Hôm nay,  

Thầy tôi

15/05/202220:20:00(Xem: 3763)

Tùy bút

dai-hoc-van-khoa

 

Lạng Sơn, Yên Bái

Sông Đà, Sông Lô

Nơi ghi danh mười ba liệt sĩ

Việt Nam Muôn Năm, hồn cũ còn đây.

 

*

 

Khi chúng tôi được vô lớp học của thầy thì thầy chúng tôi đã cao tuổi rồi, lúc đó, khoảng năm 1965-1970 thầy đã trong, ngoài 60 tuổi. Với cái tuổi gọi là nhi nhĩ thuận đó, thầy tôi còn rất vui vẻ, phong độ uy nghi, đĩnh đạc và sức khỏe tốt. Tứ thời thầy mặc bộ complet đen tươm tất và tay sách cặp da đi dậy học, phía trong áo gilet, thầy cài đủ thứ bút viết, viết bic xanh, đỏ, bút máy, viết chì… để tùy nghi sử dụng và có ngay.

 

Đúng là ở tuổi nhi nhĩ thuận, có nhiều điều chúng tôi nói ra, thầy đều chấp nhận mau mắn rồi sau đó, hạ hồi phân giải, uốn nắn sửa đổi lần lần những sai trái mà không làm chúng tôi khó chịu. Đúng vậy, ở thời điểm đó, thầy tôi còn sức khoẻ tốt, biểu hiện là dáng dấp phúc hậu, phong độ trang nghiêm và lời nói vang vang đầy thân ái.

 

Mỗi buổi chiều, trời bắt đầu chạng vạng nhá nhem tối, thầy bắt gặp mấy đứa con gái chúng tôi tụm năm tụm ba ở cổng trường Đại học Sư phạm, thầy đang đi về nhà, nhưng cũng nán lại mươi phút nói: « Này, các tiểu thư, đi về nhà đi, tối rồi đó! » Vài lần thấy sinh viên la cà trễ nãi, thầy đã kể cho chúng tôi nghe là hồi mấy năm trước, ở cái đại lộ này, Bình Xuyên đánh nhau, bắn nhau dữ dội lắm.

 

Thầy bảo cũng ở cái góc đường Cộng Hòa này, cái đoạn từ trường Đại học Khoa học, giáp với trường Pétrus Ký, rồi trường Đại học Sư phạm có cái lề đường đi bộ khoảng 500m, có một anh sinh viên bên Khoa học, đó là anh Liêm, anh nổi tiếng chăm học, học gạo, rất gạo, lúc nào anh cũng kẹp một cuốn sách học ở hai bàn tay vắt chéo ra sau lưng, thấp xuống một chút. Anh Liêm đi qua đi lại, miệng luôn luôn học bài, không ngừng nghỉ, anh cận thị mang kiếng dầy, quần xanh lam đậm, áo chemise trắng. Từ xa ai cũng biết là anh học gạo đó đang vừa đi vừa gạo bài. Thế rồi, khi Bình Xuyên bắn nhau với quân đội, lạc đạn, anh trúng đạn và quỵ xuống chết ở cái gốc cây đó đó, đúng lối ra của trường Sư phạm đó. Ngày nay, đã hơn 10 năm qua đi, khi trời âm u, anh vẫn về đó, vẫn đi qua đi lại khúc đường đó, vừa đi vừa gạo bài, các con cứ la cà ở đây, có ngày các con sẽ gặp anh Liêm!

 

Thầy nói rồi vội vã bỏ đi làm tụi tôi sợ khiếp vía, vội chia tay nhau đón xe lam Cây Mai, Cây Gõ về trung tâm thành phố và về nhà.

 

Ở đây tôi ưng nói về ít nhiều kỷ niệm với thầy, giữa thầy với sinh viên, với trường lớp, còn tiểu sử và công trình của thầy thì trên mạng đã có rất đầy đủ rồi. Thầy tôi giảng bài rất hay, lời nói, ý và từ diễn đạt rất cuốn hút, rất sâu sắc, tinh tế… nhiều văn từ, hình ảnh, nghe xong còn tiếc ngẩn ngơ, nhất là khi người giảng Kiều hay Chinh Phụ Ngâm Khúc, nói chung là cả cổ văn, văn vần hay cả văn xuôi, thầy giảng rất lôi cuốn và khó quên.

