Hôm nay,  

Bạn văn

03/08/202220:46:00(Xem: 4791)
Trích đoạn sách

296723272_1077305259580816_5757076044417732000_n

 


Trong lần về nước đầu tiên, năm 1996, tôi ở Hà Nội ba tuần, gặp gỡ khá nhiều người cầm bút ở đó, từ Dương Tường đến Trần Quốc Vượng, từ Hoàng Ngọc Hiến đến Đỗ Lai Thuý, từ Phong Lê đến Văn Tâm, từ Lê Đạt đến Dương Thu Hương, từ Trần Dần đến Hoàng Cầm, từ Nguyễn Huệ Chi đến Bảo Ninh. Nhưng có cảm giác thân nhất là hai người: Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Xuân Nguyên.

 

Không biết do ai nói, Nguyễn Huy Thiệp biết tôi ở Hà Nội; anh đến nhà tôi trọ ở số 52B đường Nguyễn Khuyến (gần Văn Miếu), chở tôi về nhà anh chơi, ăn trưa và chuyện trò đủ thứ trên trời dưới đất. Anh kể về những ngày tháng lận đận của anh. Về những ước mơ của anh. Anh có vẻ rất tin vào tử vi. Anh nói ông ngoại của anh, căn cứ vào ngày giờ sinh, có thể biết được hậu vận của một người. Khi anh trai của Thiệp mới ra đời, bấm tử vi, ông biết sau, lớn lên, sẽ theo nghiệp võ, nên đặt tên là Thăng với ước mong được thăng quan tiến chức. Còn Thiệp, ông nói sẽ thiên về văn nên đặt tên là Thiệp để chỉ sự quảng giao. Tử vi cũng nói anh sẽ thành công trong văn chương nhưng muộn. Nếu nổi tiếng trước năm 35 tuổi thì có nguy cơ chết yểu hoặc ngồi tù. Ngày hôm sau, Thiệp chở tôi đi thăm viếng các chùa chiền chung quanh Hà Nội, trong đó có chùa Bút Tháp. Chùa vắng tanh. Không thấy ai cả. Đẩy cánh cửa khép hờ, vào chùa, Thiệp thắp một cây nhang rồi kính cẩn vái, miệng lầm bầm cầu nguyện. Vốn vô thần, tôi chỉ đứng nhìn, dửng dưng. Thiệp dí vào tay tôi một cây nhang và bảo: “Cầu đi, anh. Có thờ có thiêng.” Chiều bạn, tôi cũng vái. Xong, quay người lại, tôi thấy một phụ nữ khoảng 5,6 chục tuổi đứng ngay sau lưng, bàn tay xoè, đưa ra phía trước. Tôi không hiểu, bèn nhìn Thiệp. Anh nói: “Bả xin tiền nhang đấy.” Rồi anh đặt vào tay bà một số tiền. Ra ngoài sân, tôi thấy một người đàn ông, cũng 5,6 chục tuổi, đứng bên cạnh chiếc xe gắn máy của Thiệp, bàn tay cũng xoè ra. Tôi hỏi Thiệp: “Chuyện gì nữa đây?” Thiệp chưa kịp trả lời, người đàn ông đã lên tiếng: “Xin quý ông cho ít tiền công giữ xe.” Thiệp lại móc túi ra đưa ông một số tiền. Trưa, đói bụng, Thiệp tấp xe vào một cái quán xập xệ ven đường. Quán chỉ có hai cái bàn thấp và mấy chiếc ghế đẩu. Nhìn, tôi hơi e ngại vấn đề vệ sinh. Nhưng không có chọn lựa nào khác. Thiệp gọi mỗi người một chén cơm và hai quả trứng luộc chấm nước mắm. “Như thế cho an toàn”, anh nói. Ăn vẫn thấy ngon. Giữa bữa ăn, không nhắc đến hai vụ xin tiền ở chùa, Thiệp nói, như giải thích: “Ở Việt Nam, sống khó lắm. Lúc nào đi ra khỏi nhà tôi cũng đều thủ sẵn tiền trong túi. Ở đâu cũng có những người vòi tiền. Có người vô hại. Nhưng cũng có những kẻ rất nguy hiểm. Để được yên thân, mình phải có tiền nhét vào mõm chúng.” Chiều, về, anh chở tôi đến nhà một người bạn của anh ở Bát Tràng. Anh lấy một cái đĩa bằng đất sét rồi vẽ chân dung tôi trên đó. Bức đầu, anh không hài lòng, anh bảo tôi ngồi tiếp để anh vẽ bức khác. Xong, anh nhờ bạn bỏ vào lò nung. Mấy ngày sau, anh mang hai cái đĩa đến nhà tôi trọ tặng tôi. Tôi rất cảm động.

