Hôm nay,  

Ông Sáu Cửu

02/07/202209:34:00(Xem: 3908)

Truyện ngắn

alley

 

Con hẻm nhỏ trước hồ Kỳ Hòa vốn im lìm và lặng lẽ như bao con hẻm ở thành đô, mỗi buổi sáng được đánh thức bởi những tiếng rao: “Bánh mì nóng đây”, “Ai bánh tiêu, dầu cháo quẩy hôn”, “Ai bánh ướt, hủ tiếu hôn”, và những tiếng mõ lóc cóc của những xe hủ tiếu đậu đâu đó.

 

Ông Sáu Cửu mở cửa ra mua mấy ổ bánh mì rồi quay ngay vào trong. Ông Sáu Cửu vốn cao to, râu tóc dài trông rất nghệ sĩ và sang, có lẽ hồi trẻ ông rất đẹp trai và phong độ. Ông sống với một người con trai ở trong ngôi nhà ba tầng lầu, giá cả giờ cỡ mười lăm tỷ bạc. Ông Sáu sống kín đáo và lặng lẽ, không tiếp xúc với láng giềng, có gặp mặt thì cũng chỉ chào xã giao một tiếng rồi thôi. Nhiều người tò mò tọc mạch nhưng cũng chẳng biết gì nhiều về đời tư của ông. Trong xóm, có lẽ bà Tám Quỳnh là người gần nhà và cũng là thân với ông Sáu nhất.

 

– Tui với ổng ở đây từ trước những năm bảy lăm, vợ con ổng ra nước ngoài từ lâu lắm rồi, họa hoằn lắm mới thấy họ về thăm ổng vài tuần rồi lại ra đi. Nghe đâu mấy con ổng vượt biên, sau đó bảo lãnh vợ chồng ổng bả nhưng ổng hổng chịu đi. Mấy chục năm nay ổng sống với thằng con hơi bị chạm dây thần kinh.

 

Bà Chín Hoa, nhà đối diện với ông Sáu phụ họa thêm:

 

– Người gì đâu mà cô độc, hổng chịu giao tiếp với ai cả, chẳng có tình nghĩa láng giềng gì hết ráo.

 

Ông Hai Quản thì nói:

 

– Tui có rủ ổng tham gia hội người già để sinh hoạt cho vui, vậy mà ổng cũng đâu có chịu, trời sanh mỗi người mỗi tánh, sống mỗi người mỗi nết chết mỗi người mỗi tật.

 

Cuối năm ấy, xóm giềng trong con hẻm 360/72 thấy nhà ông Sáu Cửu rộn ràng có Việt kiều về. Nhiều người xuýt xoa ghen tị khi thấy người đàn bà luống tuổi ăn mặc sang trọng bước xuống taxi cùng với mấy cái vali hiệu LV. Những sáng kế đó, họ thấy xe con vào tận cửa rước người đàn bà và hai người con đi ăn sáng. Ông Sáu vẫn cứ như thường lệ, sáng ra là mua bánh mì, hổng biết những ngày có Việt kiều về ông ấy có ăn hay không mà vẫn mua. Nhà ông Sáu những ngày có Việt kiều cũng không khác gì những ngày khác, cửa vẫn im ỉm đóng, người ra vào là mất hút và đóng cửa lại ngay. Bà Chín Hoa thỉnh thoảng có nghe tiếng cãi vã. Bà biết thằng Hải từ khi nó còn nhỏ xíu, nay nó đã là anh thanh niên, nó cũng chào bà nhưng chỉ là xã giao chứ không thân thiện. Buổi tối bà ngồi ngoài hiên hóng gió và hóng chuyện luôn, tiếng thằng Hải:

 

– Ba già rồi, giờ bán cái nhà này đi, mua cho anh Hoài cái nhà nho nhỏ khác. Ba thì qua Mỹ sống với má và tụi con.