 

Giáo sư Lê Hữu Mục và nhiều bạn sinh viên đồng môn ban Việt-Hán (Đại học Văn khoa và Sư phạm) Sài Gòn đều công nhận rằng thầy đã có công truyền thụ cho học trò sự rung động, lòng tự hào, và tính tự chủ của ngôn ngữ Việt trước ảnh hưởng của ngôn ngữ Trung Hoa, bằng cách sử dụng từ Hán-Việt sao cho thuần Việt hơn thuần Hán để đủ khả năng diễn tả tinh tường các ý niệm, các khái niệm kỹ thuật và triết học khó hiểu. Thầy được đào tạo theo hệ chính quy và suốt đời thầy vẫn vừa đi dạy học vùa tự học thêm. Thầy luôn nhắn nhủ chúng tôi là sự học như thuyền ngược nước, không tiến ắt phải lùi, nên chúng ta phải luôn luôn học hỏi, có thì giờ là học, có cơ hội là học thêm, sự học chẳng bao giờ dư thừa, bất cứ học ngành nghề nào cũng vậy.

 

Thầy sinh năm 1907, quê quán Nam Định, lớn lên là thời chiến tranh của quê hương cũng là thời Pháp thuộc, thầy được đào tạo về văn hóa văn học theo hệ chính quy, nhưng với tính tình tự ham tìm học, cầu tiến, thầy am tường sâu rộng Hán văn và Pháp văn. Thầy cũng nghiên cứu, tra tìm về Lão Tử, Đạo Đức Kinh, thầy dịch Thủy Hử sang Pháp văn. Thầy có nhiều bộ sách quý còn lưu giữ trong tủ sách giáo khoa quý báu như: Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Luận Văn Thư Phạm, Việt Luận, Đạo Đức Kinh Lão Tử.

 

Thầy tôi đó, với vóc dáng uy nghi, đĩnh đạc, với sức truyền thụ văn hóa cuốn hút, ngôn từ đẹp và trong sáng, đi thẳng vào lòng người nghe, như cho đi một sức sống, một năng lượng bình an. Có thể đó là lý do phần nào, thầy chỉ giảng ở lớp, ở giảng đường, có nghĩa là chuyên môn về lý thuyết, về nội dung hơn là về hình thức. Cũng có nghĩa là người giảng bài mà không hướng dẫn học trò đi thực tập. Một phần người khá lớn tuổi và không thích cho điểm chúng tôi. Vả lại thầy già cả rồi, bắt thầy chạy theo học trò từ trường nọ qua trường kia e hơi mệt!

 

Vì thầy không chấm điểm nên học trò cũng thích đến gần thầy hơn. Chúng tôi thật đội ơn trời, có may mắn được theo học thầy, người thầy có sung mãn kinh nghiệm và kiến thức trong ngành nghề. Quả vậy, chúng tôi vào hàng học trò cháu nội cháu ngoại của cụ, vì các thầy cô của chúng tôi ở các trường trung học đã là học trò chân truyền của cụ từ một thế hệ trước chúng tôi.

 

Thầy là thầy dậy học mà cũng như là ông nội hay ông ngoại chúng tôi vậy, nên chúng tôi rất trân quý những kỷ niệm với thầy, nhớ như in, vào những ngày đầu tiên của năm học ấy, thầy mở đầu niên khóa giảng nhiều về văn xuôi, có lần vào lớp mở cuốn sách của GS Dương Quảng Hàm, thầy bảo cả lớp mở ra trang 220, hôm nay chúng ta học về văn xuôi của Tự Lực Văn Đoàn, bài điển hình là bài « Bóng người trong sương mù » của tác giả Nhất Linh.

 

Bài đó đại ý kể chuyện một người lái tàu hỏa dưới thời Pháp thuộc ở Hà Nội xa tắp, hôm đấy ông lái xe hỏa, chuyến xe chở quan toàn quyền Đông Dương từ miền xuôi lên mạn ngược, có thể sang biên giới Hoa Việt.

