Hôm nay,  

Thầy tôi

15/05/202220:20:00(Xem: 3366)

Tùy bút

dai-hoc-van-khoa

 

Lạng Sơn, Yên Bái

Sông Đà, Sông Lô

Nơi ghi danh mười ba liệt sĩ

Việt Nam Muôn Năm, hồn cũ còn đây.

 

*

 

Khi chúng tôi được vô lớp học của thầy thì thầy chúng tôi đã cao tuổi rồi, lúc đó, khoảng năm 1965-1970 thầy đã trong, ngoài 60 tuổi. Với cái tuổi gọi là nhi nhĩ thuận đó, thầy tôi còn rất vui vẻ, phong độ uy nghi, đĩnh đạc và sức khỏe tốt. Tứ thời thầy mặc bộ complet đen tươm tất và tay sách cặp da đi dậy học, phía trong áo gilet, thầy cài đủ thứ bút viết, viết bic xanh, đỏ, bút máy, viết chì… để tùy nghi sử dụng và có ngay.

 

Đúng là ở tuổi nhi nhĩ thuận, có nhiều điều chúng tôi nói ra, thầy đều chấp nhận mau mắn rồi sau đó, hạ hồi phân giải, uốn nắn sửa đổi lần lần những sai trái mà không làm chúng tôi khó chịu. Đúng vậy, ở thời điểm đó, thầy tôi còn sức khoẻ tốt, biểu hiện là dáng dấp phúc hậu, phong độ trang nghiêm và lời nói vang vang đầy thân ái.

 

Mỗi buổi chiều, trời bắt đầu chạng vạng nhá nhem tối, thầy bắt gặp mấy đứa con gái chúng tôi tụm năm tụm ba ở cổng trường Đại học Sư phạm, thầy đang đi về nhà, nhưng cũng nán lại mươi phút nói: « Này, các tiểu thư, đi về nhà đi, tối rồi đó! » Vài lần thấy sinh viên la cà trễ nãi, thầy đã kể cho chúng tôi nghe là hồi mấy năm trước, ở cái đại lộ này, Bình Xuyên đánh nhau, bắn nhau dữ dội lắm.

 

Thầy bảo cũng ở cái góc đường Cộng Hòa này, cái đoạn từ trường Đại học Khoa học, giáp với trường Pétrus Ký, rồi trường Đại học Sư phạm có cái lề đường đi bộ khoảng 500m, có một anh sinh viên bên Khoa học, đó là anh Liêm, anh nổi tiếng chăm học, học gạo, rất gạo, lúc nào anh cũng kẹp một cuốn sách học ở hai bàn tay vắt chéo ra sau lưng, thấp xuống một chút. Anh Liêm đi qua đi lại, miệng luôn luôn học bài, không ngừng nghỉ, anh cận thị mang kiếng dầy, quần xanh lam đậm, áo chemise trắng. Từ xa ai cũng biết là anh học gạo đó đang vừa đi vừa gạo bài. Thế rồi, khi Bình Xuyên bắn nhau với quân đội, lạc đạn, anh trúng đạn và quỵ xuống chết ở cái gốc cây đó đó, đúng lối ra của trường Sư phạm đó. Ngày nay, đã hơn 10 năm qua đi, khi trời âm u, anh vẫn về đó, vẫn đi qua đi lại khúc đường đó, vừa đi vừa gạo bài, các con cứ la cà ở đây, có ngày các con sẽ gặp anh Liêm!

 

Thầy nói rồi vội vã bỏ đi làm tụi tôi sợ khiếp vía, vội chia tay nhau đón xe lam Cây Mai, Cây Gõ về trung tâm thành phố và về nhà.

 

Ở đây tôi ưng nói về ít nhiều kỷ niệm với thầy, giữa thầy với sinh viên, với trường lớp, còn tiểu sử và công trình của thầy thì trên mạng đã có rất đầy đủ rồi. Thầy tôi giảng bài rất hay, lời nói, ý và từ diễn đạt rất cuốn hút, rất sâu sắc, tinh tế… nhiều văn từ, hình ảnh, nghe xong còn tiếc ngẩn ngơ, nhất là khi người giảng Kiều hay Chinh Phụ Ngâm Khúc, nói chung là cả cổ văn, văn vần hay cả văn xuôi, thầy giảng rất lôi cuốn và khó quên.