 

Bên trong căn nhà vốn lạnh tanh lâu nay, giờ có tiếng cãi vã to đôi chút cũng chẳng đủ để có sinh khí. Lâu lắm rồi cả nhà mới ngồi quây quần trong chốc lát. Ông Sáu Cửu  như pho tượng bất động, chỉ có mỗi ngón tay khẽ gõ nhẹ nhẹ trên mặt bàn đủ để biết ông là con người bằng xương thịt. Giọng ông Sáu khe khẽ nhưng rõ ràng rành mạch:

 

– Ba không đi đâu hết, nhà này cũng không thể bán, bán rồi thì thằng Hoài ở đâu? Ba ở đây chăm sóc nó.

 

Thằng Hải đã năm lần bảy lượt đòi bảo lãnh cho ông Sáu nhưng ông ấy nhất quyết không chịu, sau khi nhà đất lên giá nó đề nghị bán ngôi nhà nhưng ông Sáu cũng không đồng ý. Hải bực bội to tiếng:

 

– Bảo lãnh ba không đi, nhà có giá ba không chịu bán, ba sao lập dị khó tánh quá!

 

Ông Sáu cả đời trầm tĩnh, xưa giờ chưa từng thấy ông giận bao giờ, lúc nào cũng nhỏ nhẹ từ tốn. Ông nói:

 

– Ba không đi đâu cả, ngôi nhà này sau khi ba chết thì con muốn bán sao cũng được, nhưng giờ thì để ba ở và lo cho thằng Hoài.

 

Bà Lệ, vợ ông Sáu bảo thằng Hải:

 

– Ổng không đi thì thôi, con đừng có nói nữa làm gì, hồi nẳm ổng còn chưa chịu đi huống gì là bây giờ.

 

Bà Lệ quay qua ông Sáu:

 

– Ông nói thương tui mà sao không chịu đi?

 

Nói thì nói thế thôi chứ bà Lệ thừa biết tánh chồng mình. Tình yêu của ông dành cho bà chẳng có điều gì để nghi ngờ. Lần đầu trở về nước thăm nhà, bà đã rất xúc động khi thấy cái nón bà úp ở góc bàn ăn vẫn còn nguyên đó, quần áo và những vật dụng bà không mang theo vẫn y nguyên vị trí của nó, không một tí xê dịch hay mất mát. Ông giữ nguyên mọi thứ vật dụng của bà, cứ như thể thời gian ngừng lại ở trong ngôi nhà này kể từ lúc bà ra đi. Ông Sáu trân trọng giữ gìn từng kỷ niệm nhỏ nhất, những kỷ vật của bà ông nâng niu như nâng niu chính bà. Bà biết ông yêu bà lắm, hồi còn làm quận trưởng Tuy Viễn, những người đồng liêu với ông ai cũng có bồ nhí, vợ bé nhưng ông thì không. Nhất định không! Sáng vào quận làm việc, hết giờ thì về nhà ăn cơm với bà. Ông chưa từng ăn chơi hay làm điều gì khiến cho bà phải buồn lòng. Ngày Đà Nẵng thất thủ, quân dân hoảng loạn rần rần chạy vào nam. Bình Định tuy chưa loạn nhưng ông Sáu  đoán biết cũng chẳng bao lâu nữa nên đốt hết giấy tờ hồ sơ và những gì có liên can đến thân phận ông, sau đó ông dùng xe vespa chở bà Lệ, ba đứa con và những món vật dụng cần thiết với tiền bạc chạy vào Sài Gòn. Sài Gòn cũng như bầy ong vỡ tổ, dân và quân đều sợ xanh mặt, ai cũng ngược xuôi tất tả nhưng chẳng biết chạy về đâu. Với một người rành rẽ chuyện hành chánh quan trường nên ông làm lại giấy tờ tùy thân khác với một danh tính mới hoàn toàn. Ngôi nhà ở hẻm 360/72 ông mua từ hai năm trước, nay trở thành nơi ở chính thức của vợ chồng ông, láng giềng người cũ kẻ mới nhưng cũng chẳng biết gì nhiều về ông. Mấy năm sau thì thằng Hải với con Hà vượt biên trót lọt, sau tụi nó làm giấy bảo lãnh ông bà qua Mỹ nhưng chỉ có bà chịu đi chứ ông thì nhất quyết ở lại. Thằng Hoài vốn là giáo viên dạy nhạc nhưng không hiểu sao tự dưng bị trầm cảm rồi sanh tự kỷ nặng, anh ta cứ ám ảnh vi trùng, suốt ngày rửa tay đến lột cả da tay. Nhà trường cho nghỉ việc và từ đó ở nhà với ông.