 

Nhớ, sau khi vẽ xong, anh ghi trên đĩa mấy chữ “Tặng Nguyễn Ngọc Tuấn”. Tôi cười, hỏi anh, “Sao không là Nguyễn Hưng Quốc?” Anh cười, “Bộ anh muốn tôi chết hả?” Té ra, anh sợ cái tên Nguyễn Hưng Quốc. Nên nhớ, lúc ấy, dưới bút hiệu Nguyễn Hưng Quốc, tôi chưa viết gì về chính trị, và cả gần mười năm sau, tôi mới bị cấm nhập cảnh vào Việt Nam.

 

Tháng 2 năm 2008, Nguyễn Huy Thiệp gửi thư xin tôi địa chỉ email của Greg Lockhart, người dịch một tuyển tập truyện ngắn của anh sang tiếng Anh năm 1992. Anh có vẻ tuyệt vọng trên con đường đi ra với thế giới. Anh muốn tìm một người da trắng dịch anh và làm trợ lý xuất bản cho anh để “quảng bá tác phẩm và chinh phục các danh hiệu giải thưởng.” Anh cho chỉ có Greg mới làm được điều đó. Tôi liên lạc với Greg. Greg có vẻ rất lạnh nhạt. Anh kể trước đây, tuyển tập truyện ngắn của Thiệp do anh dịch, tuy được Oxford University Press, một tên tuổi lớn, xuất bản, số sách bán được rất ít. Hậu quả là tiền nhuận bút dành cho cả tác giả lẫn dịch giả đều thấp. Thấp đến độ, sau đó, đi Hà Nội, gặp Thiệp, anh cho Thiệp luôn cả số tiền trả cho dịch giả. Có vẻ như Thiệp không biết điều đó. Thời ấy, người Việt còn biết rất ít thế giới bên ngoài. Bị ám ảnh bởi sự giàu có của những nhà văn bestseller ở ngoại quốc, ai cũng tưởng sách dịch của mình sẽ bán được cả triệu bản và số tiền nhuận bút sẽ lên đến hàng triệu đô. Thiệp cũng thế. Khi nhận số tiền ít ỏi, anh ngỡ ngàng. Tệ hơn, theo Greg, dường như anh có ý nghĩ là bị Greg ăn chận. Quan hệ giữa hai người xấu hẳn. Lần sau, Greg đi Việt Nam, Thiệp không muốn gặp. Điều đó để lại trong Greg một nỗi cay đắng khó phai nhạt. Nói chuyện với tôi, Greg không nén được chua chát.

 

Sự hiểu lầm của Nguyễn Huy Thiệp, tôi nghĩ, cũng là sự hiểu lầm của khá nhiều người Việt Nam, nhất là ở thế kỷ trước. Nó chỉ đáng tiếc. Nhưng không đáng trách.

 

Ở Hà Nội, tôi thân với Phạm Xuân Nguyên nhất. Có lẽ vì anh cùng tuổi, lại chuyên viết phê bình, và quan trọng nhất, tính tình anh rất phóng khoáng. Cứ vài ngày tôi lại gặp anh. Tôi không biết giờ giấc làm việc của Nguyên ở Viện Văn học như thế nào nhưng chỉ ới một tiếng là thấy anh xuất hiện. Mà không phải chỉ với tôi. Với nhiều người khác cũng thế. Rất đông người cầm bút ở hải ngoại về Hà Nội gặp Nguyên và được Nguyên tiếp đãi một cách ân cần. Ai cũng khen. Anh sống như một cuộc rong chơi. Cực kỳ tốt với bạn bè. Nhưng, tôi nghĩ, chắc cũng mất rất nhiều thì giờ cho bạn bè. Có lẽ vì vậy anh viết không nhiều. Và cũng không đúng với cái tầm đáng lẽ anh có thể có. Tôi nghĩ anh có nhiều tố chất cho một nhà phê bình giỏi: Thông minh, nhạy bén và uyên bác. Tôi nghĩ trí nhớ của anh hẳn tốt lắm. Anh thông thạo cả tiếng Nga lẫn tiếng Anh và tiếng Pháp dù anh không nói được ngôn ngữ nào cả. Anh hoàn toàn tự học. Tôi thường đọc các bản dịch của anh với sự ngưỡng mộ.

