Hôm nay,  

Mật ong của Ba

19/06/202208:11:00(Xem: 3247)

Tạp ghi -- Ngày Của Cha

hoangquan
Cha Con -- Tranh Hoàng Thanh Tâm.

 

 

Mới đó, Ba lìa đời đã bốn năm. Hai đứa con út của Ba, nay đã “già” hơn Ba, thuở Ba đi tù cải tạo năm 1975. Giờ đây, mỗi khi bầy con quây quần kể chuyện, nhắc đến Ba ngày xưa, như nhắc một ông cụ, dẫu lúc đó, Ba chưa bước hẳn vào tuổi tri thiên mệnh.

 

Cùng Mạ, Ba đã cho bầy con của Ba Mạ tuổi ấu thơ tươi đẹp với biết bao kỷ niệm êm đềm. Với tấm lòng yêu thiên nhiên, Ba tập các con của Ba thích cây cảnh hoa lá. Trong vườn nhà, các con được ngắm những hoa ngọc lan, hoa trà my, hoa trúc đào... được nghe tiếng chim sáo, chim khướu, chim chích chòe hót, được nhìn lũ cá kiểng tung tăng bơi lội. Đặc biệt nhất là những tổ ong Ba nuôi trong vườn. Ba sắm bộ đồ nghề khi “làm việc” với ong. Đó là chiếc mũ che kín đầu, có khăn lưới phủ mặt, tránh bị ong chích. Ống hun khói hơi giống phong cầm, khi kéo ra đẩy vào, làn khói sẽ tràn qua ống giống cái phễu. Hồi đó, nhà nấu chè dùng mật ong, pha nước chanh cũng mật ong. Bạn bè của các con còn nhớ được ăn mật ong còn nguyên trong tổ sáp. Sau này, gần nửa thế kỷ đã qua, mỗi khi con cái hỏi chuyện nuôi ong, Ba có thể kể rành mạch về sinh hoạt trong “xã hội” ong, về chức năng của bầy ong thợ, ong đực, ong chúa. 

 

Tuy là công chức rất bận bịu với việc làm ở văn phòng, Ba vẫn luôn cùng Mạ vun quén cuộc sống mái ấm gia đình. Lúc hai đứa út song sanh còn nhỏ, Ba vẫn dành thì giờ chăm sóc, thay tã, tắm táp cho hai con, mặc dầu nhà có người phụ giúp. Buổi chiều, sau giờ làm việc, Ba thường chở bầy con nhỏ đi chơi lòng vòng, ghé hàng quán mua cho con chút bánh, chút kẹo.

 

Ba rất khéo tay, chế tạo nhiều vật dụng trong nhà cho gia đình cùng hưởng. Ba đóng tủ chạn, “gác măng giê” trong nhà bếp. Ba lắp ráp máy xay đậu nành. Ba làm ông già Nô-En to cao như người thật để trưng bày ở tiệm sách vào mùa Giáng Sinh.

 

Ba về nhà sau gần 10 năm trong trại cải tạo. Các con của Ba đã sang Đức. Trong thời gian chờ đợi gia đình đoàn tụ, Ba đều đặn thư từ. Trong thư, Ba kể chuyện: “Nhớ năm xưa, 30 Tết, gia đình mình quây quần bên nhau trước thùng bánh tét. Mấy đứa hồi đó còn nhỏ xíu à! Bây chừ, tụi bây lớn quá chừng chừng rồi phải không? Riêng trong Ba, cứ thấy tụi con chưa lớn, mặc dù Ba Mạ đã có cháu nội rồi.”

 

Sang Đức, Ba đang dần bước vào tuổi cổ lai hy. Ba ham mê làm vườn nhưng vẫn liên tục nâng cao tay nghề thủ công của Ba. Ba đã phục chế, thiết kế lại các ghế ngồi của các cháu, đã sửa, may lại áo quần cho các con. Bầy con cháu đã bao lần thán phục những “phát minh, sáng chế” của Ba, của ông. Ba tặng cho mỗi gia đình các con một “cuốn sách ướt” để nhúng bánh tráng khi ăn gỏi cuốn thật tiện dụng.

 

Là người có đầu óc cấp tiến, Ba đã cho các con được thấy, được cảm nhận những điều mới lạ trong cuộc sống. Đồng thời Ba vẫn trân trọng những giá trị truyền thống. Ba thường tâm niệm thuật xử thế theo câu đối:

 

1. Tồn tâm, tế thế: thanh cao thuật.

Giữ lòng, giúp đời: thanh cao mưu lược.