 

Lịch sử có những lúc vô cùng nghiệt ngã, trong dòng chảy liên lỉ bất tận của nó, đôi khi lưu đọng lại những chuyện khó tin nhưng có thật, những ẩn tích lịch sử nếu dùng lối lý luận thông thường thì thấy khó có thể tin là có thật. Năm xưa cũng ở mảnh đất ấy, nơi nhà Tây Sơn phát tích, sau khi Nguyễn Vương lên ngôi, toàn bộ những ai có liên can đến nhà Tây Sơn đều bị tru diệt, lệnh truy cùng diệt tận được duy trì vĩnh viễn ấy vậy mà đô đốc Long và đô đốc Dõng lại trốn thoát một cách kỳ lạ. Triều đình với hệ thống mật vụ, chỉ điểm khét tiếng cũng không thể tìm ra tông tích hai ông, thiên hạ danh môn chánh phái cho đến tả bang ngoại đạo cũng không biết hai ông ẩn thân nơi nào. Thế rồi hai trăm năm sau lịch sử lặp lại. Ông cựu quận trưởng biến mất không để lại một manh mối hay tông tích gì, trong khi ấy những người trên ông, dưới ông đều bị trả thù tàn bạo, bị tù đày, bị đẩy lên rừng hoang nước độc, hoặc bị giết chết.

 

Ông cựu quận trưởng biến mất, người dân không biết, đồng bào không biết, nhà cầm quyền cũng không biết. Có nhiều giả thuyết đặt ra như: ông chết trận, ông chết trong loạn quân khi di tản, chết mất xác khi vượt biên, hoặc là đã ra nước ngoài và mai danh ẩn tích… tuy nhiều giả thuyết như vậy nhưng chẳng ai dám khẳng định thuyết nào đúng, chuyện cũng dần mai một theo thời gian, nhà cầm quyền cũng đóng hồ sơ, coi như mất tích. Đời vẫn thường bảo” Nơi nguy hiểm nhất chính là nơi ẩn trốn an toàn nhất”, có mấy ai ngờ… chẳng có ai ngờ…

 

Tuần tới bà Lệ và thằng Hải trở lại Mỹ, cả nhà làm tiệc chia tay. Họ hàng có vài người thân ở Bình Thạnh đến dự tiệc. Bà Kim Hoàng, chị ông Sáu Cửu nói:

 

– Chú Sáu không muốn đi, thím với cháu Hải cũng đừng ép uổng, chú ấy giờ cũng già rồi, sống ở đây cũng an ổn chứ chẳng có gì đáng lo đâu. Chú ấy có sự lựa chọn của chú. Ở đời đôi khi sự lựa chọn của người này lại rất khó hiểu với người kia, cũng không biết chắc được cái sự lựa chọn nào hay hơn. Ngày xưa chị cũng từng mấy bận góp vàng để đóng tàu mua bãi vượt biên, rốt cuộc xôi hỏng bỏng không, mất cả chì lẫn chài mà còn ở tù nữa chứ. Xem ra số phận mỗi người không ai giống ai, có người muốn thì chẳng được có người được thì lại chẳng muốn.