 

Gặp nhau nhiều lần nhưng tôi vẫn không biết anh nghĩ gì về mình. Anh hoạt ngôn nhưng cũng khá kín đáo, hiếm khi bày tỏ chủ kiến. Thường, chúng tôi chỉ nói chuyện về sinh hoạt văn học chung chung, những điều, do sống ở nước ngoài, tôi không được cập nhật. Đến khi đọc một bài phỏng vấn anh trên Talawas ngày 21.4.2005, tôi mới biết những gì anh nghĩ:

 

Một số người ở hải ngoại đã nuôi ảo tưởng rằng nếu được tự do phổ biến thì văn học hải ngoại sẽ như một làn gió mới, gây nên những chấn động gì kinh khủng lắm. Có lẽ không như vậy. Gây chấn động bây giờ có phải dễ đâu. So với những sáng tác của hải ngoại thì có khi lối viết phê bình của Nguyễn Hưng Quốc lại gây tác động với trong nước nhiều hơn.(1) Ông Quốc hội tụ được cả ba điểm: Một, tiếp thu được những lí thuyết mới; hai, nắm chắc văn học Việt Nam, vì lí thuyết giời mà không nắm chắc văn học Việt Nam thì cũng hỏng; ba, có một lối viết vừa là khoa học vừa là văn chương.(2)

Ở Sài Gòn, tôi thân với nhiều người hơn: Nguyễn Viện, Nguyễn Quốc Chánh, Trần Tiến Dũng, Thận Nhiên (thời anh sống ở Việt Nam), Lý Đợi, Bùi Chát, v.v… Tính tình mỗi người mỗi khác, nhưng tất cả đều có một phong thái chung: Tự do. Họ khác hẳn anh em cầm bút ở miền Bắc, những người cán bộ, mang văn hoá cán bộ, lúc nào cũng thuận thảo với dòng chính thống: Ngay cả khi họ phê phán chính quyền, sự phê phán ấy dường như lúc nào cũng có mức độ. Phê phán từ bên trong. Ở Sài Gòn thì khác. Ngay trước 1975, đã hình thành một tầng lớp trí thức và văn nghệ sĩ hoàn toàn độc lập với chính quyền. Họ sống bằng việc viết lách của họ. Họ thanh thản. Họ ung dung. Họ không sợ ai cả. Sau năm 1975, lớp cầm bút trẻ tuổi cũng giữ được truyền thống ấy. Họ không bon chen để được xuất hiện trên báo chí chính thống. Họ viết và tự in trên những bản photocopy nhoè nhoẹt. Nếu không, họ chỉ phổ biến trên internet. Họ vẫn vui. Những buổi nói chuyện với họ lúc nào cũng rộn những tiếng cười. Có một điều tôi để ý: tất cả bạn bè ở Sài Gòn đều gọi tôi là Quốc. Sách tặng, họ ghi rõ: Tặng Nguyễn Hưng Quốc. Có vẻ như họ không sợ cái tên Nguyễn Hưng Quốc như bạn bè ở Hà Nội.