 

Vợ người lái xe bị đau rất nặng nằm ở nhà, ông nhìn vợ và thương, ông e ngại, cũng không muốn đi làm nhưng đó là mệnh lệnh! Vợ ông khuyên ông nên đi làm và khi về « mua quà cho em ». Ông ra đi mà lòng nặng trĩu. Ông lái chuyến xe hỏa đó cho quan toàn quyền mà, quan trọng lắm, cứ yên trí mà đi đi. Lái rầm rầm đi được một đoạn đường dài, bên ngoài trời mưa to gió lớn như bão lụt ầm ập đến, xe vẫn chạy trong giông bão, và người tài xế này nhìn thấy trên đèn xe, ngay trước mặt đối diện với bánh lái xe, có bóng một người đàn bà mờ mờ hiện ra, vẫy vẫy tay ra hiệu cho xe ngừng lại, ngừng lại ngay như có sự gì nguy hiểm chăng? Ông gọi người phụ lái ra nhìn, người phụ lái quan sát kỹ rồi bảo: « Quái lạ, hay đúng là ma ông ạ! Bà ma ấy bảo chúng ta hãm xe, ngừng chạy ».

 

Nhưng ông vẫn cho xe tàu lao đi, vùn vụt trong giông bão, vì vô cớ mà chuyến xe chở quan toàn quyền ngừng lại giữa đường thì không được, rất nguy hiểm và vô lý. Ông không dám phanh xe lại. Nhưng rồi cái bóng ấy lại càng vẫy tay mau hơn, rồi rít lên, ra hiệu ngừng ngay, ngừng ngay lại! Ông không còn định được thần trí, nhả chân ga và kéo thắng tay gấp. Tàu kêu rít lên, các toa như rùng mình  rồi ngừng lại giữa đường.

 

Người chef đoàn tàu cầm đèn bão chạy vội lại hỏi: « Có chuyện gì vậy ? Sao xe ngừng lại? »

« Không biết có chuyện gì, để tôi lên coi! »  Ông trả lời vậy và chạy lẹ lên phía đầu xe, phía trước, để tránh phải trả lời một việc mà ông không hiểu rõ sao mình lại thắng xe lại vô cớ! Vừa chạy tới khoảng 200m thì hỡi ôi, cái cây cầu N.G. bắc ngang con sông lớn, ngay phía trước mặt, đã bị bão và lũ đánh sập! Trời ơi, nếu ông không kịp ngừng xe gấp thì chỉ 2, 3 phút nữa, cả chuyến xe chở quan toàn quyền và hành khách lao xuống vực sông sâu này, e không còn ai sống sót!

 

Quan và cả mọi người đổ xô lại hỏi tài xế tại sao biết nguy hiểm mà ngừng? Ông trả lời vu vơ như đang ở trên mây: « Tôi cũng không hiểu, chỉ nghe gió thổi ào ào và tiếng nước đổ ầm ầm, tôi kéo thắng! » Rồi ông đi lại đầu xe, nhẹ tay gỡ trên đèn xe ra một con bướm trắng to, mắc kẹt, trên đó. Con bướm bị kẹt chết nằm đó tự bao giờ?

 

Chẳng biết có phải là chuyện ma hay không ma, nhưng hôm đó, thầy không giảng, mà chỉ đọc cho chúng tôi nghe, thầy đọc thật diễn cảm và thật truyền cảm, những chi tiết, những mô tả, người đàn bà có hai cái tay trắng thật dài vẫy vẫy trong sương mù mù và những cảm nhận, những ý nghĩ của người chồng, có vợ đau bệnh nặng ở nhà… làm mấy đứa tôi ngồi ngay bàn đầu sợ quá, sợ lạnh cả lưng, tự nhiên ngồi dán sát vô nhau. Thầy đọc xong, đứng yên một phút, thầy quan sát chúng tôi, ông cười, hơi nhạo báng và cũng rất thương hại vì ông biết mấy đứa con gái chúng tôi vẫn còn đang sợ ma co rúm cả người. Nhưng sau cùng người cũng phán rằng:

 

-- Đó, có những bài học mà chúng ta không cần phải giảng, không phải phân tích bố cục, không cần phê bình nội dung, hình thức. Chỉ cần đọc và đọc đúng ý của tác giả, người nghe cảm nhận được là thầy đã thành công, còn hơn là giảng, mà giảng không thành thân.

 

Thầy luôn lưu ý học trò là giáo dục phải đặt trên nền tảng của bản chất và bản thể của đối tượng, chứ giáo dục không căn cứ trên những hiện tượng nông cạn nhất thời. Một khi học trò tới lớp là bản chất muốn được học hỏi, nếu lỡ nó lười hay yếu kém ở một góc cạnh nào đó mà thầy từ chối, đuổi nó xa thầy, rồi thầy dạy ai?