Mưu lược thanh cao ấy là giữ lòng (trong sạch), giúp đời.

 

2. Khắc kế, lưu vi: phúc đức gia.

Nhớ kế, giữ việc: phúc đức nhà

Nhà có phúc đức ấy là nhà biết ghi nhớ mưu lược (của câu 1), giữ lại cho đời sau hành vi (của câu 1) tức là biết giữ lòng trong sạch và giúp đời.

 

Ngày xưa, Ba dìu dắt bầy con, nhắc nhở con chăm lo việc học hành. Ngày nay, ông cũng đưa đón cháu nhỏ đi vườn trẻ, trường học. Năm nọ, nghe bầy cháu nhỏ sắp sửa nghỉ hè, ông đã viết thư, dặn dò các cháu ngoan ngoãn, chăm học. Ông gói ghém chút quà cho các cháu vui trong mùa nghỉ hè. Dẫu lúc ấy, tay Ba đã yếu nhiều, Ba vẫn nắn nót viết cho trọn lá thư gởi cho mấy cháu. 

 

Ngày tết, chạnh nhớ quê hương, Ba ngâm nga mấy vần thơ:

 

Sống ở trời Âu, gặp Tết Tây,

Nêu cao pháo nổ, vắng nơi nầy,

Ngoài hiên phủ tuyết, lòng nghe lạnh,

Sưởi ấm trong phòng, dạ chẳng khuây!

 

Qua phút bâng khuâng, Ba rộn ràng chuẩn bị mùa tết lễ đón con cháu sum vầy. Bầy con cháu đã cùng Ba, ông Nội/Ngoại đón xuân trong tình thương ấm áp. Bạn bè con cháu đến chơi, Ba hòa đồng, góp mặt vào những cuộc vui, góp lời vào những câu chuyện kể ngày xưa ở quê nhà.

 

Lúc bước sang tuổi 80, Ba vẫn theo kịp bước tiến kỹ thuật. Ba liên lạc với họ hàng, bạn bè, đồng sự qua emails. Ba vào internet tìm thông tin, theo dõi thời sự, tin tức tiếng Việt. Ba tự làm lịch uống thuốc cho Ba: tên loại thuốc, trị bệnh, liều lượng, tựa như chương trình excel của dân kế toán chuyên nghiệp. 

 

Khi Mạ không còn nữa, Ba thỉnh thoảng vào bếp lui cui “bào chế” xôi ngọt, bánh ít lá gai, đãi con cháu. Đấy là những món ngọt, thuở sinh tiền Mạ hay làm, vì các con cháu rất ưa thích.

 

Một ngày sau sinh nhật thứ 90 của Ba, Ba trải qua cuộc giải phẫu quan trọng. Các con vô cùng lo lắng. Bịnh nhân ở độ tuổi cao, trí nhớ có thể bị sa sút trầm trọng do ảnh hưởng của thuốc gây mê, hoặc kinh khủng hơn, bịnh nhân không tỉnh lại. Vậy mà, hai tuần lễ sau đó, tuy giọng còn yếu, hơi thở ngắn, Ba đọc cho các con nghe vài câu thơ trong Chinh Phụ NgâmTruyện Kiều.

 

Dẫu biết sinh, lão, bệnh, tử là lẽ tự nhiên của tạo hóa, lòng chúng con vẫn thương tiếc vô vàn khi Ba, gần 91 tuổi, vĩnh viễn ra đi. Nhớ lời Ba, lời Mạ nhắn nhủ, chúng con đùm bọc, che chở nhau, sống với nhau trong tình thương yêu chan hòa. Ba yên nghỉ chốn an lạc với Mệ Nội, với Mạ nghe Ba. Thương nhớ Ba lắm, Ba ơi.

 

Tổ Chức Thực Phẩm và Nông Nghiệp Thế Giới (FAO) chọn ngày 20/5 hàng năm là Ngày Ong Mật Thế Giới (World Bee Day). Chúng con luôn nhớ đến những mật ngọt Ba mang lại cho chúng con. Không chỉ những hũ mật thật của những tổ ong Ba nuôi trong vườn, mà còn

là những hũ mật tinh thần, những yêu thương chăm sóc của Ba cho gia đình, luôn ngọt ngào trong tâm tưởng chúng con trên đường đời.