 

Giáo sư Lê Hữu Mục và nhiều bạn sinh viên đồng môn ban Việt-Hán (Đại học Văn khoa và Sư phạm) Sài Gòn đều công nhận rằng thầy đã có công truyền thụ cho học trò sự rung động, lòng tự hào, và tính tự chủ của ngôn ngữ Việt trước ảnh hưởng của ngôn ngữ Trung Hoa, bằng cách sử dụng từ Hán-Việt sao cho thuần Việt hơn thuần Hán để đủ khả năng diễn tả tinh tường các ý niệm, các khái niệm kỹ thuật và triết học khó hiểu. Thầy được đào tạo theo hệ chính quy và suốt đời thầy vẫn vừa đi dạy học vùa tự học thêm. Thầy luôn nhắn nhủ chúng tôi là sự học như thuyền ngược nước, không tiến ắt phải lùi, nên chúng ta phải luôn luôn học hỏi, có thì giờ là học, có cơ hội là học thêm, sự học chẳng bao giờ dư thừa, bất cứ học ngành nghề nào cũng vậy.

 

Thầy sinh năm 1907, quê quán Nam Định, lớn lên là thời chiến tranh của quê hương cũng là thời Pháp thuộc, thầy được đào tạo về văn hóa văn học theo hệ chính quy, nhưng với tính tình tự ham tìm học, cầu tiến, thầy am tường sâu rộng Hán văn và Pháp văn. Thầy cũng nghiên cứu, tra tìm về Lão Tử, Đạo Đức Kinh, thầy dịch Thủy Hử sang Pháp văn. Thầy có nhiều bộ sách quý còn lưu giữ trong tủ sách giáo khoa quý báu như: Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Luận Văn Thư Phạm, Việt Luận, Đạo Đức Kinh Lão Tử.

 

Thầy tôi đó, với vóc dáng uy nghi, đĩnh đạc, với sức truyền thụ văn hóa cuốn hút, ngôn từ đẹp và trong sáng, đi thẳng vào lòng người nghe, như cho đi một sức sống, một năng lượng bình an. Có thể đó là lý do phần nào, thầy chỉ giảng ở lớp, ở giảng đường, có nghĩa là chuyên môn về lý thuyết, về nội dung hơn là về hình thức. Cũng có nghĩa là người giảng bài mà không hướng dẫn học trò đi thực tập. Một phần người khá lớn tuổi và không thích cho điểm chúng tôi. Vả lại thầy già cả rồi, bắt thầy chạy theo học trò từ trường nọ qua trường kia e hơi mệt!

 

Vì thầy không chấm điểm nên học trò cũng thích đến gần thầy hơn. Chúng tôi thật đội ơn trời, có may mắn được theo học thầy, người thầy có sung mãn kinh nghiệm và kiến thức trong ngành nghề. Quả vậy, chúng tôi vào hàng học trò cháu nội cháu ngoại của cụ, vì các thầy cô của chúng tôi ở các trường trung học đã là học trò chân truyền của cụ từ một thế hệ trước chúng tôi.

 

Thầy là thầy dậy học mà cũng như là ông nội hay ông ngoại chúng tôi vậy, nên chúng tôi rất trân quý những kỷ niệm với thầy, nhớ như in, vào những ngày đầu tiên của năm học ấy, thầy mở đầu niên khóa giảng nhiều về văn xuôi, có lần vào lớp mở cuốn sách của GS Dương Quảng Hàm, thầy bảo cả lớp mở ra trang 220, hôm nay chúng ta học về văn xuôi của Tự Lực Văn Đoàn, bài điển hình là bài « Bóng người trong sương mù » của tác giả Nhất Linh.

 

Bài đó đại ý kể chuyện một người lái tàu hỏa dưới thời Pháp thuộc ở Hà Nội xa tắp, hôm đấy ông lái xe hỏa, chuyến xe chở quan toàn quyền Đông Dương từ miền xuôi lên mạn ngược, có thể sang biên giới Hoa Việt.

