Hôm nay,  

Chiến tranh

20/06/202222:48:00(Xem: 6356)

Tùy bút

 

z 1 8 war ukraine dhsg
 

Nếu mỗi người có một ngàn kiếp sống

Chẳng nghĩ suy nếu chết đủ ngàn lần…

-- Chúc Thanh

 

Chiến tranh, ai cũng sợ vì chiến tranh súng đạn bắn giết, mang lại những đau khổ triền miên, người Ukraine họ đang chạy nạn chiến tranh.

 

Tu entendras crier les pauvres

Tu entendras gémir ce monde!

 

Đã gần nửa năm trôi qua, người tị nạn Ukraine có nhiều người muốn trở về quê hương của họ.

Vì cảnh ăn đậu ở nhờ nơi tạm dung làm họ cảm động và xót xa. Tôi thấy một bà lão già, trong một bữa ăn, bà ngồi nhìn mãi cái ngăn đồ ăn trước mặt có thịt, đậu hầm và bánh mì. Một nhân viên điều hành cứu trợ hỏi:

 

« Sao bà không ăn đi… Ăn đi kẻo nguội! » Bà lắc đầu và nói bà chỉ muốn trở về nơi ấy.

 

« Quê hương đang đánh nhau khói lửa, làm sao về ngay được… rồi sẽ bình yên, sẽ về sau. »

 

« Tôi muốn về ngay, xem và làm lại nhà tôi… »

 

« Điện nước, cầu đường… cả một hệ thống bị phá hủy hư hại, bà kiên nhẫn đợi… mọi người sẽ cùng làm sau, một mình bà bà làm gì nổi! »

 

Bà lặng lẽ khóc, những giọt nước mắt hiếm hoi còn lại lăn dài xuống má, xuống cằm, rớt một hai giọt xuống đĩa đậu hầm.

 

« Tôi chỉ muốn về nhà đợi, biết đợi đến bao giờ, tôi già lắm rồi, tôi sợ không kịp. »

 

Con người là vậy, mình có thể rời xa nhà mình, mà nhà mình thì không bao giờ ra khỏi mình.

 

Vì sau hơn một tháng, Kiev không còn bị Nga pháo kích và không kích nữa, chiến tranh đã chuyển lên Donbas. Cho nên cư dân họ muốn hồi hương, việc hồi hương của người Ukraine tràn lan ở biên giới, những xe hàng rồng rắn, xe bus, xe tư nhân nối đuôi nhau đông nghẹt chờ đợi để cùng nhau về lại quê hương.

 

Ông Roman Makar, tài xế xe bus, bảo là chưa bao giờ thấy đông người về như thế đó, càng ngày càng đông thêm. Cuộc gặp gỡ ở biên giới, phải nói là đoàn tụ thì đúng hơn, đầy nụ cười và cũng đầy nước mắt. Ông Yuki Vasylli đã 70 tuổi, thổi saxo mừng gặp lại vô số hàng xóm, người thân và người không quen. Tất cả họ, cũng như ông, còn sống sót. Người bạn trẻ Vassyly Boryko lau nước mắt, khi biết tin cha mẹ anh đã mất ở quê nhà do bom đạn khốc liệt cuối tháng 4. Cô gái Anna Bori hớn hở sách khăn gói lên xe bus trở về, cô nói cô không còn sợ hãi nữa, mình chỉ chết khi nào Chúa điểm danh và gọi tên mình, tôi đang trở về nhà tôi và không bao giờ  tôi rời đi nữa, tôi đang thấy hiện ra trước mắt tôi một quê hương tươi sáng, một quê hương trước ngày Nga khai chiến, ở đó, là một quê hương tươi sáng không bao giờ phai mờ.

 

Vâng, qua đống đổ nát đó, tôi còn nhìn thấy một ngôi nhà quen thuộc, đó là nhà tôi, và bây giờ có những ngôi nhà có thể bị xiêu vẹo cháy xém, là những ngôi nhà bị thương. Những ngôi nhà đổ sập là những ngôi nhà đã chết. Có thể còn những ngôi nhà còn nguyên mà các cánh cửa đóng kín mít, đó là những nhà chủ vắng nhà, những ngôi nhà kín cửa là những ngôi nhà mù lòa, chúng ta phải về để mở cửa chúng ra, chữa cho chúng khỏi bị mù lòa kinh niên. Và người Ukraine đã tới tấp trở về, họ còn có một quê hương để trở về!

