Hôm nay,  

Ông Sáu Cửu

02/07/202209:34:00(Xem: 3845)

Truyện ngắn

alley

 

Con hẻm nhỏ trước hồ Kỳ Hòa vốn im lìm và lặng lẽ như bao con hẻm ở thành đô, mỗi buổi sáng được đánh thức bởi những tiếng rao: “Bánh mì nóng đây”, “Ai bánh tiêu, dầu cháo quẩy hôn”, “Ai bánh ướt, hủ tiếu hôn”, và những tiếng mõ lóc cóc của những xe hủ tiếu đậu đâu đó.

 

Ông Sáu Cửu mở cửa ra mua mấy ổ bánh mì rồi quay ngay vào trong. Ông Sáu Cửu vốn cao to, râu tóc dài trông rất nghệ sĩ và sang, có lẽ hồi trẻ ông rất đẹp trai và phong độ. Ông sống với một người con trai ở trong ngôi nhà ba tầng lầu, giá cả giờ cỡ mười lăm tỷ bạc. Ông Sáu sống kín đáo và lặng lẽ, không tiếp xúc với láng giềng, có gặp mặt thì cũng chỉ chào xã giao một tiếng rồi thôi. Nhiều người tò mò tọc mạch nhưng cũng chẳng biết gì nhiều về đời tư của ông. Trong xóm, có lẽ bà Tám Quỳnh là người gần nhà và cũng là thân với ông Sáu nhất.

 

– Tui với ổng ở đây từ trước những năm bảy lăm, vợ con ổng ra nước ngoài từ lâu lắm rồi, họa hoằn lắm mới thấy họ về thăm ổng vài tuần rồi lại ra đi. Nghe đâu mấy con ổng vượt biên, sau đó bảo lãnh vợ chồng ổng bả nhưng ổng hổng chịu đi. Mấy chục năm nay ổng sống với thằng con hơi bị chạm dây thần kinh.

 

Bà Chín Hoa, nhà đối diện với ông Sáu phụ họa thêm:

 

– Người gì đâu mà cô độc, hổng chịu giao tiếp với ai cả, chẳng có tình nghĩa láng giềng gì hết ráo.

 

Ông Hai Quản thì nói:

 

– Tui có rủ ổng tham gia hội người già để sinh hoạt cho vui, vậy mà ổng cũng đâu có chịu, trời sanh mỗi người mỗi tánh, sống mỗi người mỗi nết chết mỗi người mỗi tật.

 

Cuối năm ấy, xóm giềng trong con hẻm 360/72 thấy nhà ông Sáu Cửu rộn ràng có Việt kiều về. Nhiều người xuýt xoa ghen tị khi thấy người đàn bà luống tuổi ăn mặc sang trọng bước xuống taxi cùng với mấy cái vali hiệu LV. Những sáng kế đó, họ thấy xe con vào tận cửa rước người đàn bà và hai người con đi ăn sáng. Ông Sáu vẫn cứ như thường lệ, sáng ra là mua bánh mì, hổng biết những ngày có Việt kiều về ông ấy có ăn hay không mà vẫn mua. Nhà ông Sáu những ngày có Việt kiều cũng không khác gì những ngày khác, cửa vẫn im ỉm đóng, người ra vào là mất hút và đóng cửa lại ngay. Bà Chín Hoa thỉnh thoảng có nghe tiếng cãi vã. Bà biết thằng Hải từ khi nó còn nhỏ xíu, nay nó đã là anh thanh niên, nó cũng chào bà nhưng chỉ là xã giao chứ không thân thiện. Buổi tối bà ngồi ngoài hiên hóng gió và hóng chuyện luôn, tiếng thằng Hải:

 

– Ba già rồi, giờ bán cái nhà này đi, mua cho anh Hoài cái nhà nho nhỏ khác. Ba thì qua Mỹ sống với má và tụi con.

 

Bên trong căn nhà vốn lạnh tanh lâu nay, giờ có tiếng cãi vã to đôi chút cũng chẳng đủ để có sinh khí. Lâu lắm rồi cả nhà mới ngồi quây quần trong chốc lát. Ông Sáu Cửu  như pho tượng bất động, chỉ có mỗi ngón tay khẽ gõ nhẹ nhẹ trên mặt bàn đủ để biết ông là con người bằng xương thịt. Giọng ông Sáu khe khẽ nhưng rõ ràng rành mạch:

 

– Ba không đi đâu hết, nhà này cũng không thể bán, bán rồi thì thằng Hoài ở đâu? Ba ở đây chăm sóc nó.