 

Bà Lệ nói:

 

– Chị nghĩ thử xem, vợ chồng bảo yêu thương nhau nhưng sống mỗi người mỗi nơi, nào có phải là không thể sống chung mà do cái tánh ngang bướng của ảnh.

 

Bà Kim Hoàng cười nhẹ:

 

– Thím thử đặt ngược vấn đề lại xem, sao thím hổng chịu ở đây với chú ấy? Ở thành đô này cuộc sống cũng dễ dàng, nhà cao cửa rộng, xóm giềng đông vui, sao thím không theo chồng mà đòi chồng phải theo thím? Quá khứ chú ấy đã vùi sâu chôn chặt, thành đô này có ai biết thân phận chú ấy đâu.

 

Bà Lệ không đồng ý:

 

– Ở đây sao bằng bên kia được, ở bển cuộc sống sung túc, vật chất phủ phê, tự do lắm.

 

Bà Kim Hoàng vẫn cười nhẹ:

 

– Với chừng tuổi này rồi thì thím nói những điều ấy có nghĩa lý gì nữa, nếu mấy mươi năm trước thì đấy là vấn đề lớn, là cả một trời ước mơ. Cái tuổi già gần đất xa trời này không chừng sống ở đây lại yên ấm và vui hơn. Chị cũng từng nghe nhiều người than, qua bên ấy cày như trâu chứ chẳng phải thong thả nhàn nhã như ở đây.

 

Anh Hải nãy giờ lắng nghe má và bác Kim Hoàng nói chuyện, giờ anh nhảy vào:

 

– Đâu phải bây giờ con mới làm giấy bảo lãnh, con đã làm từ hai mươi mấy năm trước kia mà, nhưng ba không chịu đi.

 

– Tánh ba con là thế, chịu thôi! Con đừng quên ba con đã từng là ông quận trưởng có tiếng tăm, thời thế nó thế nên phải thế! Mà con cũng đừng quên, còn thằng Hoài nữa, nếu ba con cũng ra đi thì ai chăm sóc nó?

 

Ông Sáu Cửu từ đầu đến cuối không nói lời nào, ăn uống nhỏ nhẻ từng tí, gương măt không vui cũng chẳng buồn. Ông lặng lẽ như một cái bóng, một cái bóng cứ lần lữa lọ mọ suốt bao nhiêu năm nay. Chợt ông Sáu lên tiếng:

 

– Đi hay ở với ba không có ý nghĩa gì cả, đời ba coi như hết kể từ khi trốn khỏi quê nhà. Mấy mươi năm nay dưới thân phận một ông già lú lẫn ở con hẻm này cũng an ổn. Ba không còn mong gì cả. Giờ thì vật chất hay những chuyện dân tộc, tự do cũng chẳng có tác dụng gì, chẳng khác nào gió thoảng mây bay, như hơi rượu cay. Một ông già gần đất xa trời còn nói mấy chuyện ấy làm gì? Ba chỉ có một nỗi bận tâm là mai đây nằm xuống ai sẽ lo cho thằng Hoài? Con dù ở bên ấy cũng nên chiếu cố anh con một tí, dù gì cũng là anh em máu mủ với nhau.

 

Ông Sáu không một lời đá động đến bà Lệ, ông thương bà hết mực, gần như tôn thờ bà nhưng bà xuất cảnh mà không chịu ở lại với ông. Trong lòng ông hụt hẫng, vừa thương vừa giận như một chú bé con. Bằng chứng là những bài trí trong nhà do bà Lệ làm, ông giữ nguyên như viện bảo tàng trong suốt mấy chục năm qua, từ cái nón góc bàn, ly nước uống dở ở đầu giường, cái áo treo bên cánh tủ. Nếu những ai đã từng ghé chơi nhà ông mấy mươi năm trước, giờ quay lại chắc không khỏi ngạc nhiên. Tất cả như hóa thạch kể từ ngày bà ra nước ngoài.