Thời gian ở Pháp, tôi thân nhất với Trần Vũ. Hầu như tuần lễ nào cũng gặp nhau. Và gặp nhau là nói chuyện văn học sôi nổi. Sinh năm 1962, anh qua Pháp từ năm 17 tuổi, tiếng Pháp rất giỏi. Nhưng tiếng Việt của anh cũng cực kỳ thành thạo. Cái thành thạo của một nhà văn có tài. Tôi cho anh là một trong những người viết truyện ngắn hay nhất của thế hệ anh, trong cũng như ngoài nước, nói chung. Có thể nói Trần Vũ có ba đam mê chính. Thứ nhất là tiếng Việt. Anh thường nói anh chỉ thích làm tình với phụ nữ Việt Nam. Lý do? Hãy nghe anh giải thích: “Em thích nghe rên bằng tiếng Việt.” Hẳn nhiên đó chỉ là một lời nói đùa. Nhưng nó cũng xuất phát từ một ám ảnh: hạnh phúc gắn liền với tiếng mẹ đẻ. Thứ hai là đam mê lịch sử. Trên tủ sách của anh có rất nhiều sách về lịch sử, đặc biệt lịch sử chiến tranh. Đó là lãnh vực anh có kiến thức rất rộng. Anh có thể nói say sưa về các trận đánh nổi tiếng ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Dù tôi cũng thuộc loại đọc sách nhiều, nghe anh nói, có lúc tôi không khỏi bối rối. Và, thứ ba, anh rất thích rượu đỏ. Ngày nào anh cũng uống. Từ sáng đến tối. Liên quan đến rượu, sực nhớ một chuyện do Trần Vũ kể trong một cuộc phỏng vấn:

Buổi tối đó, chúng tôi tiễn Nguyễn Hưng Quốc đi Úc, trong cái quán nhỏ gần bờ sông Seine. Mai Thảo ăn ít. Chúng tôi uống với ông. Bình thường anh Quốc không uống rượu. Nhà phê bình, giống hầu hết giới phê bình, muốn tỉnh táo, mà điều này sáng tác ghét thậm tệ. Tuy nhiên, tối đó, Nguyễn Hưng Quốc cố gắng theo chúng tôi. Anh không gìn giữ, không chiếu lệ, mà uống thật tình, vì anh cũng thương Mai Thảo. Nếu lý trí Nguyễn Hưng Quốc gần với Võ Phiến, tình cảm anh dành cho Mai Thảo. Uống chia tay, như một vĩnh quyết. Đến một lúc, anh ngã bật ra bàn và nôn thốc tháo, rồi bất tỉnh. Chúng tôi kêu hầu bàn thay khăn, kêu thêm rượu. Khuya lắm, đến khi quán đóng cửa, phải ra về, tôi khiêng vai Nguyễn Hưng Quốc, trong lúc Mai Thảo khiêng hai chân, chúng tôi khiêng dọc bờ sông phủ hơi ẩm của đêm hè. Chúng tôi khiêng trong im lặng. Không ai nói với ai lời nào. Cho đến khi ra xe, tôi muốn chở Mai Thảo về trước, nhưng ông lắc đầu: ‘Đưa Quốc về nhà.’ Gương mặt ông nhăn nhúm vì buồn.

 

Tối đó, tôi say khướt nên không biết Trần Vũ có “hư cấu” thêm gì không. Nhưng nghe anh kể, tôi vừa xấu hổ vừa thấy vui. Một kỷ niệm đẹp. Với Trần Vũ. Và với cả Mai Thảo nữa.

 

Tôi qua Mỹ nhiều lần, lần nào cũng gặp nhiều bạn bè, chuyện trò không ngớt. Tôi thích cái điềm đạm của Trương Vũ, cái dí dỏm của Nguyễn Thị Hoàng Bắc, cái chân tình của Nguyễn Thị Thanh Bình, cái hào phóng của Hoàng Đình Bình, sự uyên bác của Đỗ Quý Toàn, sự nhẹ nhàng đầy phong thái thiền của Nhã Ca, những mẩu chuyện thời trẻ của Trần Dạ Từ, sự nho nhã của Phạm Phú Minh, sự nhiệt tình của Ngự Thuyết, vẻ bụi bặm của Vương Ngọc Minh, sự trẻ trung của Nguyễn Hoàng Nam, cốt cách nhà giáo của Bùi Vĩnh Phúc, sự từ tốn của Hoàng Ngọc Biên, v.v... Hai người tôi thấy gần gũi nhất là Nguyễn Xuân Hoàng và Võ Đình.