 

Thằng Hải đã năm lần bảy lượt đòi bảo lãnh cho ông Sáu nhưng ông ấy nhất quyết không chịu, sau khi nhà đất lên giá nó đề nghị bán ngôi nhà nhưng ông Sáu cũng không đồng ý. Hải bực bội to tiếng:

 

– Bảo lãnh ba không đi, nhà có giá ba không chịu bán, ba sao lập dị khó tánh quá!

 

Ông Sáu cả đời trầm tĩnh, xưa giờ chưa từng thấy ông giận bao giờ, lúc nào cũng nhỏ nhẹ từ tốn. Ông nói:

 

– Ba không đi đâu cả, ngôi nhà này sau khi ba chết thì con muốn bán sao cũng được, nhưng giờ thì để ba ở và lo cho thằng Hoài.

 

Bà Lệ, vợ ông Sáu bảo thằng Hải:

 

– Ổng không đi thì thôi, con đừng có nói nữa làm gì, hồi nẳm ổng còn chưa chịu đi huống gì là bây giờ.

 

Bà Lệ quay qua ông Sáu:

 

– Ông nói thương tui mà sao không chịu đi?

 

Nói thì nói thế thôi chứ bà Lệ thừa biết tánh chồng mình. Tình yêu của ông dành cho bà chẳng có điều gì để nghi ngờ. Lần đầu trở về nước thăm nhà, bà đã rất xúc động khi thấy cái nón bà úp ở góc bàn ăn vẫn còn nguyên đó, quần áo và những vật dụng bà không mang theo vẫn y nguyên vị trí của nó, không một tí xê dịch hay mất mát. Ông giữ nguyên mọi thứ vật dụng của bà, cứ như thể thời gian ngừng lại ở trong ngôi nhà này kể từ lúc bà ra đi. Ông Sáu trân trọng giữ gìn từng kỷ niệm nhỏ nhất, những kỷ vật của bà ông nâng niu như nâng niu chính bà. Bà biết ông yêu bà lắm, hồi còn làm quận trưởng Tuy Viễn, những người đồng liêu với ông ai cũng có bồ nhí, vợ bé nhưng ông thì không. Nhất định không! Sáng vào quận làm việc, hết giờ thì về nhà ăn cơm với bà. Ông chưa từng ăn chơi hay làm điều gì khiến cho bà phải buồn lòng. Ngày Đà Nẵng thất thủ, quân dân hoảng loạn rần rần chạy vào nam. Bình Định tuy chưa loạn nhưng ông Sáu  đoán biết cũng chẳng bao lâu nữa nên đốt hết giấy tờ hồ sơ và những gì có liên can đến thân phận ông, sau đó ông dùng xe vespa chở bà Lệ, ba đứa con và những món vật dụng cần thiết với tiền bạc chạy vào Sài Gòn. Sài Gòn cũng như bầy ong vỡ tổ, dân và quân đều sợ xanh mặt, ai cũng ngược xuôi tất tả nhưng chẳng biết chạy về đâu. Với một người rành rẽ chuyện hành chánh quan trường nên ông làm lại giấy tờ tùy thân khác với một danh tính mới hoàn toàn. Ngôi nhà ở hẻm 360/72 ông mua từ hai năm trước, nay trở thành nơi ở chính thức của vợ chồng ông, láng giềng người cũ kẻ mới nhưng cũng chẳng biết gì nhiều về ông. Mấy năm sau thì thằng Hải với con Hà vượt biên trót lọt, sau tụi nó làm giấy bảo lãnh ông bà qua Mỹ nhưng chỉ có bà chịu đi chứ ông thì nhất quyết ở lại. Thằng Hoài vốn là giáo viên dạy nhạc nhưng không hiểu sao tự dưng bị trầm cảm rồi sanh tự kỷ nặng, anh ta cứ ám ảnh vi trùng, suốt ngày rửa tay đến lột cả da tay. Nhà trường cho nghỉ việc và từ đó ở nhà với ông.

