Hôm nay,  

Cổng Xóm Năm

24/04/202221:31:00(Xem: 3906)

Truyện ngắn -- Tháng Tư Đen

vohoang

 

Lúc hai cái xe mười bánh nối đuôi nhau chạy vụt qua, bụi đỏ bốc bùng lên, bên này ngó bên kia không thấy gì hết. Bà mợ Năm lom khom bước ra khỏi ngưỡng cửa, nheo hai con mắt lại, quay về hướng chợ miệng lầm bầm gì đó nghe không rõ. Con Sượng đang ngồi trên ghế bố thõng hai chân xuống đong đưa qua lại lớn giọng nói vọng ra:

 

“Bà mợ ở đó mà ngóng. Nó đi chút xíu nó dìa chớ mắc mớ gì. Thây kệ nó.”

 

Nó nói mà con mắt cũng hướng về hướng chợ. Thiệt tình thì nó cũng nóng lòng thằng anh. Ở ngoài chợ chắc người ta xôn xao lộn xộn lắm, súng lâu lâu nổ đẹt đẹt. Hình như có một chuyện gì đó, khác hơn mọi hôm. Hồi sáng, anh nó, thằng Sùng đi la cà ở đâu, chút chút tọt về, nói đủ thứ chuyện. Nói người ta chen nhau đi đò xuống An Thới, nói mấy người lính Địa Phương Quân cãi lộn với Cảnh Sát Dã Chiến ngoài cầu Quan Thuế, nói giặc gần đánh tới chợ rồi.

 

Bà mợ Năm trở vô, gỡ cái khăn trên đầu, đập phạch trên cái ghế xấp, điệu bộ chán ngán. Bà nói với con Sượng mà như nói một mình:

 

“Ở ngoài lộn xộn lắm, nó đi mua mấy con cá mà mắc cái giống gì cả tiếng đồng hồ chưa thấy dìa.”

 

Nói rồi co một chân lên ghế, tiếp tục ngó ra đường. Con Sượng từ sau cái hôm bị miểng đạn pháo kích ghim vô ống chân, mổ lấy ra rồi mà vẫn phải ở đâu ở một chỗ, nó sanh ra bực mình với bất cứ chuyện gì. Thấy bà mợ nãy giờ càu nhàu hoài cái chuyện thằng Sùng đi lâu quá không về, nó dài giọng:

 

“Bà mợ lo cho nó cái gì mà lo dữ vậy. Bộ nó đi lâu như vậy là nó chết chắc.”

 

“Mày biết cái giống đách gì.” Bà mợ Năm quay qua con Sượng. “Tao sợ nó nghe người ta rủ ren rồi nhẩy lên xe, lên ghe đi theo đó chớ.”

 

“Đi đâu, bà mợ nói nó đi đâu?”

 

Bà mợ Năm biết mình lỡ lời, quay qua chỗ khác. Bà thấy khó mà giải thích cho con này biết được cái nỗi lo của mình. Hồi lâu, bà hỏi:

 

“Mày đói bụng chưa? Tao luộc hột vịt mày ăn cơm nghe? Tao cũng muốn ăn cho rồi.”

 

“Luộc thì luộc. Ăn thì ăn. Mà còn chờ thằng Sùng về ăn luôn. Bà mợ muốn ăn trước thì ăn.”

 

Bà mợ Năm ngồi yên ngó ra đường. Hai dẫy tiệm tạp hoá bữa nay chỉ có một gian của chệt Hí là mở cửa nhưng không thấy ai mua bán gì hết. Chiếc xe lam của ông Thạch Ký cũng đâu mất. Con Sượng trườn người kéo cái gối để lên đùi, hỏi nhỏ:

 

“Phải giặc đánh gần vô tới chợ rồi không bà mợ? Làm như ai cũng muốn đi khỏi chỗ này hết vậy?”

