùa hè một chín bảy hai, cha tôi tử trận ở Long Mỹ, để lại một vợ và bốn con. Mẹ lúc đó mới ba mươi sáu, tôi mười lăm và thằng Thanh vừa bảy tuổi. Sau gần ba tháng bàng hoàng, tang thương mẹ tôi trở lại với cuộc sống cơm áo đời thường với đàn con nhỏ dại...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.