 

Bà Lệ cảm thấy nhột lòng khi ông chẳg nói gì đến bà:

 

– Ông làm như chỉ có ông thương thằng Hoài, tui vẫn gởi tiền cấp dưỡng cho nó hằng tháng đấy chứ!

 

Bà nói đúng, tuy bà không gần ông và thằng Hoài nhưng hàng tháng bà đều gởi tiền về cho hai cha con ông, chu cấp đủ để hai cha con ông sống dư dả so với đời sống của người dân ở đây.

 

Mẹ con bà Lệ trở lại Mỹ, ông Sáu vẫn lặng lẽ như bao tháng năm qua, mỗi sáng hé mở cửa mua bánh mì và quay vào khép lại thật nhanh. Cho đến một ngày kia láng giềng không thấy ông Sáu mở cửa mua bánh mì như thường lệ mỗi sáng, một ngày rồi hai ngày, ba ngày… Cuối tuần, cô Hà, cháu gái ông Sáu từ Bình Thạnh lên thăm ông thì hàng xóm mới biết ông chết ở trong nhà mấy ngày rồi. Thằng Hoài vẫn cứ rửa tay mải miết, nước đã ăn đôi tay lở loét trông phát khiếp.

 

Tiểu Lục Thần Phong

(Ất Lăng thành, 07/22)