 

Vợ người lái xe bị đau rất nặng nằm ở nhà, ông nhìn vợ và thương, ông e ngại, cũng không muốn đi làm nhưng đó là mệnh lệnh! Vợ ông khuyên ông nên đi làm và khi về « mua quà cho em ». Ông ra đi mà lòng nặng trĩu. Ông lái chuyến xe hỏa đó cho quan toàn quyền mà, quan trọng lắm, cứ yên trí mà đi đi. Lái rầm rầm đi được một đoạn đường dài, bên ngoài trời mưa to gió lớn như bão lụt ầm ập đến, xe vẫn chạy trong giông bão, và người tài xế này nhìn thấy trên đèn xe, ngay trước mặt đối diện với bánh lái xe, có bóng một người đàn bà mờ mờ hiện ra, vẫy vẫy tay ra hiệu cho xe ngừng lại, ngừng lại ngay như có sự gì nguy hiểm chăng? Ông gọi người phụ lái ra nhìn, người phụ lái quan sát kỹ rồi bảo: « Quái lạ, hay đúng là ma ông ạ! Bà ma ấy bảo chúng ta hãm xe, ngừng chạy ».

 

Nhưng ông vẫn cho xe tàu lao đi, vùn vụt trong giông bão, vì vô cớ mà chuyến xe chở quan toàn quyền ngừng lại giữa đường thì không được, rất nguy hiểm và vô lý. Ông không dám phanh xe lại. Nhưng rồi cái bóng ấy lại càng vẫy tay mau hơn, rồi rít lên, ra hiệu ngừng ngay, ngừng ngay lại! Ông không còn định được thần trí, nhả chân ga và kéo thắng tay gấp. Tàu kêu rít lên, các toa như rùng mình  rồi ngừng lại giữa đường.

 

Người chef đoàn tàu cầm đèn bão chạy vội lại hỏi: « Có chuyện gì vậy ? Sao xe ngừng lại? »

« Không biết có chuyện gì, để tôi lên coi! »  Ông trả lời vậy và chạy lẹ lên phía đầu xe, phía trước, để tránh phải trả lời một việc mà ông không hiểu rõ sao mình lại thắng xe lại vô cớ! Vừa chạy tới khoảng 200m thì hỡi ôi, cái cây cầu N.G. bắc ngang con sông lớn, ngay phía trước mặt, đã bị bão và lũ đánh sập! Trời ơi, nếu ông không kịp ngừng xe gấp thì chỉ 2, 3 phút nữa, cả chuyến xe chở quan toàn quyền và hành khách lao xuống vực sông sâu này, e không còn ai sống sót!

 

Quan và cả mọi người đổ xô lại hỏi tài xế tại sao biết nguy hiểm mà ngừng? Ông trả lời vu vơ như đang ở trên mây: « Tôi cũng không hiểu, chỉ nghe gió thổi ào ào và tiếng nước đổ ầm ầm, tôi kéo thắng! » Rồi ông đi lại đầu xe, nhẹ tay gỡ trên đèn xe ra một con bướm trắng to, mắc kẹt, trên đó. Con bướm bị kẹt chết nằm đó tự bao giờ?

 

Chẳng biết có phải là chuyện ma hay không ma, nhưng hôm đó, thầy không giảng, mà chỉ đọc cho chúng tôi nghe, thầy đọc thật diễn cảm và thật truyền cảm, những chi tiết, những mô tả, người đàn bà có hai cái tay trắng thật dài vẫy vẫy trong sương mù mù và những cảm nhận, những ý nghĩ của người chồng, có vợ đau bệnh nặng ở nhà… làm mấy đứa tôi ngồi ngay bàn đầu sợ quá, sợ lạnh cả lưng, tự nhiên ngồi dán sát vô nhau. Thầy đọc xong, đứng yên một phút, thầy quan sát chúng tôi, ông cười, hơi nhạo báng và cũng rất thương hại vì ông biết mấy đứa con gái chúng tôi vẫn còn đang sợ ma co rúm cả người. Nhưng sau cùng người cũng phán rằng:

 

-- Đó, có những bài học mà chúng ta không cần phải giảng, không phải phân tích bố cục, không cần phê bình nội dung, hình thức. Chỉ cần đọc và đọc đúng ý của tác giả, người nghe cảm nhận được là thầy đã thành công, còn hơn là giảng, mà giảng không thành thân.