 

Nhưng trong hơn một tháng qua, Kiev không bị Nga pháo kích và không kích, nay người di tản trở về, đang trở về thì Nga lại nổi điên, lại mang bom đạn tới dội, thì những người hồi hương đó sẽ ra sao? Chiến tranh chuyển động và chuyển mình như người bị sốt rét, bị bệnh kinh niên, nay thế này, mai lại thế khác. Có trời mà biết!

 

Tôi lo lắng bồn chồn, và tôi nhớ lại những năm tháng đã qua, cuộc chiến thảm khốc kéo dài lê thê trên quê hương Việt Nam, những con người đã từng « dựa lưng nỗi chết » (1) là những con người nhậy bén để cảm nhận « nỗi buồn chiến tranh » (2). Ngay từ khi tôi mới sáu, bẩy tuổi, tôi đã phải đi tản cư. Gia đình nhỏ bé của tôi ở ngoài miền Bắc Việt Nam, quê tôi nằm bên kia sông Thái Bình, mạn biển. Thụy Anh, Thái Bình. Khi mẹ tôi mất rồi, dì tôi về thế chỗ mẹ tôi, dì có thêm cho tôi một đứa em trai. Dì ghẻ mà không ghẻ, dì hào phóng nuôi tôi như một đứa con gái ruột. Chị em tôi rất hòa thuận, mỗi lần dì tôi chia phần ăn, cơm, cá, bánh trái, hoa quả, bà luôn chia cho hai đứa hai phần đều nhau, có khi tôi được hơn em tôi một chút, vì bà nói là: « Chị nó ăn hơn con một chút là tại nó có cái bụng lớn hơn bụng con. » Thằng cu em chợt xoa bụng nó và ngó tôi mỉm cười. Chúng tôi sống ở miền quê, rất thôn dã, quê tên là Thái Bình mà thật ra cũng hiếm có khi Thái Bình!

 

Dì tôi thuần túy là nông dân sống với ruộng vườn. Hồi đấy, tôi còn nhỏ, thơ dại, mà tôi vẫn nhớ đến nay, tôi nhớ như in, là những năm tháng 1948-1950 quê nhà nằm giữa vùng giao tranh của Pháp và Việt Minh. Tôi cứ suy nghĩ và nhớ hoài giai đoạn đó, vì đã có lúc tôi tự hỏi có phải vì thời kỳ 100 năm bị đô hộ giặc Tây, mà giặc Tầu là Trung Quốc, tới ngày nay chưa nuốt trọn, xâm chiếm gọn Việt Nam, như nó đã từng ăn gỏi nước Tây Tạng của Đức Đạt Lai La Ma?

 

Tôi nói vậy, không phải là tôi cám ơn thực dân Tây, mà sự việc gì nó cũng có tác dụng và tạo ra phản tác dụng, nhưng nhờ đó, tôi nhớ hoài kỷ niệm đi tản cư và hồi cư thời thơ ấu.

 

Cứ như thế đó mà tôi lo sợ và nghĩ tới người Ukraine cuộc đi và về ở hai nơi này có hơi và cũng rất nhiều điểm giống nhau.

 

Quê tôi, ngày xưa đấy, gọi là vùng tề, đêm Việt Minh về gây rối, thu thuế, bắt người, rải truyền đơn y như là làm truyền thông ban ngày, Tây lại lên làng càn quét, bao vây, bắn phá, đốt nhà dân chúng lấy đi đồ ăn và đồ dùng của dân, y cảnh lính Nga tràn vào Ukraine, Kherson, Bucha. Chúng ăn cướp của dân, giết người, cưỡng bức… mà người ta gọi chúng là bọn thổ phỉ, mà khi chiến tranh xẩy ra ở đâu, là có thổ phỉ ở đó. Thổ phỉ Nga, theo hình ảnh in trên mạng, chúng lấy cả đồ ăn và đồ dùng như điện thoại và đồng hồ của nhà người dân.

 

Khi phát biểu tại trụ sở NATO ở Bruxelles, Macron Emmanuel, tổng thống Pháp muốn thu thập các bằng chứng tội ác chiến tranh ở Nga, đề nghị cho hiến binh và thẩm phán đến tại chỗ thu lượm các hình ảnh chứng cớ để đưa họ ra xét xử trước tòa án hình sự quốc tế. Họ được tổ chức Human Rights Watch đồng thuận và đồng hành.