 

Tôi gặp Nguyễn Xuân Hoàng trong chuyến đi Mỹ lần đầu vào năm 1989. Anh rủ tôi đi uống cà phê. Tôi kể là hồi nhỏ, từ Quảng Nam, đọc tạp chí Văn có thời anh làm thư ký toà soạn, tôi rất thán phục và mơ có ngày nào đó được gặp anh. Anh cười: “Bây giờ gặp rồi, chắc Quốc thất vọng lắm nhỉ?” Năm 2007, gặp lại anh ở San Jose, anh lại tâm sự: “Thế hệ của Quốc được đào tạo bài bản chứ thế hệ của tôi, hồi đó ở Sài Gòn, nói chuyện văn học Tây phương mà có hiểu Tây phương mấy đâu. Phần lớn chỉ làm dáng.” Sự thành thực và khiêm tốn của Nguyễn Xuân Hoàng bao giờ cũng làm tôi cảm động. Không có gì đáng ngạc nhiên khi hầu hết những người cầm bút tôi quen biết đều quý mến anh.

 

Năm 2010, Nguyễn Xuân Hoàng được mời viết blog trên đài VOA. Trong một bài nói đến giới cầm bút ở hải ngoại, anh có nhắc đến tôi: “Chữ nghĩa đanh thép, lý luận sắc bén như Nguyễn Hưng Quốc không phải thời nào cũng có.” Tôi dùng lời nhận xét ấy in ở bìa sau cuốn Phản tỉnh và phản biện (2011). Sau, nói chuyện với anh trong một lần cà phê ở San Jose, tôi cám ơn anh về nhận xét ấy. Anh chỉ cười. Thật lành.

 

Tôi chỉ gặp Võ Đình một lần duy nhất ở Washington D.C. vào năm 1989. Sau buổi gặp đó, viết thư cho Võ Phiến, anh nhận xét về tôi: “Viết được như chàng này thật hiếm hiện nay. Sáng sủa mà thơ mộng, mạch lạc mà thiết tha, khúc chiết mà đằm thắm, cứng cáp mà hiền hoà. Sau buổi nói chuyện ở GMU – George Mason University, ‘họp mặt du đãng’ ở quán giang hồ của vợ chồng [Ngô Vương] Toại, tôi ngâm ‘thưởng’ chàng ta 4 bài thơ. Một trong 4 bài (tôi nói để nhớ bài ‘Sao có tiếng sóng ở Võ Phiến’) là ‘Tống biệt hành’ của Thâm Tâm.” Võ Phiến chuyển nhận xét ấy cho tôi xem. Trong bức thư gửi Võ Đình ngày 1.5.1989, Võ Phiến kể lại chuyện đó: “À, tôi có làm một chuyện lếu láo: Đọc cái thư anh khen Nguyễn Hưng Quốc, tôi có sao lại đoạn đó, gửi cho Quốc mà chưa kịp hỏi ý kiến anh. Tôi chắc anh đồng ý: Mình làm cho người khác ‘sướng’ được một phát, tại sao không? Vả lại ý kiến anh về N.H. Quốc giống ý tôi. Anh chàng trẻ tuổi mà điềm đạm, rất thông minh, chắc chắn sẽ nổi đình nổi đám.”

 

Tôi và Võ Đình bàn với nhau: Sẽ xuất bản những bức thư Võ Phiến gửi cho tôi và cho Võ Đình sau khi Võ Phiến qua đời. Tất cả các bức thư ấy đều đã được đánh máy và layout. Sẵn sàng. Tiếc, Võ Đình lại đi trước Võ Phiến. Khi Võ Phiến mất, vợ Võ Đình, chị Trần Thị Lai Hồng, giận Võ Phiến chuyện gì đó, không muốn in, nên, cuối cùng, khi xuất bản vào năm 2015, chỉ có phần thư Võ Phiến gửi tôi.