 

Bà mợ Năm không đáp, lơ đãng ngó qua cái cửa sổ bên vách. Bên kia là ổ chứa. “Con mẹ Sáu” sáng nay không thấy mắng chửi ai hết. Bộ hết khách hết khứa rồi đâm ra buồn chắc. Mấy con điếm cũng không thấy ngồi hàng ba ca vọng cổ nữa. “Tụi này là quỷ, tối ngày sáng đêm nó hiện lên nó báo cả xóm không ngủ được với nó. Ít bữa là có đánh lộn, ít bữa là có bắn lộn. Ở ngay cái cổng Xóm Năm này, mình có ngày chết vì bệnh đau tim.”

 

Bà mợ Năm bỏ ghế đứng dậy đi lần về phía bàn thờ. Trời bên ngoài chói chang nắng mà trong góc nhà tối mò. Bà lôi ra bộ đồ nghề ăn trầu và bưng trở lại ghế, chưa ngồi yên chỗ mà mắt đã ngó ra đường.

 

Một chiếc xe Jeep quen thuộc chạy ngược về hướng phi trường, tài xế vẫn là hạ sĩ Đức, đệ tử của tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 506. Ngang qua cái cổng Xóm Năm, rõ ràng bà thấy hạ sĩ Đức quay đầu ngó vô nhà “con mẹ Sáu,” lại còn bóp còi hai ba cái.

 

Tự dưng, bà thấy ghét cái bản mặt rỗ chằng rỗ chịt của nó. “Non nước này mà còn ghẹo còn chọc mấy cái thứ dơ dáy đó!”

 

Bà vừa mở nắp giỏ trầu, cúi đầu loay hoay têm, vừa nói với con Sượng:

 

“Mày có biết bữa nay là bữa lính Quốc Gia đầu hàng không?”

 

“Vậy hả bà mợ.”

 

“Ừa! Ông Quận đi máy bay trực thăng, bay ra biển rồi.”

 

“Vậy hả bà mợ.”

 

Bà mợ Năm chép miệng ngồi yên. Những điều bà biết được lúc ghé qua chùa Phước Thiện bổ thuốc, nói lại cho con Sượng nghe hết, mà sao nó không mấy ngạc nhiên. Trong một lúc các ý nghĩ bị kéo dần ra rồi bị buông nhập lại bất ngờ quá, bà mợ Năm quên rằng con Sượng dẫu gì cũng mới mười một mười hai tuổi đầu, nó biết chó gì tới cái chuyện đổi thay to lớn sắp tới, trách nó, bực nó làm sao được.

 

“Lát nữa bà mợ đẩy cái ghế bố tới gần cửa, con ngó coi Việt Cộng nó ra làm sao.”

 

“Thì nó cũng giống như mình thôi.”

 

“Nó có đuôi không bà mợ?”

 

“Bậy, nó cũng giống như mình thôi. Nó bắn mày bị thương đó. Nó bắn bể cây cột đèn trước chùa đó.”

 

“Vậy hả bà mợ.”

 

“Ừa.”

 

Bà mợ Năm chợt nhớ tới thằng cháu. “Hổng biết lúc này nó đóng ở đâu. Xui xẻo mà đụng trận mấy cái lúc này thì oan mạng lắm. Cả năm rồi không thấy nó dìa phép.” Con Sượng chợt hỏi:

 

“Rồi cậu Ba cũng phải đầu hàng luôn hả bà mợ?”

 

“Ừa,” bà mợ Năm đáp nhẹ.

 

“Cậu Ba nói cậu Ba đánh giặc hay lắm mà. Cậu Ba nói cậu Ba ở trên máy bay nhẩy xuống rồi mới bắn, phải không bà mợ? Rồi cậu Ba đầu hàng là được dìa đây ở phải không bà mợ?”

 

“Ai biết đâu. Mày hỏi nhiều chuyện quá.”

 

Có mấy người lính Dân Vệ quen mặt không biết đi đường nào mà ba lô súng đạn đầy đủ từ trong con đường mòn đi ngược ra cổng, điệu bộ hấp tấp lắm. Tiếng một con điếm nói vọng ra, chói lỗ tai:

 

“Anh Ba Lành bữa nay đi ngang mà không ghé sao hè!”