 

Xin được đi ngược thời gian, ăn cơm mới nói chuyện cũ. Trở lại chuyện tản cư xa xôi khi tôi còn bé, những lần làng quê bị Tây bố như vậy thật là khổ cực, người già trẻ lớn bé tự động rỉ tai báo động, rồi bồng bế con cái, mang theo chút ít lương thực tránh lên làng trên đó ít ngày, đợi tình hình yên yên hết tiếng súng, lại lục tục kéo nhau về. Có những lần chạy kịp là may, có những lần chậm chân, gặp Tây, là có vài người bị bắt, có người bị nghi là Việt Minh bị bắn chết, sau đó, trong làng lại có vài đám ma, lại u buồn ủ giột ít ngày.

 

Tôi cũng không hiểu sao chúng tôi còn may mắn sống sót. Dì tôi nói là có Phật Trời gia hộ, có phước đức ông bà chở che và chúng tôi chưa tận số. Chớ lần nào có giặc tới, là chúng tôi cũng chạy sau hết mọi người. Ông bà, cô chú, làng xóm luôn luôn chạy sớm. Còn dì tôi, vì cố tật tham công tiếc việc, nên luôn luôn ba chúng tôi chỉ rời nhà, rời ngõ khi tiếng súng “cắc bọp” đã vang lên loáng thoáng ở đầu làng.

 

Lúc sớm thì cả nhà có rủ đi chạy loạn trước, hai chị em tôi cũng không đi theo, cả hai đứa nặng nặc ở lại để đợi dì tôi từ ngoài cánh đồng về. Có lần máy bay ruồng bố quá, hai đứa tôi ôm nhau chui lọt xuống cái cối giã gạo trong nhà bếp. Có khi dì tôi về tới thì nhà đã vắng hoe, còn mỗi mình chú Thi, là con nuôi của ông nội, chú ngồi lại ở vườn chuối sau nhà, chú tình nguyện ở lại coi nhà và có lẽ chú lo cho hai đứa tôi đang rất nguy khốn một mình trong căn nhà thênh thang. Dì tôi gan dạ lắm, về trễ nhưng không chạy ngay đâu, còn lùa rơm và trâu vào chuồng, cho gà qué ăn rồi đuổi chúng đi, cài cửa kho lúa, dặn dò chú Thi những hầm ẩn trốn an toàn, v.v… Xong hết ngần ấy việc dì mới dắt hai đứa tôi cùng ra khỏi cổng, có lúc vừa đi vừa chạy.

 

Thường giặc theo đường đê, vào đầu làng, chúng tôi thoát ra bằng ngõ cuối làng sau đình. Phải qua, lội qua một cánh đồng lúa nước khá mênh mông, mới vượt xa được tầm giặc Tây, thoát được lên làng trên đó là quê của dì, làng Yên Lệnh, bên cạnh là Đồng Tỉnh.

 

Người Bắc hay hát:

 

Ai lên Đồng Tỉnh Huê Cầu,

Để thương để nhớ để sầu cho ai…

 

Chẳng biết với người khác thì thơ mộng làm sao, chớ với dì tôi, thì chỉ có mấy thằng Tây thực dân, mắt xanh mũi lõ là để khổ để sầu cho bà ấy rất nhiều!

 

Vì lỗi cũng phần lớn là tại dì, dì đi tản cư sau mọi người, vừa chạy vừa dắt theo hai đứa tôi, miệng vừa lẩm bẩm niệm Phật. Mà điều oái oăm hơn là dì tôi đi sau mà lại cứ thích về trước mọi người. Bà tham công tiếc việc lắm, đến nơi lánh nạn rồi, mà đứng ngồi không yên, hễ nghe ngóng tình hình, êm êm tiếng đại bác, là bà giục chúng tôi sửa soạn dắt díu nhau về làng. Dì sợ lỡ nắng quá, ruộng khô tát nước không kịp, mạ non lớn mau, cấy không xong… Thế nên đã có lần đêm khuya thanh vắng chúng tôi lần mò về nhà sau vài ba ngày đi chạy loạn. Vừa kịp lội lên khỏi đầm nước thì bất chợt nghe tiếng người quát tháo, cả hàng tràng súng liên thanh bắn vào đêm!