 

-- Hoàng Quân

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Văn hóa phương Tây, rắn vừa là biểu tượng trong lĩnh vực y khoa vừa là nguồn cảm hứng trong hội họa, kiến trúc và văn học. Văn hóa Hy Lạp bắt nguồn từ vị thần cổ đại Hermes, sứ giả của các vị thần. Thần Esculape được coi là ông tổ của ngành y dược. Biểu tượng của Tổ Chức Y Tế Thế Giới WHO (World Health Organization) con rắn quấn quanh cây gậy Esculape cầm. Cục Quân Y VNCH có thêm đôi cánh trên thanh kiếm.
Hồi năm sáu tuổi tôi vẫn hay theo chúng bạn ra chơi trước đình làng Thanh Thủy. Nơi đó có mấy cây sanh cổ thụ rất lớn luôn tỏa bóng râm mát mẻ cả đoạn đường bến chạy qua làng. Bên kia con đường bến là hồ Vọng Nguyệt, một cái hồ trông như vuông vức, rộng chừng nửa mẫu tây, dân địa phương vẫn quen gọi là hồ làng...
Phải chi khách đến thăm vườn hồng hơn trăm giống quý đủ màu sắc của ông Chu hằng ngày là khách mua hoa thì chắc thu nhập của gia đình ông đỡ hơn. Ông nghèo, nhưng cái máu nghệ sĩ của ông lại mạnh mẽ hơn chuyện tiền bạc, lại gặp bà vợ hết mực chiều chồng, nên cứ nghe đâu có giống hồng lạ là bằng mọi cách phải có cho bằng được. Năm ba ký gạo đắp đổi hằng ngày đã khó, mà có những giống người ta đổi cả tấn lúa ông cũng lắc đầu.
Không nhớ từ bao giờ đã không còn ngồi xuống bàn trà, tay bốc miếng mứt hạt sen bỏ vô miệng, vị ngọt tươm ra không quá gắt như ăn miếng mứt bí, vị ngọt nhẹ, thanh, kích thích vị giác bởi hương sen quyện ngọt điệu đà, tới khi nhai cái hạt sen đã ấm ấm trong miệng nên không còn cứng cũng không quá mềm như khoai lang luộc. Độ dẻo của hạt sen khi đã sên mứt rất mê hoặc và cũng đâu có gì vội để nuốt đi cho mau, cứ ngậm mà nghe hương vị đất trời tinh khiết của hương sen xông lên khoang mũi làm cho người thưởng thức lâng lâng cảm giác xuân đã về. Có thể nói món gì có hạt sen góp mặt cũng ngon như món vịt tiềm có nhân bên trong là thịt bằm, nấm mèo, táo tàu, gia vị nhiều thứ, nhưng những hạt sen luôn khêu gợi những đôi đũa gắp vì hấp dẫn và ngon lạ miệng. Nhưng đã nhiều năm không ăn mứt hạt sen sao vẫn nhớ khá rõ hương vị độc đáo của hạt sen trong món ngọt ăn chơi ngày tết, hay món mặn ăn tiệc đều ngon.
Cậu Hà người Bắc di cư năm 1954, cậu di cư có một thân một mình khi còn trẻ, nên cậu cũng không có nhiều phương tiện được học hành nhiều. Khi lớn lên ở miền Nam, lối chừng 19, 20 tuổi khoảng năm 1965-1966, cậu từ giã học đường đăng lính, cậu đi lính Việt Nam Cộng Hòa ngành Biệt Động Quân. Sau chuyển qua Thám Báo. Cậu đóng quân như ở miền đồng ruộng, lúc bấy giờ còn loáng thoáng xa xa, ít dân cư, tiếp giáp một bên Đồng Ông Cộ, miệt Gò Vấp, Gia Định.
Chị nhớ lại, vào một buổi sáng ngày cuối tháng 1 năm 1973, khi Chị đi lấy bản tin ở bên Macv về cho AP, chị thấy sao hôm nay văn phòng đông thế. Ký giả của AP và cả của NBC News bên cạnh cũng chạy qua chạy lại, Chị nghe ông chánh văn phòng nói: Viêt Nam sắp ngưng bắn rồi, sắp hòa bình rồi…” Văn phòng Associated Press xôn xao, từ ông chánh văn phòng đến các ký giả, nhân viên của AP đều hứng khởi với cái tin “Nóng bỏng” này. Chị thấy các phóng viên của các hãng thông tấn, hãng truyền hình ngoại quốc chạy hối hả sang nhau và chạy qua cả đài phát thanh Quân Đội Việt Nam để cập nhật tin tức viết bài…