 

Mấy người lính không một người nào ngó vô, cũng không thấy đáp lời lại. Bà mợ Năm nghe tiếng “con mẹ Sáu” lải nhải gì đó với mấy con điếm. Một chút sau, nhạc ở trong radio vọng ra. Người ta ca như hét như la, bà mợ Năm không nghe rõ được câu nào.

 

Một tràng súng liên thanh ở đằng hướng chợ cá nổ giòn, lằn đạn đi đúng về hướng này, thấp lắm. Bà mợ Năm nghe nóng hừng hực trong lồng ngực, bà bước vội ra cửa. Một người lính Dân Vệ hấp tấp mở cái dây chạc đầy nhóc băng đạn đặt nhẹ xuống đất, rồi tiếp tục đi. Cạnh đó, cũng có một cái ba lô của ai, no tròn, nằm chỏng gọng. Người ta đi ngang qua, liếc con mắt một cái rồi thôi.

 

Bà mợ Năm ngó ngược về phía phi trường, có một vết bụi bốc lên chạy dọc theo con đường đất đỏ từ trong ấp Nùng ra. “Chắc xe nhà binh.”

 

Bà đứng như vậy thật lâu, cho tới khi chiếc xe nhà binh chạy vụt qua. Trên xe đầy nhóc lính, những cái khăn quàng mầu xanh dương bay phất phới, người đông như vậy mà ai cũng im lặng.

Ở cái cổng, bóng mát của ngọn dừa phía bên trái nhà “con mẹ Sáu” đổ qua đúng về cái mặt tiền ngó ra đường một khoảng lớn, lỗ chỗ. Con điếm tóc bom-bê thường ngày hay mặc áo bà ba đỏ, bữa nay mặc cái áo cánh sát nách đứng dựa ngửa theo chiều nghiêng của cây chống cổng, khoanh tay ngó bâng quơ ra đường. Bà mợ Năm chợt ngó thấy, hịt mũi, bỏ bộ định đi vô nhà. Có tiếng “con mẹ Sáu”:

 

“Cái này của ai đây, Gấm?”

 

“Biết đâu! Chắc mấy ông Dân Vệ hồi nãy.”

 

Bà mợ Năm ngó qua. “Con mẹ Sáu” đang cúi người hì hục lôi cái ba lô đầy nhóc vô một góc cổng. Với điệu bộ cẩn thận, con mẻ nhắc cái dây ba chạc lên, chầm chậm mang nó đăt cạnh cái ba lô. Hai trái lựu đạn hai bên móc gài đong đưa thấy mà ớn.

 

Thêm một con điếm nữa ở trong ra, đứng lại một lúc rồi cùng với “con mẹ Sáu” băng qua đường, sấn vô tiệm chệt Hí, vừa đi vừa ngả ngớn.

 

Bà mợ Năm lại ngóng về hướng chợ. “Thằng Sùng nó đi đâu mà kỳ cục quá, biết người ta trông ngóng mà không về sớm sớm.” Có tiếng đàn ông gần lắm:

 

“Bữa nay lính mình bỏ đồn hết trơn rồi đó nghe bà Năm.”

 

Ông Nghiệp hớt tóc dạo đặt cái hộp đồ nghề xuống, đưa tay quệt mồ hôi mặt, rồi lần túi áo móc thuốc hút. Bà mợ Năm quay lại:

 

“Ủa, chú Tư.”

 

Rồi bà không nói gì thêm nữa. Bây giờ đã có thêm năm bẩy người nữa đứng tụm vô cái bóng mát ở trước cổng, nói chuyện xì xào. Từ hướng phi trường, một hàng lính Tiểu đoàn cặp sát lề đường đi như chạy trở ra, người nào cũng có súng. Trong vài phút đồng hồ, kể từ khi bà mợ Năm nhìn rõ mặt được người lính đầu tiên cho tới lúc họ đi ngang qua cổng, đầu óc bà miên man không rõ được là mình đang nghĩ tới cái gì.

 

“Ừa, lính mình bỏ đồn thiệt.”

 

“Chớ tui nói chơi với bà Năm sao! Tổng thống kêu lính mình không được bắn mà.”