 

Thầy luôn lưu ý học trò là giáo dục phải đặt trên nền tảng của bản chất và bản thể của đối tượng, chứ giáo dục không căn cứ trên những hiện tượng nông cạn nhất thời. Một khi học trò tới lớp là bản chất muốn được học hỏi, nếu lỡ nó lười hay yếu kém ở một góc cạnh nào đó mà thầy từ chối, đuổi nó xa thầy, rồi thầy dạy ai?

 

Tựu chung, thầy nói là giáo dục phải công bằng và tới nơi tới chốn. Làm sao đó cho chu đáo tới cùng, để sau đó, thầy hay cô, không ân hận, không áy náy và nhứt là  mình khỏi phải có lúc tự coi thường mình. Nói quy luật là vậy nhưng không phải lúc nào thầy cũng dồn chúng tôi vào trong phạm trù nhiều lần thầy bầy tỏ quan điểm riêng rất vui qua tâm ý tác giả của mỗi bài giảng.

 

Chẳng hạn lúc giảng ca dao bình dân: “Đồng tiền Vạn Lịch thích bốn chữ vàng, tiếc công anh gắn bó với cô nàng bấy lâu, bây giờ cô lấy chồng đâu, mà để cho anh cúng trăm cau ngàn vàng, năm trăm anh đốt cho nàng, còn năm trăm nữa giải oan lời thề”, thầy bảo là cái anh con trai nhà quê xưa của ta cũng lắm điều, lắm lời, chua ngoa không thua đàn bà con gái ở thành thị đâu. Anh đang rủa xả cho người ta chết đi đó, người ta chết đi để anh đốt giấy tiền vàng mã hóa thân, và thầy quay lại căn dặn chúng tôi:

 

-- Các tiên sinh, các tiểu thơ ngày nay đừng tai ác như thế đó nhe.

 

Thầy cũng có lúc kêu học trò là tiên sinh, là tiểu thơ. Ôi, cụ quá lễ phép, rất hồn nhiên.

 

Giáo sư Lê Hữu Mục, khi gặp lại ở hải ngoại, có cho sinh viên hay là ngày 30-04-1975, thầy chúng tôi có đến trường, có dự lễ bàn giao trường với ban giám hiệu mới, và ngay sau lễ bàn giao thầy đưa ngay ra một lá đơn gửi chính quyền mới là thầy xin về hưu trí, với lý do tuổi đã quá già, sức đã quá yếu. Giáo sư Lê Hữu Mục cũng ngỏ ý than phiền với sinh viên ở hải ngoại là vì Việt Cộng tràn vô chiếm miền Nam nên thầy tôi mất sớm (vì ưu phiền?) Có lẽ, chứ với sức khỏe, tốt người, tốt tánh thế, đáng lẽ ra thầy tôi phải có tuổi thọ cao hơn nhiều.

 

Lúc còn sinh thời, còn đang độ tươi trẻ và đầy hào khí cách mạng, thầy tôi đã tham gia cách mạng đảng bí mật Nguyễn Thái Học. Vào những năm 1945-1950 thầy bị chính quyền bảo hộ thực dân Pháp bắt giam, bị cầm tù, ở nhà giam Hỏa Lò (ngay Hà Nội) rồi sau bị đày ra đảo Côn Sơn, bị kết án 20 năm tù. May thay, khi Mặt trận Bình dân ở Pháp lên tạo được nhiều ảnh hưởng chính trị ở các thuộc địa, kể cả ở Đông Dương, chính quyền thuộc địa tha thầy tôi ra tù.

 

Về lại tự do, thầy gắn bó với trường lớp, với học trò, với phấn trắng, bảng đen cho tới gần hết cả cuộc đời. Điều đau lòng nhứt là thực dân, bảo hộ trả tự do cho thầy tôi, mà sau này tụi cộng sản vô thần tụi độc tài đảng trị Việt Nam dốt nát, chúng nó đã tàn ác, nhẫn tâm, không tha cho cái ý chí yêu nước yêu tự do của thầy tôi, thầy chúng tôi, một người thầy giáo tài, đức vẹn toàn. Thầy tôi đó, thưa quý bạn, đó là cố giáo sư Hạo Nhiên Nghiêm Toản.