 

Lịch sử có những lúc vô cùng nghiệt ngã, trong dòng chảy liên lỉ bất tận của nó, đôi khi lưu đọng lại những chuyện khó tin nhưng có thật, những ẩn tích lịch sử nếu dùng lối lý luận thông thường thì thấy khó có thể tin là có thật. Năm xưa cũng ở mảnh đất ấy, nơi nhà Tây Sơn phát tích, sau khi Nguyễn Vương lên ngôi, toàn bộ những ai có liên can đến nhà Tây Sơn đều bị tru diệt, lệnh truy cùng diệt tận được duy trì vĩnh viễn ấy vậy mà đô đốc Long và đô đốc Dõng lại trốn thoát một cách kỳ lạ. Triều đình với hệ thống mật vụ, chỉ điểm khét tiếng cũng không thể tìm ra tông tích hai ông, thiên hạ danh môn chánh phái cho đến tả bang ngoại đạo cũng không biết hai ông ẩn thân nơi nào. Thế rồi hai trăm năm sau lịch sử lặp lại. Ông cựu quận trưởng biến mất không để lại một manh mối hay tông tích gì, trong khi ấy những người trên ông, dưới ông đều bị trả thù tàn bạo, bị tù đày, bị đẩy lên rừng hoang nước độc, hoặc bị giết chết.

 

Ông cựu quận trưởng biến mất, người dân không biết, đồng bào không biết, nhà cầm quyền cũng không biết. Có nhiều giả thuyết đặt ra như: ông chết trận, ông chết trong loạn quân khi di tản, chết mất xác khi vượt biên, hoặc là đã ra nước ngoài và mai danh ẩn tích… tuy nhiều giả thuyết như vậy nhưng chẳng ai dám khẳng định thuyết nào đúng, chuyện cũng dần mai một theo thời gian, nhà cầm quyền cũng đóng hồ sơ, coi như mất tích. Đời vẫn thường bảo” Nơi nguy hiểm nhất chính là nơi ẩn trốn an toàn nhất”, có mấy ai ngờ… chẳng có ai ngờ…

 

Tuần tới bà Lệ và thằng Hải trở lại Mỹ, cả nhà làm tiệc chia tay. Họ hàng có vài người thân ở Bình Thạnh đến dự tiệc. Bà Kim Hoàng, chị ông Sáu Cửu nói:

 

– Chú Sáu không muốn đi, thím với cháu Hải cũng đừng ép uổng, chú ấy giờ cũng già rồi, sống ở đây cũng an ổn chứ chẳng có gì đáng lo đâu. Chú ấy có sự lựa chọn của chú. Ở đời đôi khi sự lựa chọn của người này lại rất khó hiểu với người kia, cũng không biết chắc được cái sự lựa chọn nào hay hơn. Ngày xưa chị cũng từng mấy bận góp vàng để đóng tàu mua bãi vượt biên, rốt cuộc xôi hỏng bỏng không, mất cả chì lẫn chài mà còn ở tù nữa chứ. Xem ra số phận mỗi người không ai giống ai, có người muốn thì chẳng được có người được thì lại chẳng muốn.

 

Bà Lệ nói:

 

– Chị nghĩ thử xem, vợ chồng bảo yêu thương nhau nhưng sống mỗi người mỗi nơi, nào có phải là không thể sống chung mà do cái tánh ngang bướng của ảnh.

 

Bà Kim Hoàng cười nhẹ:

 

– Thím thử đặt ngược vấn đề lại xem, sao thím hổng chịu ở đây với chú ấy? Ở thành đô này cuộc sống cũng dễ dàng, nhà cao cửa rộng, xóm giềng đông vui, sao thím không theo chồng mà đòi chồng phải theo thím? Quá khứ chú ấy đã vùi sâu chôn chặt, thành đô này có ai biết thân phận chú ấy đâu.

 

Bà Lệ không đồng ý:

 

– Ở đây sao bằng bên kia được, ở bển cuộc sống sung túc, vật chất phủ phê, tự do lắm.

 

Bà Kim Hoàng vẫn cười nhẹ:

 

– Với chừng tuổi này rồi thì thím nói những điều ấy có nghĩa lý gì nữa, nếu mấy mươi năm trước thì đấy là vấn đề lớn, là cả một trời ước mơ. Cái tuổi già gần đất xa trời này không chừng sống ở đây lại yên ấm và vui hơn. Chị cũng từng nghe nhiều người than, qua bên ấy cày như trâu chứ chẳng phải thong thả nhàn nhã như ở đây.

 

Anh Hải nãy giờ lắng nghe má và bác Kim Hoàng nói chuyện, giờ anh nhảy vào:

 

– Đâu phải bây giờ con mới làm giấy bảo lãnh, con đã làm từ hai mươi mấy năm trước kia mà, nhưng ba không chịu đi.