 

Bà mợ Năm nhướng mắt nhìn Tư Nghiệp, giọng nhỏ lại:

 

“Ở đâu cũng vậy hết sao chú Tư?”

 

“Ở đâu cũng vậy!”

 

“Thiệt tình là ai cũng biết công chuyện nó đã tới nước này, nhưng ai cũng muốn được nghe người khác nói lại, nói hoài.”

 

Hàng lính đi mỗi lúc một nhiều thêm, hai ba tốp gặp nhau đâu ở gần phi trường rồi kéo ngang qua đây, ngõ duy nhất tuôn ra biển. Mang bảng xanh là ấp Nùng ra, bảng vàng trên đồi trọc, bảng xanh lá cây ở Tiểu đoàn, bảng đỏ ở Gành Gió.

 

Mặt trời dần xế chiều rồi, “không biết lệnh lạc ra làm sao mà lính tới giờ này mới chịu bỏ đồn, chứ ông Quận thì đi hồi sáng sớm.” Ở ngoài đầu cồn, có nhiều loại súng thi nhau nổ, đụng nhau không chừng. Hàng lính còn dài quá. Bà mợ Năm chưa muốn trở vô nhà. Bà lách người khỏi Tư Nghiệp, bước hẳn ra đường, ngó cho trọn. Thiệt là kỳ, hồi nào tới giờ, có khi nào bà cảm thấy cái thị trấn này nó nhỏ lớn ra làm sao đâu. Tự dưng hôm nay, bà biết rõ từng chút những khoảng rừng thưa, những khoảng đồng tranh bao vòng thị trấn.

 

Để coi, tốp lính mang bảng xanh đi hết rồi là từ bờ sông trái cửa ấp Nùng ra tới lò rèn “ông Quốc Quân” bỏ trống, rồi tốp bảng đỏ mà ra tới đây thì cái đuôi ít nhất cũng lọt vô phi trường. Giờ này còn ai dám héo lánh tới con rạch chạy vòng chân núi chùa ông Phụng. Ba bốn chỗ bỏ hết, kéo ngang qua đây. Cuộc sống, đối với bà Năm lúc này, rõ ràng mỗi lúc một nhỏ tóp lại.

 

Làm sao bây giờ? Bà mợ Năm ngó qua hết thảy mọi người chung quanh, có vài người quay lại nhưng không ai nói gì cả. “Đông mà yên lặng như vậy cũng ít thấy, chớ không phải chơi đâu!”

Ở cái cổng Xóm Năm, người ta đứng lan ra tới ngoài nắng. Vài người lính nhìn thấy “con mẹ Sáu” thì sà vô, lời qua tiếng lại vẫn với vẻ hối hả. Một anh đeo bảng vàng nói ong ỏng:

 

“Má Sáu mua cho tụi này ít gói thuốc coi, được hông? Xả láng với nhau cú chót đi.”

 

Rồi hai ba người khác phụ theo, hàng lính tự dưng um sùm lên:

 

“Chơi cho đẹp đi!”

 

“Có con nữa nghe má Sáu.”

 

“Con nữa.”

 

Bà mợ Năm quay qua Tư nghiệp:

 

“Thiệt, hết ai rồi mấy ông nhè con mẹ lủng đó mà xin. Mắc tức cười.”

 

“Ừ. Mấy ổng nói chơi mà!”

 

Bên kia đường đối diện với cổng Xóm Năm, “con mẹ Sáu” bắt đầu lên tiếng. Trong đám hỗn loạn, tiếng con mẻ nghe lồng lộng. Có thêm hai ba con điếm nữa chút xíu chạy vô tiệm chệt Hí rồi mang ra đủ loại thuốc hút, mì gói, bánh ú.

 

“Đứa nào muốn bánh ú thì có nghe. Thằng Thành đây, tao biết mày khoái Bastos Luxe. Tao gởi ít gói cho thằng Biệt, nó đâu rồi? Hộp quẹt hả, chờ chút xíu. Mày lấy cái hộp quẹt có chưa vậy Gấm, cái con quỷ cái này.”