 

Trong những người bạn, người thân quen với thầy, trong tâm tưởng mọi sinh viên  học thầy, hình ảnh thầy Nghiêm Toản luôn hiện lên với những tình cảm đẹp đẽ được lưu giữ đến không phai mờ!

 

Kính nhớ.

 

Chúc Thanh
(Paris, 5/2022)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Càng lớn tuổi chừng nào, thì người ta lại thường hay nhớ tới những kỷ niệm trong dĩ vãng của mình nhiều bấy nhiêu. Nhất là những người cao niên đã về hưu, không còn bị ràng buộc bởi những công việc làm thường ngày của mình như trước kia, nên có nhiều thì giờ rảnh rỗi ngồi ở nhà một mình, để hồi tưởng lại những kỷ niệm buồn vui khó quên trong cuộc đời mình, rồi để có những lúc tâm sự cho nhau nghe lại những kỷ niệm khó quên này, trong những dịp tiệc tùng họp mặt bạn bè.
Lộc đã chết! Tích ngỡ ngàng khi nghe tin đó. Chàng không tin vào tai mình. Làm sao Lộc có thể chết được? Mình mới gặp anh ấy có tuần trước thôi mà! Trông anh còn khỏe mạnh, tự tin, tràn đầy sức sống. Vậy mà bây giờ anh đã không còn nữa. Cái chết của anh có cái gì đó không thật. Và có lẽ đó là lần đầu tiên Tích đứng trước nhận thức trực tiếp và thâm sâu về tính chất phi lý của một sự kiện quá bình thường trên đất nước chiến tranh này.
Từ giữa tháng Tám, trước ngày Lễ Labour Day, các trung tâm shopping đã rầm rộ quảng cáo “On Sale” cho mùa “Back To School”. Các con tôi đã lớn, qua rồi cái thuở đi sắm backpacks, tập vở, giấy bút, lunch bags, áo quần, nhưng lòng tôi vẫn nao nao bâng khuâng nhớ về những kỷ niệm ấy. Cũng có lúc tôi lại nh ... chính tôi, ngày xưa là cô giáo trẻ khi còn ở Việt Nam, và nhất là những tháng ngày ở trại tỵ nạn Thailand, làm cô giáo “đặc biệt” có những học trò cũng rất “đặc biệt”.
Chị Hai đã uống một ly nước đầy và đi làm việc tiếp. Đoan vào lại chỗ của mình. Như một phản xạ, Đoan lại cho tay vào túi, làm như tìm xem trong đó có sót lại một viên kẹo chăng. Mơ hồ, Đoan nhớ ngày xưa Đoan hay ví một hành động “vớt vát” nào đó như là “tìm con cá sót lại trong chiếc giỏ của cô Tấm.” Mắt Đoan cay cay. Bỗng như thấy mình đang đi vào lại đường cây còng. Mùa mưa, những chiếc lá trên cao đọng nước, rũ nhè nhẹ xuống tóc Đoan, nghe mát. Hai túi áo blouse lúc nào cũng đầy kẹo. Đoan vào trại bệnh. Những dãy giường đầy người. Thay băng xong cho ai, Đoan tặng người ấy một viên kẹo
Ở đây tôi chỉ muốn đưa một vài nét chính của các môn Khí công mà tôi đã tập qua, để người đọc theo đó sẽ chọn được một môn pháp thích hợp cho mình tập. Chả thế người xưa thường hay nói “Tùy bịnh chọn công“, tùy theo thể chất và sức khoẻ mà chọn cách tập Khí công.
Ngày tựu trường năm nay, trường Việt Ngữ Suối Mở Offenbach đón tiếp 14 học trò mới với tuổi tác, trình độ tiếng Đức, tiếng Việt chênh lệch khá nhiều. Tạm thời, cô giáo gọi lớp này là Lớp Mới. Giờ học đầu tiên, cô giáo chưa thực sự “dạy” chữ, chỉ “dỗ” các học trò. Hy vọng học trò sẽ thấy học tiếng Việt không khó lắm và tìm thấy niềm vui khi đến trường Việt Ngữ mỗi thứ Bảy. Chờ cho học trò tìm chỗ ngồi xong, cô giáo giới thiệu mình, và tập cho học trò chào hỏi. Nghe các em đồng thanh: “Con chào cô giáo”, lòng cô giáo rộn lên niềm vui, liên tưởng câu châm ngôn “tiên học lễ, hậu học văn” mình được học ngày xưa.