 

– Tánh ba con là thế, chịu thôi! Con đừng quên ba con đã từng là ông quận trưởng có tiếng tăm, thời thế nó thế nên phải thế! Mà con cũng đừng quên, còn thằng Hoài nữa, nếu ba con cũng ra đi thì ai chăm sóc nó?

 

Ông Sáu Cửu từ đầu đến cuối không nói lời nào, ăn uống nhỏ nhẻ từng tí, gương măt không vui cũng chẳng buồn. Ông lặng lẽ như một cái bóng, một cái bóng cứ lần lữa lọ mọ suốt bao nhiêu năm nay. Chợt ông Sáu lên tiếng:

 

– Đi hay ở với ba không có ý nghĩa gì cả, đời ba coi như hết kể từ khi trốn khỏi quê nhà. Mấy mươi năm nay dưới thân phận một ông già lú lẫn ở con hẻm này cũng an ổn. Ba không còn mong gì cả. Giờ thì vật chất hay những chuyện dân tộc, tự do cũng chẳng có tác dụng gì, chẳng khác nào gió thoảng mây bay, như hơi rượu cay. Một ông già gần đất xa trời còn nói mấy chuyện ấy làm gì? Ba chỉ có một nỗi bận tâm là mai đây nằm xuống ai sẽ lo cho thằng Hoài? Con dù ở bên ấy cũng nên chiếu cố anh con một tí, dù gì cũng là anh em máu mủ với nhau.

 

Ông Sáu không một lời đá động đến bà Lệ, ông thương bà hết mực, gần như tôn thờ bà nhưng bà xuất cảnh mà không chịu ở lại với ông. Trong lòng ông hụt hẫng, vừa thương vừa giận như một chú bé con. Bằng chứng là những bài trí trong nhà do bà Lệ làm, ông giữ nguyên như viện bảo tàng trong suốt mấy chục năm qua, từ cái nón góc bàn, ly nước uống dở ở đầu giường, cái áo treo bên cánh tủ. Nếu những ai đã từng ghé chơi nhà ông mấy mươi năm trước, giờ quay lại chắc không khỏi ngạc nhiên. Tất cả như hóa thạch kể từ ngày bà ra nước ngoài.

 

Bà Lệ cảm thấy nhột lòng khi ông chẳg nói gì đến bà:

 

– Ông làm như chỉ có ông thương thằng Hoài, tui vẫn gởi tiền cấp dưỡng cho nó hằng tháng đấy chứ!

 

Bà nói đúng, tuy bà không gần ông và thằng Hoài nhưng hàng tháng bà đều gởi tiền về cho hai cha con ông, chu cấp đủ để hai cha con ông sống dư dả so với đời sống của người dân ở đây.

 

Mẹ con bà Lệ trở lại Mỹ, ông Sáu vẫn lặng lẽ như bao tháng năm qua, mỗi sáng hé mở cửa mua bánh mì và quay vào khép lại thật nhanh. Cho đến một ngày kia láng giềng không thấy ông Sáu mở cửa mua bánh mì như thường lệ mỗi sáng, một ngày rồi hai ngày, ba ngày… Cuối tuần, cô Hà, cháu gái ông Sáu từ Bình Thạnh lên thăm ông thì hàng xóm mới biết ông chết ở trong nhà mấy ngày rồi. Thằng Hoài vẫn cứ rửa tay mải miết, nước đã ăn đôi tay lở loét trông phát khiếp.

 

Tiểu Lục Thần Phong

(Ất Lăng thành, 07/22)