 

Nguyễn Hưng Quốc


(Trích từ cuốn Sống và Viết ở Hải Ngoại, Lotus Media xuất bản 2022, phát hành toàn cầu trên Amazon.com)

https://www.amazon.com/S%E1%BB%90ng-Vi%E1%BA%BEt-H%E1%BA%A2i-Ngo%E1%BA%A0i-Vietnamese/dp/108805076X/ref=sr_1_21?crid=DM8DMJQSNTKO&keywords=nguyen+hung+quoc&qid=1657615885&s=books&sprefix=nguyen+hung+quoc%2Caps%2C366&sr=1-21

 

Chú thích:

 

(1)   Tìm “bằng chứng” cho cái Phạm Xuân Nguyên gọi là “tác động” ấy, tôi bắt gặp những lời kể này của tiến sĩ Trần Ngọc Hiếu trên facebook của ông ngày 7.1.2022: “Quãng thời gian đầu học cao học, tôi bị hoang mang cao độ đến mức đã có lúc muốn từ bỏ việc ở lại khoa để về phổ thông dạy. Nhưng lại nhờ đọc sách mà tôi tìm thấy lối thoát. Hồi đó, chị Hoà có cho tôi xem một cuốn sách photo rất mờ mịt - Văn hc Vit Nam t đim nhìn h(u h)in đi của Nguyễn Hưng Quốc. Những bài tiểu luận gây sốc ngay từ nhan đề như Văn học trong một nước mù chữ, Viết văn với cây búa... lần này không chỉ là cú hích. Nó là một cái gì đó rung chấn rất lớn đối với tôi. Thời đó, tìm đọc sách của Nguyễn Hưng Quốc ở Việt Nam là cả một cuộc săn tìm. Khi tôi quyết định nhận đề tài cao học làm về thơ đương đại, tôi hỏi thầy Chu Văn Sơn để mượn cuốn Thơ, v.v. và v.v. của Nguyễn Hưng Quốc. Cuốn sách này làm tôi ngơ ngẩn vì hoá ra cả trong nghiên cứu, phê bình, tiếng Việt cũng có thể đẹp một cách lạ lùng. Cái đẹp của một ngôn ngữ sắc, thẳng, logic và giàu tính khiêu khích. Tôi tìm được rất nhiều cảm hứng để thay đổi lối viết nhờ đọc Nguyễn Hưng Quốc. Tôi hiểu, giờ, không còn là lúc viết để phô diễn vài thứ tài hoa kiểu lãng mạn chủ nghĩa, viết là đẩy đến độ căng của tư duy.”