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Thận Nhiên là một trong những nhà văn thành danh ở hải ngoại vào cuối thiên niên kỷ trước. Cuốn tiểu thuyết “Những ghi chép ở tầng thứ 14” được Văn Đoàn Độc Lập trao giải Sách Hay bộ môn Văn, năm 2018. Gần đây, từ lối viết hiện thực anh chuyển sang siêu hư cấu, mà hai truyện “rất ngắn” đăng trên Việt Báo Xuân Nhâm Dần vừa qua là điển hình. Nhà văn Thận Nhiên đến với Việt Báo lần này với một truyện “chớp”, trong đó cảm xúc như một tia chớp, nhoáng lên rồi tắt ngúm, nhưng để lại dư ảnh đậm đà trong tâm tư người đọc. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
"Chiều nay, Khang ngồi bờ đá lắng nghe sóng vỗ lần cuối vì ngày mai anh sẽ ra đi đến nước thứ ba. Khang đang nghe tiếng vọng bao kỷ niệm từ ngày bước vào mê lộ lịch sử, mang tuổi trẻ đi mải miết mà không tìm thấy lối ra trên chính quê hương mình. Khang nhớ ánh nắng chiều thoi thóp quê nhà luôn cho anh ý niệm dở dang, muộn màng số phận cho đến ngày gặp Lĩnh cùng hai đứa học trò trên chiếc sân nhà. Nơi ấy một thời chứa chấp một con người mà linh hồn đã chết nhưng cố bám víu trần gian, tận tụy mãi võ để kéo dài sự sống cho dù mỗi ngày xiêu vẹo, nghiêng ngả trên chính bước đi của mình." -- Một truyện ngắn mang nặng tâm sự hoài niệm một thời trai trẻ nơi quê nhà, của nhà văn Lê Lạc Giao, Việt Báo trân trọng giới thiệu.
Có xa quê hương đất nước nhiều năm, mỗi khi Tết đến Xuân về, người ta mới cảm nhận không khí chung quanh mình như thiếu thiếu một cái gì rất quan trọng? Không phải vì đất lạ, người không quen biết, không cùng chủng tộc. Cũng không phải vì những đồ ăn, thức uống khi mua về thiếu đi cái hương vị đất nước của quê hương bản quán mà có lẻ chỉ vì... cái không khí chung quanh mình nó khác biệt và cả cái mùi vị của mùa xuân cũng nhiều lạ lẫm.
Tôi bao giờ cũng hình dung Tết gắn liền với đất Bắc, nơi đi trước mùa Xuân phải có một mùa Đông. Mùa Đông ở nơi này mỗi năm mỗi khác, nó có thể lạnh nhiều hay lạnh ít, độ ẩm có thể cao hay thấp, nhưng nhất thiết không thể không có gió bấc và mưa phùn. Không khí se lạnh làm cho con người phải co ro một chút, rùng mình một chút, chính là sự chuẩn bị không thể thiếu để cho ta bước vào cái mốc thời gian mới đối với mỗi người mỗi nhà.
Ông cụ thường ca cẩm anh con trai nuôi mèo từ một con đến cả đàn, từ đời cụ mèo đến chắt mèo trong khi chuyện vợ con chẳng hề nghĩ đến. Nhiều năm trước đám bạn anh phải tranh nhau mà xin mèo về làm thú cưng. Giờ thì họ không muốn xin nữa vì ngại chăm, hoặc dẫu có muốn chăm thì đã đến lúc chăm cháu nội cháu ngoại chứ không đến lượt thú cưng. Thế là lũ mèo của anh hiện tại còn những bốn con, được cái ông cụ thương anh con trai nên anh có việc đi đâu thì lại cặm cụi cho chúng ăn.
Truyện này viết về một người anh, và nhiều phần là hư cấu. Nghĩa là, chỉ một phần có thực. Nhưng tôi không thể nào nói rõ là phần nào thực, phần nào hư. Nói rõ có khi lại hỏng. Đã viết truyện thì, chẳng tác giả nào nói rõ đâu. Ngay như nhan đề “Bên Trời Đại Lý” cũng thấy là bên kia sự thật rồi, vì Việt Nam mình làm gì có thị trấn Đại Lý, nơi sẽ là bối cảnh của truyện ngắn này. Nhưng, nếu nói thiệt ra là Chợ Lớn, thì lại trần gian quá, chẳng thơ mộng tí nào. Thêm nữa, có một số độc giả có thành kiến với người Tàu -- làm ơn, xin sửa lại, gọi là người Hoa mới đúng và lịch sự hơn – nếu thành kiến, khi đọc, có thể mất vui. Do vậy, trong truyện này, chúng ta đồng ý rằng địa danh Chợ Lớn sẽ được mã hóa thành Đại Lý, một vương quốc cổ trong truyện Kim Dung. Các độc giả không ưa cường quốc phương Bắc xin tưởng tượng rằng Đại Lý chỉ có trong truyện, chớ đừng nhớ rằng nơi này đã bị nhà Minh thâu tóm từ thế kỷ 14.