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Những dòng ký sự và nhận định sau đây, tường thuật lại những biến cố xảy ra tại Trường Y Sàigòn từ năm 1967-1971 và sau đó...do sự can thiệp của phái bộ Hội Đoàn Bác sĩ Mỹ -American Medical Association tại Saigòn (AMA-SAIGON) vào nội bộ Trường Y Saigon. Những sử liệu của bài nhận định này đều dựa trên những điều tường thuật của quyển sách thời danh SAIGON MEDICAL SCHOOL do 3 người viết: CH William Ruhe MD, Norman Hoover MD và Ira Singer PhD, tất cả ba vị này đều là nhũng người lãnh đạo và cố vấn cho cuộc can thiệp của phái bộ AMA vàoTrường Y Saigon từ năm 1967. Tập sách SAIGON MEDICAL SCHOOL do chính cơ quan AMA, xuất bản tại Mỹ năm 1988.
Dạo đó, đầu thập niên 70, dưới giàn hoa giấy, trong khoảng sân nhỏ nhà chúng tôi, thỉnh thoảng có những người lính thuộc mọi binh chủng của Quân lực VNCH. Họ ngồi hút thuốc, hay tay đàn miệng hát vì trong cư xá Đoàn Văn Cự ở Biên Hòa có khá nhiều chị đang học lớp 12 rất đẹp. Nhà chúng tôi ở đầu cư xá nên các chị thường phải đi ngang nhà chúng tôi trước khi về nhà mình.
Mẹ tôi bán thuốc tây để dành được một ít tiền cho chị em tôi đi vượt biên. Chuyến đầu mẹ cho ba chị em tôi đi nhưng bị đổ bể, đợt hai mẹ cho chị tôi đi với gia đình dì, và được Cap Anamur Đức vớt, đưa đến Đức vào năm 80. Một năm sau mẹ gửi hai anh em tôi cho cô chủ tàu ở Cần Thơ và chúng tôi được đưa lên tàu đánh cá nhỏ có 89 người.Thuyền rời bến, ngày đầu chúng tôi được phát nước uống, qua ngày thứ hai thì không còn giọt nước nào. Lúc đó vào tháng năm, nắng nóng, thuyền lại không có mui che nên ai cũng mệt lả, thuyền đông người lại quá chật hẹp không cựa quậy gì được, tôi chỉ cần nhút nhích một chút là bị người ta nhéo. Lúc đó tôi chỉ thấy chung quanh là biển rộng mênh mông, tôi nhớ nhà và cầu mong sao cho bị bắt để được về nhà lại.Trên thuyền bắt đầu có một chị bị sảng vì thiếu nước uống, rồi thì không biết ai đó lấy lon Guigoz truyền nước uống cho nhau nhưng ai hớp vô rồi cũng phun ra vì đó là nước biển, mặn quá, tôi cũng không ngoại lệ.
Trời Chicago cuối tháng Tư vẫn còn lạnh. Tuy thế anh em đi dự buổi họp điều-trị-tâp-thể đông hơn thường lệ. Nhiều anh em sĩ quan ở các nhóm khác, không phải họp hôm nay, họ cũng đến. Phòng họp dành cho buổi điều-trị-tập-thể của các anh em sĩ quan H.O. tại Asian Human Services -Chicago rộng rãi và tươm tất, được trang hoàng trang nhã với những bức tranh ấn tượng của Claude Monet, màu sắc hàì hòa gợi nhớ về một thuở thanh bình.
Thôi thì khỏi nói, mọi người tay bắt mặt mừng, ai ai cũng vui như hội. Bà Tám đầu hẻm oang oang: - Thằng nhỏ coi bộ phổng phao ghê vậy ta, hồi còn ở đây gầy nhom, da bánh mật. Nó qua bển một thời gian giờ thay da đổi thịt quá, nếu đi ngoài đường chắc tui nhận hổng ra. Cả nhà quây quần tíu tít, bia bọt khui lốp bốp. Tuị bạn ngày xưa bá vai kề cổ giờ cũng ra ông nọ bà kia hết trơn. Chỉ có mỗi thằng An là lẹt đẹt làm anh công chức quèn thôi!
Kính Anh Chị Lê Thanh Tôi nhận được thư anh chị cách đây mươi ngày. Tôi định viết thư trả lời anh chị hay liền, và cám ơn anh chị đã nhiệt tình đỡ đầu hai quyển sách đầu tay của tôi mà tôi tự xuất bản. Nhưng không hiểu tại sao tôi mãi chần chờ. Đêm nay, tự dưng thức giấc, đọc lại thư anh viết, lòng cảm thấy bồn chồn. Lời thư anh mộc mạc, ngắn gọn, chứa chan tình cảm và nhiều suy nghĩ. Suy nghĩ của anh, của người tuổi đã ngoài 70. Anh đã đi qua nhiều chặng đường lịch sử của đất nước.