 

Mẹ con, dì cháu sợ quá, nằm mọp sau mấy ngôi mộ mới còn cao, nằm suốt đêm, bà nắm chặt mỗi đứa tôi một cái chân, đợi gần sáng, lại mò mẫm lội ngược trở lên Đồng Tỉnh, Huê Cầu, Yên Lệnh ở thêm vài ba ngày nữa.

 

Đã có lần giặc lên gấp quá, dì tôi về trễ như mọi lần, mà lúc ra đi, dì còn dắt theo ngoài ba chúng tôi, một con trâu cái, là vốn liếng của dì. Ra tới bờ đầm, dì vội vã lùa trâu xuống nước, rồi bà bế xốc hai chị em tôi lên lưng con trâu, dặn chúng tôi ôm nhau cho chặt và chắc. Một tay dì tôi đeo một bao gạo khá nặng, một tay lôi thừng trâu kéo nó đi theo bà. May mắn con trâu cái lội nước quen nên đi theo người thoăn thoắt, y là nó linh cảm nguy hiểm ở phía sau. Cu em tôi nghe đạn bắn veo véo, sợ quá cùng siết chặt vai nhau cúi rạp đầu. Ngồi ngất ngưởng trên mình trâu như vậy mà hai chị em tôi không bị trúng đạn. Người bị thương lại là dì tôi, bà bị bắn vào bắp chân, con trâu dường như bị đạn xuyên qua bụng.

 

Dì tôi chỉ kịp kêu to một tiếng “Ối giời ôi!” bước lạng quạng thêm vài bước rồi té ùm xuống nước. Con trâu cũng khuỵu gối xuống theo dì. Hai chị em tôi bò loi ngoi lóp ngóp trong đầm nước đục ngầu đỏ loang máu!

 

Lần đấy, nhờ thanh niên tự vệ của làng đến cứu kịp. Dì tôi, trời Phật thương, đau ốm vài tháng rồi cũng qua khỏi. Coi vậy chớ dì tôi khóc tức tưởi mãi khi người ta mang võng đến võng dì đi. Bỏ lại con trâu cái hấp hối chờ chết trong đầm nước. Những ngày kế tiếp, trong cơn sốt nóng li bì, dì cầm tay tôi căn dặn nhiều lần: “Nhắn chú Thi chôn giùm xác con trâu cho dì.”

 

Đó là những chuyện xa xưa rất xưa rồi…

 

Hôm nay, nhìn một bà đầm Ukraine, vai đeo giỏ nặng, một tay bế một đứa con nhỏ, một tay kéo theo một con chó médor yêu dấu, cả ba đều chạy theo xe bus đi di tản, nét mặt họ đầy vẻ hoảng loạn, vừa đi vừa sụt sịt khóc. Người Tây cứ sợ là khóc thôi.

 

Nói vậy chớ tôi rất bần thần lo lắng với họ, chiến tranh khi nào cũng giống nhau, đầy sợ hãi, bi thuơng, kèm theo là chết chóc, rồi tử biệt sanh ly, tiếp theo sau chiến trường, là những con đường đi rất vắng vẻ, những hàng cây trơ trụi và một không khí ảm đạm thê lương, một ánh sáng trắng bạch hơi đục, ánh sáng của nến, của đèn cầy của con đường dẫn dắt tới một cõi âm u.

 

Hồi chiều nay, ngày 6/6, tôi nghe nói trên RFI, truyền thông loan tin và luận đàm chiến sự, có người không bằng lòng ông Emmanuel Macron, vì ổng nói là: “Putin đã phạm một sai lầm căn bản, Putin tự cô lập, tự cô lập là một chuyện, muốn thoát ra khỏi điều đó lại là một lộ trình khó khăn, mọi người cũng không nên làm nhục nước Nga”.

 

Có lẽ đúng là Macron, ông ấy nói quá lời, tự ông Putin, ông ấy đã làm nhục nước Nga rồi, vì ông ấy hiếu chiến và hiếu sát. Tuy nhiên, đối với tổng thống Pháp, đây chỉ là một lối nói ngoại giao, một lời nói chính trị thì đúng hơn, vì tổng thống Macron không phải là người ác, tâm sinh tướng, cứ nhìn mặt Macron, ông ấy luôn muốn gợi ý chấm dứt chiến tranh bằng ngoại giao, bằng đối thoại, mà muốn đối thoại với nhau được, thì hẳn là không được hạ nhục nhau, phải mở ra cho kẻ cùng đường đi (có thể là một con chó dữ) một lối ra, một khung cửa hẹp để thoát ra mà không cay cú, không cắn quàng nhau.