 

Hàng lính ngang qua cổng ít ai không dừng lại. Bà mợ Năm cảm thấy có một chút gì đó gượng gạo trong thái độ của những người lính, rồi thêm giọng nói thảnh thót của “con mẹ Sáu”, cùng với cái cảnh hỗn tạp mà xót xa quá cho tất cả mọi người hiện diện. Đầu óc như quay cuồng, bà nói với Tư Nghiệp:

 

“Lính mình bỏ đồn hết rồi.”

 

Thấy mợ Năm bước vô nhà, con Sượng đang nằm ngồi bật dậy:

 

“Thằng Sùng dìa chưa bà mợ?”

 

“Chưa. Mà kệ bà nó.”

 

“Bà Mợ biết nó ở đâu hông? “

 

“Đừng hỏi lảng lảng. Tao nói kệ bà nó!”

 

Có thêm mấy loạt súng nổ ở phía chợ cá, lần này thì đạn bay về hướng khác rồi chắc, không nghe tiếng rít. Bà mợ Năm kéo cái ghế xếp tới gần cửa nhà, ngồi quay lưng vô, ngó ra ngoài. Lúc này chỉ còn lưa thưa vài người lính mang bảng đỏ cố đi thật nhanh ngang qua nhà. Người ta vẫn còn đứng đầy khoảng đất cát trước cổng.

 

Tiếng “con mẹ Sáu” bên kia:

 

“Thằng nào còn một mình ênh ở tuốt đằng kia vậy kìa, giống như thằng Canh. Nó nằm bệnh viện mà, về đồn hồi nào vậy?”

 

Một người lính trả lời lí nhí mấy tiếng xong thì hối hả đi. “Mẹ Sáu” quay qua con Gấm:

 

“Mầy lấy thêm ít gói Capstan, tao đưa thằng Canh. Tội nghiệp thằng này lắm, nó biết điều.”

 

Bà mợ Năm nheo mắt nhìn qua bên kia đường, bóng dáng con Gấm xen vô rồi mất hút trong đám người đứng trên thềm tiệm chệt Hí. Bà quay về hướng phi trường. Người lính, có lẽ là người lính cuối cùng, bệnh hoạn chầm chậm bước, trên người không mang theo gì khác ngoài khẩu súng cầm tay.

 

Bà im lặng, thở nhè nhẹ. Bà chợt phát giác ở bên kia đường, cả một khoảng đường ở cổng Xóm Năm, ai cũng im lặng.

 

Bà mợ Năm giữ mãi cái thế ngồi đó, miệng cũng thôi nhai trầu, bà không ngó người lính mà ngó xuống vệt nắng, lúc đó, đã xế ra tới giữa đường, như một lằn ranh giữa cái còn và cái mất. Người lính từ từ đi qua khỏi nhà bà mợ Năm, cuộc sống từ từ đi qua khỏi nhà mợ Năm, khỏi cổng Xóm Năm, sau khi ngừng lại một chút ở chỗ “con mẹ Sáu.”

 

Võ Hoàng

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.
Năm nào cũng vậy, tháng 7 tháng 8, mùa mưa, mùa lũ lụt lại về trừng phạt quê hương Việt Nam. Từ rất xa xôi, người Việt khắp nơi thấp thỏm buồn rầu và lo sợ cho cảnh ngập lụt, bão tố hoảng loạn ở nhà, không riêng chỉ miền Trung mà cả miền Nam cũng lụt, miền Bắc và Bắc trung phần bị càn quét dữ dội do bão Bualo, rồi kế đến là bão Matno. Miền Bắc và cả thủ đô Hà Nội mưa bão trước chưa kịp khô, lại ngập nước, đường phố hóa thành sông do vỡ đập nước Lạng Sơn, nước sông dâng cao đỉnh điểm, tại thành phố còn có một số tổ chức cứu trợ, nhưng kẹt là ở các tỉnh miền cao, nước lên quá mau, đa số dân cư phải leo vội lên trú trên những mái nhà cao hơn. Cũng tại xả nước các đập thủy điện nữa v.v…


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.