 

Tựu chung, thầy nói là giáo dục phải công bằng và tới nơi tới chốn. Làm sao đó cho chu đáo tới cùng, để sau đó, thầy hay cô, không ân hận, không áy náy và nhứt là  mình khỏi phải có lúc tự coi thường mình. Nói quy luật là vậy nhưng không phải lúc nào thầy cũng dồn chúng tôi vào trong phạm trù nhiều lần thầy bầy tỏ quan điểm riêng rất vui qua tâm ý tác giả của mỗi bài giảng.

 

Chẳng hạn lúc giảng ca dao bình dân: “Đồng tiền Vạn Lịch thích bốn chữ vàng, tiếc công anh gắn bó với cô nàng bấy lâu, bây giờ cô lấy chồng đâu, mà để cho anh cúng trăm cau ngàn vàng, năm trăm anh đốt cho nàng, còn năm trăm nữa giải oan lời thề”, thầy bảo là cái anh con trai nhà quê xưa của ta cũng lắm điều, lắm lời, chua ngoa không thua đàn bà con gái ở thành thị đâu. Anh đang rủa xả cho người ta chết đi đó, người ta chết đi để anh đốt giấy tiền vàng mã hóa thân, và thầy quay lại căn dặn chúng tôi:

 

-- Các tiên sinh, các tiểu thơ ngày nay đừng tai ác như thế đó nhe.

 

Thầy cũng có lúc kêu học trò là tiên sinh, là tiểu thơ. Ôi, cụ quá lễ phép, rất hồn nhiên.

 

Giáo sư Lê Hữu Mục, khi gặp lại ở hải ngoại, có cho sinh viên hay là ngày 30-04-1975, thầy chúng tôi có đến trường, có dự lễ bàn giao trường với ban giám hiệu mới, và ngay sau lễ bàn giao thầy đưa ngay ra một lá đơn gửi chính quyền mới là thầy xin về hưu trí, với lý do tuổi đã quá già, sức đã quá yếu. Giáo sư Lê Hữu Mục cũng ngỏ ý than phiền với sinh viên ở hải ngoại là vì Việt Cộng tràn vô chiếm miền Nam nên thầy tôi mất sớm (vì ưu phiền?) Có lẽ, chứ với sức khỏe, tốt người, tốt tánh thế, đáng lẽ ra thầy tôi phải có tuổi thọ cao hơn nhiều.

 

Lúc còn sinh thời, còn đang độ tươi trẻ và đầy hào khí cách mạng, thầy tôi đã tham gia cách mạng đảng bí mật Nguyễn Thái Học. Vào những năm 1945-1950 thầy bị chính quyền bảo hộ thực dân Pháp bắt giam, bị cầm tù, ở nhà giam Hỏa Lò (ngay Hà Nội) rồi sau bị đày ra đảo Côn Sơn, bị kết án 20 năm tù. May thay, khi Mặt trận Bình dân ở Pháp lên tạo được nhiều ảnh hưởng chính trị ở các thuộc địa, kể cả ở Đông Dương, chính quyền thuộc địa tha thầy tôi ra tù.

 

Về lại tự do, thầy gắn bó với trường lớp, với học trò, với phấn trắng, bảng đen cho tới gần hết cả cuộc đời. Điều đau lòng nhứt là thực dân, bảo hộ trả tự do cho thầy tôi, mà sau này tụi cộng sản vô thần tụi độc tài đảng trị Việt Nam dốt nát, chúng nó đã tàn ác, nhẫn tâm, không tha cho cái ý chí yêu nước yêu tự do của thầy tôi, thầy chúng tôi, một người thầy giáo tài, đức vẹn toàn. Thầy tôi đó, thưa quý bạn, đó là cố giáo sư Hạo Nhiên Nghiêm Toản.

 

Trong những người bạn, người thân quen với thầy, trong tâm tưởng mọi sinh viên  học thầy, hình ảnh thầy Nghiêm Toản luôn hiện lên với những tình cảm đẹp đẽ được lưu giữ đến không phai mờ!

 

Kính nhớ.