 

Đáp lời, Ngoại trưởng Dmytro Kuleba của Ukraine phát biểu tiếp theo trong một “tweet” cá nhân rằng: “Lời kêu gọi của ông Macron kêu gọi tránh làm nhục Nga, chỉ có thể làm nhục nước Pháp và mọi quốc gia khác chủ trương kêu gọi điều này.”

 

Trong hoàn cảnh chiến tranh đang căng thẳng tột cùng, mà dùng thông tin dẻo miệng đổ thêm dầu vô lửa, e rằng chỉ làm cho cuộc chiến điên cuồng hơn, vô phương bàn luận rồi, hãy nghe bài thánh ca của chúa:

 

Ecoute la voix du Dieu

Prête l’oreille de ton cœur

Tu entendras que Dieu fait grâce

Tu entendras l’Esprit d’audace

Ecoute la voix du Dieu

Prête l’oreille de ton cœur

Tu entendras crier les pauvres

Tu entendras gémir ce monde! (3)

 

Thử hỏi tại sao người Việt ở hải ngoại không thể nào và không bao giờ hòa hợp hòa giải được với chế độ Việt Nam đang cai trị trong nước? Câu hỏi đã có sẵn câu trả lời trong câu hỏi, vì là cộng sản đã đầy đọa và đã sỉ nhục người Việt Nam tự do nhiều quá, nhiều đến mức gọi là vô bờ bến!

 

Khi một cuộc chiến quá lâu, quá thê lương như cuộc chiến Việt Nam, khi tàn cuộc chiến, thì bên thua chưa hẳn là nhục, và bên thắng cuộc cũng chẳng vinh quang gì. Vì họ, cả hai đã thảm sát nhau quá nhiều, kể cả nhân mạng và tình người. Khi đã buông tay, giã từ vũ khí, mà còn hạ nhục đối phương thì chẳng bao giờ đối phương có thể xích lại gần, mà tôi đây, « tôi » thắng cuộc, tôi cũng muốn tâm sự rằng:

 

Đi ra thì nói thì cười

Áo quần sạch sẽ cho người khỏi khinh

Về nhà mình chuyện với mình

Lưng trần, quần cộc, quẩn quanh trong nhà

Trời ơi, chân giả tháo ra

Cò cò lết lết như là trẻ con

Trót duyên một chút văn chương

Đêm ngày bò xổm trên giường viết văn

Khi đọc khi viết khi ngâm

Nghe trong gan ruột âm thầm riêng ta…

(Thơ của Hoàng Cát)

 

Ai cũng muốn kết thúc chiến tranh trong vinh quang để ca khúc khải hoàn, đó là lý tưởng. Vậy ai thua? Chưa có câu trả lời.

 

Chỉ mong rằng Thượng đế luôn công bằng, rằng kẻ nào gieo gió sẽ gặt bão lớn.

 

Còn tiền tệ và tiền lệ của chiến tranh là máu. Khi các gia đình chôn cất người thân của họ ở Ukraine, một số người, tiêu biểu là môt người khá lớn tuổi, tên là Mitry Vassyly ở Bakhmut, ông ấy đặt câu hỏi về giá máu mà họ phải trả, và hỏi rằng:

 

“Liệu có tốt hơn nên trả cho một lệnh ngừng bắn bằng cách nào, bằng đất đai hay bằng máu và mạng sống?”

 

Tôi rất quan tâm và suy nghĩ mà tôi cũng không trả lời được, phải trả lời thế nào cho đúng cả về lý trí và tình cảm? Chịu thua!

 

Tôi chỉ biết là chỉ những người đã sống trong chiến tranh, sống với bom rơi đạn nổ khi mặt đất rung rinh vần vũ, máu lửa vung vãi ngột ngạt, ta chạy đi đâu trong căn nhà lửa tam giới, thập giới này? Ở đâu mình cũng có thể chết, chết một lần, chết hai lần và cả ba lần hay bốn lần…

 

Khi con người ta “dựa lưng nỗi chết” (1) thì con người ta dễ cảm nhận nhậy bén “nỗi buồn chiến tranh (2)

 

Chúc Thanh

(Paris, 6/2022)

 

(1) Tác phẩm của Phan Nhật Nam.

 

(2) Tác phẩm Bảo Ninh.