Như mọi buổi sáng, tôi vừa dùng điểm tâm vừa xem tin tức trên Internet. Sau đó, tôi vào Inbox để xem emails của bạn hữu. Khi thấy youtube tình khúc Hai Vì Sao Lạc – do ông Trần Nắng Phụng chuyển – cũng là lúc tôi chợt nhớ trái avocado để quên nơi bếp. Tôi “bấm” vào youtube rồi rời phòng computer, đi xuống lầu, với dụng ý khi tôi trở lên thì phần nhạc dạo đầu sẽ chấm dút.
Tháng ba, dường như mùa đông chỉ mới bắt đầu sau một tháng thời tiết ấm áp. Nấc đo màu đỏ của hàn thử biểu nằm trên dương độ và có khi vượt qua khỏi con số mười. Mọi người hân hoan cho rằng Paris năm nay không có mùa đông. Nhưng những cơn mưa ướt át, những luồng gió lạnh lẽo từ một cơn bão nào đó đã ào ạt thổi về trên phố từ mấy ngày nay. Con đường trước nhà lúc nào cũng vắng hay tôi chỉ nhìn thấy nó mỗi khi không còn ai. Thói quen trước khi vào giường ngủ và thức dậy khi đêm chuẩn bị tạ từ. Đèn vàng và sương mù, những ngôi nhà, cây cành đổ bóng ngoài khung cửa là nơi của quá khứ tôi, nơi hồi tưởng, dù vui dù buồn. Nhớ lại trong đêm nay… cả trăm điều muốn khóc1, một lời hát lấy từ một bài thơ của một nhà thơ quá cố mà tôi rất thích và tôi nghĩ đâu phải riêng tôi mới có cả trăm điều muốn khóc. Của chúng ta, bao người ly hương, làm gì lại chẳng có những đêm nhớ lại với trăm điều.
Thứ hai 6 tháng 4 South Carolina tiểu bang cuối cùng của các tiểu bang nằm dọc theo phía Đông của sông Mississippi (giòng sông dài thứ nhì của Bắc Mỹ) ban hành lệnh "Shelter in place". Cùng lúc, Indiana kéo dài "lệnh cấm túc" thêm 14 ngày nữa trên toàn tiểu bang.
Bài viết này lấy cảm hứng từ tựa đề của một tác phẩm nổi tiếng trong nền văn học Việt Nam Cộng Hoà. Đó là tựa đề “Những người không chịu chết” (1972), một trong những vở kịch nổi tiếng của kịch tác gia Vũ Khắc Khoan. Lúc vở kịch ra đời, tôi hãy còn nhỏ lắm, nhưng cũng phần nào đủ trí khôn để thưởng thức vở kịch này. Tôi được đọc vở kịch trước rồi sau mới xem kịch trên truyền hình. Đã mấy mươi năm rồi nên bây giờ tôi chỉ còn nhớ lờ mờ rằng vở kịch đó nói về một nhóm tượng người mẫu, cứ đêm đêm đêm lại trở thành người, sống, ăn nói và sinh hoạt như bao con người bình thường khác, với đầy đủ tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, thất tình lục dục. Bài viết này mượn cảm hứng đó để nói về—không hẳn chỉ là những con người—mà còn là những thực thể khác, cũng không hề chịu chết, qua dòng lịch sử nghiệt ngã của nước Việt, tính từ ngày 30 tháng Tư năm 1975.
Tiếng giày cao gót lụp cụp tiếp theo sự xuất hiện của một cô gái làm Vinh ngơ ngẩn đến lặng người. Trời ơi! Sao trên đời lại có người đẹp thế này! Nàng mặc nguyên cái áo dài màu xanh da trời đồng phục của tiếp viên hàng không Air VietNam với huy hiệu rồng vàng nổi bật trên cổ áo ôm lấy một bờ ngực vun đầy và vòng eo chết người. Gương mặt trái soan với đôi má hây hây điểm trên làn da trắng mịn màng, bờ môi mộng đỏ hình trái tim, cộng thêm đôi mắt bồ câu đen long lanh với viền mi cong vút dài rậm(thiệt đúng là chí lớn trong thiên hạ không đong đầy đôi mắt mỹ nhân). Tất cả như muốn nhốt cả hồn Vinh trong ngây dại chìm đắm.
Tiếng niệm chú rì rầm trầm hùng vang rền cả đại điện, bóng các tăng sĩ trong màu áo huyết dụ lắc lư, tay lần tràng hạt trong ánh đèn bơ lung lay trông thành kính vô cùng. Toàn bộ mọi người như nhập thần vào câu chú, thân người ngồi đó mà thần thức như ở cung trời nào chứ chẳng phải trên mặt đất này. Khói trầm phảng phất bay lên, pho tượng Phật trên toà tay bắt ấn kiết tường, mắt mở to như nhìn thấu những tấn tuồng của trò đời, thông suốt những nỗi đau của chúng sanh, biết tường tận tâm can của của mỗi người.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.