 

Chúc Thanh
(Paris, 5/2022)

Hai chữ giang hồ không mấy xa lạ trong đời sống của mỗi người đều thường đề cập trong thơ, văn, điện ảnh… và cũng là câu nói thường tình với cá nhân, nhóm người trong xã hội. Tác phẩm Thủy Hử ban đầu là Giang Hồ Khách Truyện, sau lấy tên là Thủy Hử vì “căn cứ địa” Lương Sơn là vùng đầm, hồ nên Thủy Hử (bến nước). Truyện nầy qua bản dịch của La Thần và Á Nam Trần Tuấn Khải, gồm 3 cuốn, năm 1973, sau đó với Tử Vi Lang nên rất quen thuộc với độc giả Việt Nam. Trong truyện Thủy Hử của của nhà văn Thi Nại Am (1296-1372) ở Trung Hoa vào triều Nguyên-Mông (1295-1368), kể về câu chuyện của Tống Giang triều nhà Tống, nổi dậy kéo theo “giang hồ hảo hán” gồm 108 người đến núi Lương Sơn. Gọi là anh hùng Lương Sơn Bạc.
Ở Sơn Tây, tôi là khách lạ nhưng mang tâm trạng sâu đậm như người trở về nguồn cội. Đầu tiên tôi tìm mua tấm bản đồ tỉnh lỵ nhưng không ai bán, họ chỉ dẫn địa điểm Thành Cổ rồi theo 4 hướng Đông Tây Nam Bắc của hình vuông ấy là sẽ tìm ra mọi nơi. Hướng Nam đối diện với phố Quang Trung còn gọi là Cửa Tiền, Cửa Hậu ở hướng Bắc có phố Lê Lợi và nếu đi thẳng đến cuối đường sẽ gặp sông Hồng, hướng Đông là Cửa Tả nhìn ra chợ Nghệ và cuối cùng hướng Tây hay Cửa Hữu có phố Ngô Quyền.
Buổi sáng cuối tuần, mùa đông chớm về với những cụm mây xám nhạt, lơ lửng trôi trên bầu trời California, không khí se se lạnh, tôi và Hoàng ngồi ngoài hàng hiên quán Coffee Lovers của Thành phố Hoa vàng nhìn trời hưu quạnh. Bên hai ly cà phê sữa nóng và dĩa bánh Patechaud, Hoàng nói chậm dãi, nhỏ nhẹ, kể cho tôi nghe về quê ngoại của Hoàng thời niên thiếu.
Theo thông lệ trước đây, hằng năm vào đầu tháng 9, CVKer 65 Bok Thân có tổ chức buổi tiệc gây quỹ cho địa phận Kontum. Năm nào Bok Thân cũng thành công mỹ mãn, gởi về quê nhà nhiều số tiền lớn lao dùng cho các hoạt động bác ái của địa phận. Sau dịch cúm Tàu phù, kinh tế trì trệ, dân chúng cũng ngại đám đông nên Bok Thân phải uyển chuyển tổ chức 2 năm một lần; lần này là Đêm Tình Thương lần thứ Sáu.
Memphis là thành phố lớn của tiểu bang Tennessee, nổi tiếng là một trong những cái nôi của dòng nhạc Blues & Jazz của nước Mỹ. Cách đây 4 năm, tôi lái xe đến thăm Memphis chỉ để được nghe nhạc Blues “nguyên chất” tại B.B King’s Blues Club, một trong những “việc đáng làm trong đời” đối với những người mê nhạc Jazz. Nghe nhạc Jazz ở Memphis sẽ thấy được dòng nhạc như chảy trong huyết quản của người da đen ở Miền Nam Hoa Kỳ. Vào đầu tháng 10 năm nay, tôi trở lại thành phố Memphis, nhưng đó không phải là đích đến của chuyến đi. Memphis có phi trường chỉ cách Tu Viện Mộc Lan khoảng hơn một tiếng lái xe. UH, một cô bạn đồng tu đã từng cùng học với một vị thầy, cùng sinh hoạt trong một nhóm Phật tử ở Quận Cam California được chấp nhận vào ni đoàn, làm lễ xuống tóc xuất gia tại Mộc Lan. Tôi cùng một nhóm bạn nhận lời mời đến dự sự kiện trọng đại của một đời người này.
Đọc xong email của Cathy, Khôi mỉm cười khoan khoái, bước xuống phòng khách pha cho mình ly cà phê nóng của buổi sáng cuối tuần. Trời đã cuối Thu, những chiếc lá khô cuối cùng lao xao đuổi nhau theo những cơn gió nhẹ trên mặt đường, tạo nên một âm thanh vui tai. Hàng cây khô trụi lá khẳng khiu đang rung rinh trước gió, chuẩn bị cho những ngày đông dài sắp tới. Khung cảnh thật bình yên. Bình yên như tâm hồn Khôi sau những tháng ngày băn khoăn, ray rứt đã qua.