Chị đi bằng xe hàng. Là dân Đà Lạt gốc Huế nên chị gọi xe đò là “xe hàng”. Đi xe hàng, tức là xe đò, là xe chở người và cả hàng chứ không chở riêng hàng. Tiếng Việt hay như vậy đó! Đến Gò Công rồi đi xe lam vào Đồng Nguơn. Ấp Đồng Nguơn. Không phải đây là lần đầu tiên chị được thấy cảnh đồng quê. Đồng quê miền nam hầu như đâu đâu cũng giống nhau. Nhưng có đi nhiều mới thấy mỗi nơi có một chút khác. Phải thế không? Hay chính là cảm giác của chị mỗi lần một khác?
Tôi ước mơ có một ngày nào đó, khi thanh bình thật sự trở về trên nước VN, khi chính thể CS hoàn toàn tan rã, khi con người công chính trở lại làm nền tảng trong xã hội mới, chúng ta sẽ trở về, những ngưới bạn từ thời xa xưa, cùng nhau làm lại một bữa tiệc Tất Niên, mời vong linh các thầy, các bạn, các anh em đồng đội đã chết trong khói lửa chinh chiến, trong các biến cố tang thương của đất nước, trong các trại tù, trên biển…cùng nhập tiệc. Kẻ đang sống cùng người thiên cổ bên cạnh nhau hoài niệm đến một miền thùy dương ngọt ngào nhân tính, một ngôi trường thân yêu giàu truyền thống giáo dục và y đức, một thành phố mến yêu thơ mộng. Để nghe những người quá cố tâm sự về cái chết oan khiên của mình. Được như vậy, hương hồn các vị đó sẽ sớm được siêu thoát và vĩnh viễn an nghỉ chốn nghìn thu. Và chúng ta đây giảm khắc khoải đau thương…
Tôi đã có bốn cái Tết trong trại Panatnikhom và Sikiew, Thailand. Tết đầu tiên thật nhiều kỷ niệm và bất ngờ, vì lúc đó chúng tôi vừa nhập trại trong khi còn hơn một tuần nữa là Tết. Tôi và ba cô bạn đi chung chưa kịp gửi thư cho thân nhân ở nước ngoài để ca bài ca “xin tiền”. Ai lo bận bịu đón Tết thì lo, còn chúng tôi thì lo đi mượn tiền để mua vài vật dụng cần thiết như tấm trải nhựa, tre nứa, dây nilon để làm “nhà” (phải “an cư” mới “lập nghiệp” tỵ nạn được chớ).Khoảng một tuần trước Tết, có một nhóm mấy thanh niên đến thăm vì nghe nói chúng tôi là dân Gò Vấp, nên muốn nhận “đồng hương đồng khói”. Họ là những người trẻ như chúng tôi, nên câu chuyện mau chóng trở nên thân mật và rôm rả
Hỏi thăm ông Hai bán hoa lay-ơn gốc Bình Kiến, nhiều người ngơ ngác hỏi nhau. Tôi lại rảo qua thêm mấy vòng chợ hoa, cũng vừa đi tìm ông Hai, cũng vừa ngắm hoa và ngắm những chậu bonsai bày bán cuối năm, cũng tìm lại mình của gần 20 năm trước, năm nào cũng cứ vào những ngày này, tôi theo ba tôi hóng gió đón sương không hề chợp mắt cùng gian hàng cây kiểng rất bề thế của ba ở đây.
Có lẽ những rộn ràng, hân hoan nhất trong năm không phải là "ba ngày tết", mà là những ngày cận tết. Bắt đầu vào ngày 23 tháng chạp, tối đưa ông Táo về trời. Tất cả mọi sinh hoạt đều hướng về việc chuẩn bị để đón một mùa xuân mới, chào đón nguyên đán và mấy ngày xuân trước mặt. Lúc nhỏ là mùi vải thơm của bộ đồ mới, mùi gạo nếp ngâm cho nồi bánh và hương thơm ngào ngạt cho sàng phơi mứt dừa, mứt bí, mứt gừng ngoài sân. Những đêm ngủ gà ngủ gật ngồi canh bên nồi bánh tét cùng với má, với gia đình xúm quanh. Mùi bếp lửa, mùi khói hương, mùi áo mới lan tỏa của tuổi thơ ngan ngát những ngày xa...
Người ta được nuôi lớn không chỉ bằng thức ăn, mà còn ở lời ru, tiếng hát, và những câu chuyện kể. Chú bé cháu của bà thích được bà ôm vác, gối đầu lên vai bà. Có khi bà mở nhạc từ chiếc nôi cho chú nghe thay cho lời hát, chiếc nôi chú bé đã nằm khi mới lọt lòng mẹ. Có khi bà hát. Bà không ru à ơi, nhưng âm điệu dân gian len vào trong từng lời hát. Chú bé mãi rồi ghiền nghe giọng hát của bà.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.