 

(3) Xin tạm dịch cho thoát ý:

 

Hãy nghe tiếng nói của trời,

Hãy nghe nhịp đập của lời trái tim,

Con sẽ thấy Thượng Đế ban ơn!

Con sẽ thấy tinh thần dũng cảm!

Hãy nghe tiếng nói của trời

Hãy nghe nhịp đập của lời trái tim.

Con sẽ thấy người nghèo kêu than!

Con sẽ thấy thế gian rền rỉ!

(Bài ca của Nhà nguyện Ste. Jeanne Antony)

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Càng lớn tuổi chừng nào, thì người ta lại thường hay nhớ tới những kỷ niệm trong dĩ vãng của mình nhiều bấy nhiêu. Nhất là những người cao niên đã về hưu, không còn bị ràng buộc bởi những công việc làm thường ngày của mình như trước kia, nên có nhiều thì giờ rảnh rỗi ngồi ở nhà một mình, để hồi tưởng lại những kỷ niệm buồn vui khó quên trong cuộc đời mình, rồi để có những lúc tâm sự cho nhau nghe lại những kỷ niệm khó quên này, trong những dịp tiệc tùng họp mặt bạn bè.
Lộc đã chết! Tích ngỡ ngàng khi nghe tin đó. Chàng không tin vào tai mình. Làm sao Lộc có thể chết được? Mình mới gặp anh ấy có tuần trước thôi mà! Trông anh còn khỏe mạnh, tự tin, tràn đầy sức sống. Vậy mà bây giờ anh đã không còn nữa. Cái chết của anh có cái gì đó không thật. Và có lẽ đó là lần đầu tiên Tích đứng trước nhận thức trực tiếp và thâm sâu về tính chất phi lý của một sự kiện quá bình thường trên đất nước chiến tranh này.
Từ giữa tháng Tám, trước ngày Lễ Labour Day, các trung tâm shopping đã rầm rộ quảng cáo “On Sale” cho mùa “Back To School”. Các con tôi đã lớn, qua rồi cái thuở đi sắm backpacks, tập vở, giấy bút, lunch bags, áo quần, nhưng lòng tôi vẫn nao nao bâng khuâng nhớ về những kỷ niệm ấy. Cũng có lúc tôi lại nh ... chính tôi, ngày xưa là cô giáo trẻ khi còn ở Việt Nam, và nhất là những tháng ngày ở trại tỵ nạn Thailand, làm cô giáo “đặc biệt” có những học trò cũng rất “đặc biệt”.
Chị Hai đã uống một ly nước đầy và đi làm việc tiếp. Đoan vào lại chỗ của mình. Như một phản xạ, Đoan lại cho tay vào túi, làm như tìm xem trong đó có sót lại một viên kẹo chăng. Mơ hồ, Đoan nhớ ngày xưa Đoan hay ví một hành động “vớt vát” nào đó như là “tìm con cá sót lại trong chiếc giỏ của cô Tấm.” Mắt Đoan cay cay. Bỗng như thấy mình đang đi vào lại đường cây còng. Mùa mưa, những chiếc lá trên cao đọng nước, rũ nhè nhẹ xuống tóc Đoan, nghe mát. Hai túi áo blouse lúc nào cũng đầy kẹo. Đoan vào trại bệnh. Những dãy giường đầy người. Thay băng xong cho ai, Đoan tặng người ấy một viên kẹo
Ở đây tôi chỉ muốn đưa một vài nét chính của các môn Khí công mà tôi đã tập qua, để người đọc theo đó sẽ chọn được một môn pháp thích hợp cho mình tập. Chả thế người xưa thường hay nói “Tùy bịnh chọn công“, tùy theo thể chất và sức khoẻ mà chọn cách tập Khí công.
Ngày tựu trường năm nay, trường Việt Ngữ Suối Mở Offenbach đón tiếp 14 học trò mới với tuổi tác, trình độ tiếng Đức, tiếng Việt chênh lệch khá nhiều. Tạm thời, cô giáo gọi lớp này là Lớp Mới. Giờ học đầu tiên, cô giáo chưa thực sự “dạy” chữ, chỉ “dỗ” các học trò. Hy vọng học trò sẽ thấy học tiếng Việt không khó lắm và tìm thấy niềm vui khi đến trường Việt Ngữ mỗi thứ Bảy. Chờ cho học trò tìm chỗ ngồi xong, cô giáo giới thiệu mình, và tập cho học trò chào hỏi. Nghe các em đồng thanh: “Con chào cô giáo”, lòng cô giáo rộn lên niềm vui, liên tưởng câu châm ngôn “tiên học lễ, hậu học văn” mình được học ngày xưa.