(2)   http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=4337&rb=0202

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Phải chi khách đến thăm vườn hồng hơn trăm giống quý đủ màu sắc của ông Chu hằng ngày là khách mua hoa thì chắc thu nhập của gia đình ông đỡ hơn. Ông nghèo, nhưng cái máu nghệ sĩ của ông lại mạnh mẽ hơn chuyện tiền bạc, lại gặp bà vợ hết mực chiều chồng, nên cứ nghe đâu có giống hồng lạ là bằng mọi cách phải có cho bằng được. Năm ba ký gạo đắp đổi hằng ngày đã khó, mà có những giống người ta đổi cả tấn lúa ông cũng lắc đầu.
Không nhớ từ bao giờ đã không còn ngồi xuống bàn trà, tay bốc miếng mứt hạt sen bỏ vô miệng, vị ngọt tươm ra không quá gắt như ăn miếng mứt bí, vị ngọt nhẹ, thanh, kích thích vị giác bởi hương sen quyện ngọt điệu đà, tới khi nhai cái hạt sen đã ấm ấm trong miệng nên không còn cứng cũng không quá mềm như khoai lang luộc. Độ dẻo của hạt sen khi đã sên mứt rất mê hoặc và cũng đâu có gì vội để nuốt đi cho mau, cứ ngậm mà nghe hương vị đất trời tinh khiết của hương sen xông lên khoang mũi làm cho người thưởng thức lâng lâng cảm giác xuân đã về. Có thể nói món gì có hạt sen góp mặt cũng ngon như món vịt tiềm có nhân bên trong là thịt bằm, nấm mèo, táo tàu, gia vị nhiều thứ, nhưng những hạt sen luôn khêu gợi những đôi đũa gắp vì hấp dẫn và ngon lạ miệng. Nhưng đã nhiều năm không ăn mứt hạt sen sao vẫn nhớ khá rõ hương vị độc đáo của hạt sen trong món ngọt ăn chơi ngày tết, hay món mặn ăn tiệc đều ngon.
Cậu Hà người Bắc di cư năm 1954, cậu di cư có một thân một mình khi còn trẻ, nên cậu cũng không có nhiều phương tiện được học hành nhiều. Khi lớn lên ở miền Nam, lối chừng 19, 20 tuổi khoảng năm 1965-1966, cậu từ giã học đường đăng lính, cậu đi lính Việt Nam Cộng Hòa ngành Biệt Động Quân. Sau chuyển qua Thám Báo. Cậu đóng quân như ở miền đồng ruộng, lúc bấy giờ còn loáng thoáng xa xa, ít dân cư, tiếp giáp một bên Đồng Ông Cộ, miệt Gò Vấp, Gia Định.
Chị nhớ lại, vào một buổi sáng ngày cuối tháng 1 năm 1973, khi Chị đi lấy bản tin ở bên Macv về cho AP, chị thấy sao hôm nay văn phòng đông thế. Ký giả của AP và cả của NBC News bên cạnh cũng chạy qua chạy lại, Chị nghe ông chánh văn phòng nói: Viêt Nam sắp ngưng bắn rồi, sắp hòa bình rồi…” Văn phòng Associated Press xôn xao, từ ông chánh văn phòng đến các ký giả, nhân viên của AP đều hứng khởi với cái tin “Nóng bỏng” này. Chị thấy các phóng viên của các hãng thông tấn, hãng truyền hình ngoại quốc chạy hối hả sang nhau và chạy qua cả đài phát thanh Quân Đội Việt Nam để cập nhật tin tức viết bài…
Chị đi bằng xe hàng. Là dân Đà Lạt gốc Huế nên chị gọi xe đò là “xe hàng”. Đi xe hàng, tức là xe đò, là xe chở người và cả hàng chứ không chở riêng hàng. Tiếng Việt hay như vậy đó! Đến Gò Công rồi đi xe lam vào Đồng Nguơn. Ấp Đồng Nguơn. Không phải đây là lần đầu tiên chị được thấy cảnh đồng quê. Đồng quê miền nam hầu như đâu đâu cũng giống nhau. Nhưng có đi nhiều mới thấy mỗi nơi có một chút khác. Phải thế không? Hay chính là cảm giác của chị mỗi lần một khác?
Tôi ước mơ có một ngày nào đó, khi thanh bình thật sự trở về trên nước VN, khi chính thể CS hoàn toàn tan rã, khi con người công chính trở lại làm nền tảng trong xã hội mới, chúng ta sẽ trở về, những ngưới bạn từ thời xa xưa, cùng nhau làm lại một bữa tiệc Tất Niên, mời vong linh các thầy, các bạn, các anh em đồng đội đã chết trong khói lửa chinh chiến, trong các biến cố tang thương của đất nước, trong các trại tù, trên biển…cùng nhập tiệc. Kẻ đang sống cùng người thiên cổ bên cạnh nhau hoài niệm đến một miền thùy dương ngọt ngào nhân tính, một ngôi trường thân yêu giàu truyền thống giáo dục và y đức, một thành phố mến yêu thơ mộng. Để nghe những người quá cố tâm sự về cái chết oan khiên của mình. Được như vậy, hương hồn các vị đó sẽ sớm được siêu thoát và vĩnh viễn an nghỉ chốn nghìn thu. Và chúng ta đây giảm khắc khoải đau thương…