Cho đến thời đại này, chuyện bói vẫn được tôn trọng, không chỉ trong dân gian, mà còn xảy ra sau lưng sân khấu chính trị, kinh tế. Hầu hết các nhà lãnh đạo ở Đông phương đều xem bói, có khi đã tuyển dụng một thầy bói nổi tiếng để hỏi việc thành bại mỗi lần gặp khó khăn và thầy bói đó chỉ đạo thay vì vị lãnh tụ được lòng tin của dân chúng. Ở Tây phương cũng vậy, ngày xưa họ tin dùng các thầy phù thủy; ngày nay họ dùng những kỹ thuật khoa học để dự đón tương lai. Bất kỳ thứ gì, nếu có chữ “đoán” đều thuộc về dòng họ “Bói”. Bói là những hành động và lời lẽ làm cho “mê” và “tin” một cách “tín” nhiệm. Hầu hết những người có học đều xem bói là mê tín, nhưng cái thứ mê tín này ẩn núp tận xương tủy thần kinh, chỉ chờ đúng dịp sẽ xuất hiện. Từ những chuyện quan trọng như đầu tư kinh doanh, xuất quân viễn chinh, quyết định chính trị, cho đến những chuyện vui chơi: Khi vào một đám đông, bạn chỉ cần bắt đầu xem chỉ tay của một người, lập tức, kẻ lạ người quen kéo đến ngồi chung quanh, chờ đến p
Hồi còn nhỏ, tôi nghe nhạc xuân với tinh thần “kỳ thị” cao độ. Nghe “…tình xuân chớm nở đêm qua, khi mùa chinh chiến đã lui ra ngoài đời…” thì thấy phê quá xá! Nhưng lại hết sức bực mình khi nghe bên hàng xóm vẳng sang “… trên đường đi lễ xuân đầu năm… chách chách chách chách bum chách bùm chách bum (tiết tấu habanera) Qua một năm ruột rối tơ tằm…”. Tôi càu nhàu trong đầu “nhạc xuân gì mà buồn thế!...” Sau này lớn lên, tôi mới thấy mình vô lý quá cỡ. Thực ra bài Xuân Thì của Phạm Duy giai điệu buồn cũng không kém gì bài Câu Chuyện Đầu Năm của Hoài An. Vấn đề chỉ là tại mình thích thì khen hay, còn không thích thì chê là buồn, thế thôi!
Những cánh mai đua nở giữa mùa đông, xác rơi phủ mặt đất màu vàng tươi của cái chết còn rất mới. Mới như tuổi thơ của tôi ngày hôm qua. Suốt tuổi trẻ, Tết vẫn đem cho tôi một hạnh phúc buồn bã khi sống lại kỷ niệm, thứ cảm giác hao hao như gốc mai gọi mùa xuân bằng những cánh hoa rơi. Tôi yêu những tập tục ngày xưa mà bây giờ có sự cảm thông rằng không mấy ai đủ sức làm theo. Người ngoài nước thay đổi để hội nhập vào văn hóa mới, cả người trong nước cũng vậy. Tôi hoài niệm sự yên bình của đời sống và sự đơn giản của con người trong mắt tôi ngày ấy.
Bé gái tên Nhiên hầu bà nội đã nhiều năm nay, từ năm cô lên mười. Hầu, là phải luôn gần nội, đôi lúc đọc truyện cho bà nghe, mô tả những gì đang có trước mắt nhưng nay bà không còn nhìn thấy. Cây mai vườn nhà ngày giáp Tết nhiều hoa hay ít. Có đàn chim trời nào đang bay qua trên từng cao kia không? Tính tình bà rất hiền hòa. Hay kể chuyện xưa. Hồi ông nội là một sĩ quan quan trẻ, rất đẹp trai, hào hoa, rất thương yêu bà. Bà bảo, thuở bé, bà đã thấy đàn chim bay từ phương bắc vào nam trốn mùa lạnh, ngày đầu xuân trời quang mây tạnh, khí tiết ấm áp, chúng bay trở về phương bắc. Đại khái bà muốn biết những gì giờ đây bà chỉ cảm, chỉ nghe, chỉ ngửi được, nhưng không thể nhìn thấy được.
Hẳn nhiên rồng được cho là loài linh thú. Ngày xưa cha ông chúng tôi săn rồng ngoài biển, có khi trên núi. Về sau, rồng bị săn giết nhiều, không kịp sinh đẻ, thế giới sợ chúng tuyệt chủng nên đưa vào sách đỏ. Tôi ở xa về, tôi nghĩ mình sống ngang với lịch sử. Tôi thèm thịt rồng. Nga là đại gia, nó làm giàu vô cùng nhanh nhờ buôn đất đai, chứng khoán, và mọi thứ ám muội khác. Nga nói, “Ngày nay không mấy ai biết vị thịt rồng ta ra sao, các nhà hàng sang trọng trong nước phải mua rồng tận bên Tàu. Thịt rồng Tàu tanh lợm, nhưng thèm thì đành phải ăn.”
Truyện ngắn của nhà văn Hoàng Quân lúc nào cũng trĩu nặng hoài niệm quá khứ dù đang trăn trở với cuộc sống hiện tại nơi quê người. Việt Báo trân trọng gửi đến quý độc giả một sáng tác mới nhất của chị.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.