Cô vẫn nhìn thẳng phía trước, không nhìn ngang nhìn ngửa. Anh liếc nhìn cái túi xách giữa hai đùi cô, thấy cộm lên, nghĩ rằng trong ấy có một khẩu súng ngắn, đã lên đạn, lát nữa sẽ kề vào thái dương của anh. Anh nín thở.
Tháng tư 1976, sau một mùa đông ở North Dakota, vừa có bằng lái xe, tôi bỏ việc, bỏ lại một vùng quá bình an, quá tử tế, nhưng cũng quá cô quạnh này, đi thẳng về hướng tây...
“Anh nhớ đến dự lễ trao đẳng cấp Đại Bàng cho thằng con em nha! Để mừng cho em và cháu…” Tôi nhận được điện thoại như vậy từ C., một người bạn trẻ có con trai là hướng đạo sinh thuộc Liên Đoàn Trường Sơn, được nhận danh hiệu Đại Bàng vào ngày 16/08/2025. Đã lâu rồi, kể từ khi hai thằng con ngưng sinh hoạt hướng đạo để đi học đi làm, tôi không có dịp trở về thăm lại liên đoàn. Công việc thì nhiều, thời gian thì ít. Nhưng lần này thì không từ chối được rồi!
Đó là tháng 6-1989, lần đầu đến New York và vào một bảo tàng viện nổi tiếng ở đây, tôi tình cờ, tới chỗ treo một bức tranh trừu tượng khổng lồ, cao khoảng 2 mét, ngang khoảng 6 mét. Tôi kinh ngạc với sự giàu có ở đây, bảo tàng viện này dành riêng ra một căn phòng lớn, đơn giản, sang trọng, chỉ để trưng bày một bức tranh đó...
Tôi bị bắt tại huyện Tân Hiệp chiều ngày hai mươi, giáp Tết. Lý do, mang theo hàng không giấy phép. Thế là tiêu tan hết vốn lẫn lời mà tôi chắt chiu, dành dụm gần cả năm nay. Nhớ đến mẹ và gia đình trong những ngày Tết sắp tới, tôi vừa buồn vừa tức đến bật khóc. Xui rủi, biết trách ai. Tiễn, anh phụ lơ, đã cẩn thận cất dấu hàng cho tôi, vã lại anh cũng quá quen biết với đám công an trạm kiểm soát. Không ngờ chuyến nầy bọn công an tỉnh xuống giải thể đám địa phương, nên tôi bị “hốt ổ” chung cả đám. Đây không phải là lần đầu bị bắt, nhưng lại là lần đầu tiên tôi đi chuyến vốn lớn như vầy. Năm ký bột ngọt, năm ký bột giặt, hơn chục ống thuốc cầm máu và trụ sinh hàng ngoại. Bột ngọt, bột giặt không nói gì, nhưng hai thứ sau hiếm như vàng mà giới “chạy hàng” chúng tôi gọi là “vàng nước”. Nên thay vì đưa về khu tạm giam huyện chờ lập biên bản, hồ sơ xét xử tôi nghe bọn công an thì thầm, bàn tán giải thẳng về khám lớn tỉnh Rạch Giá.
Quỳnh Lâm báo tin sẽ đến Đức trong tuần lễ đầu tháng 10. Nisha vội vàng thu xếp “sự vụ lệnh“ để công du sang Đức. Nisha lo đi chợ sắm sửa đầy mấy tủ lạnh, tủ đá, để mấy cha con sống còn trong thời gian nữ tướng đi xa. Chúng tôi hồi hộp quá, ngày nào cũng thư từ, nhắn nhủ, dặn dò đủ điều tẳn mà, tẳn mẳn. Điện thư qua, về hoa cả mắt. Thư nào chúng tôi cũng nhắc nhở nhau giữ gìn sức khoẻ, vì đứa nào cũng “lão” rồi. Khi gặp nhau, tụi tôi nhất thiết phải đầy đủ tinh thần minh mẫn trong thân thể tráng kiện. Có hôm, đến trưa, chưa nghe tăm tiếng, tôi sốt ruột, xuất khẩu làm thơ... bút tre:


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.