Vào cuối tháng 5 vừa qua, tôi lại có dịp quay trở về lại mái trường xưa, để tham dự buổi lễ ra trường của một cháu gái Cynthia Ngô, được lãnh nhận bằng Tiến Sĩ Luật Khoa, tại Đại Học Oklahoma City University (OCU), mà tôi là người đỡ đầu (God Father) khuyến khích cho cháu này theo học ngành luật khoa, cũng tại ngôi trường trước kia tôi học.
Dù bạn chưa từng đến Huế, nhưng đã từng nghe tiếng địa danh này qua hai câu hò quen thuộc: Gió đưa cành trúc la đà, Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương... ..
Đây là chuyện tình yêu xưa, xa xưa lắm rồi, nhưng dư âm vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm đến thế hệ chúng ta hôm nay… hình như con người sống nương tựa rất nhiều vào tình yêu… tình yêu cho con người nhiều ý nghĩa thiêng liêng, nhiều gia vị đậm đà đáng sống. Nếu hỏi tại sao là vậy, thì thưa rằng bên cạnh tình yêu và cuộc mưu sinh, ta còn có những gì? Bầu cử ư, bầu cử đã qua rồi, ngã ngũ rồi, không còn gì để bàn nữa. Nhưng nếu bạn muốn theo dõi hậu bầu cử, đó cũng là ưu điểm, coi thế sự cuộc đời sẽ diễn tiến ra sao những ngày sắp tới. Trước mắt, bên cạnh, xung quanh còn vây phủ đe dọa đầy chiến tranh tàn khốc hủy diệt đe dọa sự sống còn của nhân loại bằng những vũ khí của khoa học hiện đại tân tiến, cộng với lòng ác độc của tham vọng, của chính trị không phương giải quyết.
Một người bạn nói với tôi rằng có những bài thơ hoặc những đoạn văn nằm hoài trong đầu của mình từ hồi còn nhỏ, nên khi được nhắc tới thì tự động tuôn ra. Tôi thấy có lý. Mỗi khi có dịp nói chuyện với ai về lòng biết ơn, tôi cứ như theo quán tính, chia sẻ một bài thơ ngày xưa tôi học ở bậc Tiểu Học. Không hiểu vì sao! Vì mình có tính hoài cổ? Hay vì đầu óc tuổi nhỏ dễ khắc ghi? Hay vì đây là bài học bắt buộc trong sách giáo khoa? Hay chỉ đơn giản là vì bài thơ có lời lẽ giản dị mà sâu sắc?
Nắng đã tắt từ lâu. Trời đen thẫm bên ngoài. Mùa đã về qua những chiếc lá vàng rơi rải rác theo những câu thơ trong những tạp chí văn chương của thành phố. Mùa thu nằm co trên trang giấy. Heo may lẩn quẩn đầu môi những kẻ gạ tình. Không có mùa thu ngoài đời sống ở nơi này. Hơi nóng vẫn râm ran không khí. Bên ngoài vắng gió. Trong này, chiếc quạt trần lờ lững quay. Và cuộc đối thoại nhì nhằng mãi chẳng đi đến đâu.
Đi dạo trong công viên Vigelandsanlegget, trời rét căm căm. Bỗng dưng, tôi nghe tiếng nhạc réo rắt. Một nhạc công phong cầm ngồi giữa băng tuyết, đang chơi bài Sóng Nước Biếc. Thật là tình cờ kỳ diệu. Mới hôm qua, hôm kia, ở Đức, khi chậm chân nghe nhạc công chơi phong cầm ở nhà ga, trí tôi lao xao nhạc điệu bài Sóng Nước Biếc. Bươn bả chạy nhanh cho kịp giờ xe, tôi tiếc, định bụng hôm nào thuận tiện sẽ đến yêu cầu. Hôm nay, ở Oslo, tôi được nghe Waves of the Danube của nhà soạn nhạc người Lỗ-Ma-Ni, Iosif Ivanovici. Lời Việt Sóng Nước Biếc của nhạc sĩ Phạm Đình Chương thật tuyệt vời. Trong cái lạnh cắt da, giữa công viên rộn ràng du khách, tôi mơ màng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.