Cô vẫn nhìn thẳng phía trước, không nhìn ngang nhìn ngửa. Anh liếc nhìn cái túi xách giữa hai đùi cô, thấy cộm lên, nghĩ rằng trong ấy có một khẩu súng ngắn, đã lên đạn, lát nữa sẽ kề vào thái dương của anh. Anh nín thở.
Tháng tư 1976, sau một mùa đông ở North Dakota, vừa có bằng lái xe, tôi bỏ việc, bỏ lại một vùng quá bình an, quá tử tế, nhưng cũng quá cô quạnh này, đi thẳng về hướng tây...
“Anh nhớ đến dự lễ trao đẳng cấp Đại Bàng cho thằng con em nha! Để mừng cho em và cháu…” Tôi nhận được điện thoại như vậy từ C., một người bạn trẻ có con trai là hướng đạo sinh thuộc Liên Đoàn Trường Sơn, được nhận danh hiệu Đại Bàng vào ngày 16/08/2025. Đã lâu rồi, kể từ khi hai thằng con ngưng sinh hoạt hướng đạo để đi học đi làm, tôi không có dịp trở về thăm lại liên đoàn. Công việc thì nhiều, thời gian thì ít. Nhưng lần này thì không từ chối được rồi!
Đó là tháng 6-1989, lần đầu đến New York và vào một bảo tàng viện nổi tiếng ở đây, tôi tình cờ, tới chỗ treo một bức tranh trừu tượng khổng lồ, cao khoảng 2 mét, ngang khoảng 6 mét. Tôi kinh ngạc với sự giàu có ở đây, bảo tàng viện này dành riêng ra một căn phòng lớn, đơn giản, sang trọng, chỉ để trưng bày một bức tranh đó...
Tôi bị bắt tại huyện Tân Hiệp chiều ngày hai mươi, giáp Tết. Lý do, mang theo hàng không giấy phép. Thế là tiêu tan hết vốn lẫn lời mà tôi chắt chiu, dành dụm gần cả năm nay. Nhớ đến mẹ và gia đình trong những ngày Tết sắp tới, tôi vừa buồn vừa tức đến bật khóc. Xui rủi, biết trách ai. Tiễn, anh phụ lơ, đã cẩn thận cất dấu hàng cho tôi, vã lại anh cũng quá quen biết với đám công an trạm kiểm soát. Không ngờ chuyến nầy bọn công an tỉnh xuống giải thể đám địa phương, nên tôi bị “hốt ổ” chung cả đám. Đây không phải là lần đầu bị bắt, nhưng lại là lần đầu tiên tôi đi chuyến vốn lớn như vầy. Năm ký bột ngọt, năm ký bột giặt, hơn chục ống thuốc cầm máu và trụ sinh hàng ngoại. Bột ngọt, bột giặt không nói gì, nhưng hai thứ sau hiếm như vàng mà giới “chạy hàng” chúng tôi gọi là “vàng nước”. Nên thay vì đưa về khu tạm giam huyện chờ lập biên bản, hồ sơ xét xử tôi nghe bọn công an thì thầm, bàn tán giải thẳng về khám lớn tỉnh Rạch Giá.
Quỳnh Lâm báo tin sẽ đến Đức trong tuần lễ đầu tháng 10. Nisha vội vàng thu xếp “sự vụ lệnh“ để công du sang Đức. Nisha lo đi chợ sắm sửa đầy mấy tủ lạnh, tủ đá, để mấy cha con sống còn trong thời gian nữ tướng đi xa. Chúng tôi hồi hộp quá, ngày nào cũng thư từ, nhắn nhủ, dặn dò đủ điều tẳn mà, tẳn mẳn. Điện thư qua, về hoa cả mắt. Thư nào chúng tôi cũng nhắc nhở nhau giữ gìn sức khoẻ, vì đứa nào cũng “lão” rồi. Khi gặp nhau, tụi tôi nhất thiết phải đầy đủ tinh thần minh mẫn trong thân thể tráng kiện. Có hôm, đến trưa, chưa nghe tăm tiếng, tôi sốt ruột, xuất khẩu làm thơ... bút tre:


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.