Tôi đã có bốn cái Tết trong trại Panatnikhom và Sikiew, Thailand. Tết đầu tiên thật nhiều kỷ niệm và bất ngờ, vì lúc đó chúng tôi vừa nhập trại trong khi còn hơn một tuần nữa là Tết. Tôi và ba cô bạn đi chung chưa kịp gửi thư cho thân nhân ở nước ngoài để ca bài ca “xin tiền”. Ai lo bận bịu đón Tết thì lo, còn chúng tôi thì lo đi mượn tiền để mua vài vật dụng cần thiết như tấm trải nhựa, tre nứa, dây nilon để làm “nhà” (phải “an cư” mới “lập nghiệp” tỵ nạn được chớ).Khoảng một tuần trước Tết, có một nhóm mấy thanh niên đến thăm vì nghe nói chúng tôi là dân Gò Vấp, nên muốn nhận “đồng hương đồng khói”. Họ là những người trẻ như chúng tôi, nên câu chuyện mau chóng trở nên thân mật và rôm rả
Hỏi thăm ông Hai bán hoa lay-ơn gốc Bình Kiến, nhiều người ngơ ngác hỏi nhau. Tôi lại rảo qua thêm mấy vòng chợ hoa, cũng vừa đi tìm ông Hai, cũng vừa ngắm hoa và ngắm những chậu bonsai bày bán cuối năm, cũng tìm lại mình của gần 20 năm trước, năm nào cũng cứ vào những ngày này, tôi theo ba tôi hóng gió đón sương không hề chợp mắt cùng gian hàng cây kiểng rất bề thế của ba ở đây.
Có lẽ những rộn ràng, hân hoan nhất trong năm không phải là "ba ngày tết", mà là những ngày cận tết. Bắt đầu vào ngày 23 tháng chạp, tối đưa ông Táo về trời. Tất cả mọi sinh hoạt đều hướng về việc chuẩn bị để đón một mùa xuân mới, chào đón nguyên đán và mấy ngày xuân trước mặt. Lúc nhỏ là mùi vải thơm của bộ đồ mới, mùi gạo nếp ngâm cho nồi bánh và hương thơm ngào ngạt cho sàng phơi mứt dừa, mứt bí, mứt gừng ngoài sân. Những đêm ngủ gà ngủ gật ngồi canh bên nồi bánh tét cùng với má, với gia đình xúm quanh. Mùi bếp lửa, mùi khói hương, mùi áo mới lan tỏa của tuổi thơ ngan ngát những ngày xa...
Người ta được nuôi lớn không chỉ bằng thức ăn, mà còn ở lời ru, tiếng hát, và những câu chuyện kể. Chú bé cháu của bà thích được bà ôm vác, gối đầu lên vai bà. Có khi bà mở nhạc từ chiếc nôi cho chú nghe thay cho lời hát, chiếc nôi chú bé đã nằm khi mới lọt lòng mẹ. Có khi bà hát. Bà không ru à ơi, nhưng âm điệu dân gian len vào trong từng lời hát. Chú bé mãi rồi ghiền nghe giọng hát của bà.
Lóng rày tôi hay tẩn mẩn viết về những hồi tưởng tuổi thơ, nhất là những côn trùng ngày xa xưa đó như chuồn chuồn, bươm bướm, ve sầu, dế mèn…Nhiều lúc ngồi nghĩ lẩn thẩn: tại sao vậy? Chắc đó là tâm trạng của người tuổi sắp hết đếm số, tiếc nuối những khi còn cắp sách tới trường. Cắp sách tới trường không phải là chuyện vui nhưng tuổi học trò thì vui thật. Lúc nào, khi nào, chỗ nào cũng toàn thấy chuyện vui chơi. Bạn chơi là người nhưng nhiều lúc là những côn trùng quanh quẩn bên người. Một ông bạn mới gặp nhướng mắt hỏi tôi viết về những bạn chơi nhiều hơn hai chân nhưng chưa thấy nhắc tới bạn của ông ấy. Đó là bọ ngựa. Ông này thuộc loại rắn mắt. Tôi không chung tuổi thơ với ông nhưng chắc ông cũng thuộc loại phá làng phá xóm. Ông kể chuyện ăn me chua trước mấy ông lính thổi kèn trong hàng ngũ khiến mấy ông thợ kèn này chảy nước miếng thổi không được. Tôi thuộc loại hiền nên không có bạn không hiền như bọ ngựa. Ông ta thì khoái bọ ngựa.
“Mày có vợ hồi nào vậy?” chưa kịp chào, mẹ đã ném ra câu hỏi bất ngờ. Tôi lặng thinh. Cục nghẹn trong cổ họng. Tiếng mẹ đã khàn nhưng nghe vẫn quen, vẫn gần gũi, nhưng đặm chút ngạc nhiên và thấp thoáng chút phiền muộn. Hệt như lần hỏi tôi mười mấy năm trước rằng Sao con trốn học. Đường dây điện thoại chợt kêu ù ù, như thể có máy bay hay xe vận tải cơ giới hạng nặng chạy qua chỗ mẹ đứng. Cũng có thể tại tai tôi ù. Tôi cũng không chắc lắm. Giọng nói mẹ chìm vào khối tạp âm hỗn độn. Mẹ lặp lại câu hỏi trong tiếng động cơ rì rầm. Rồi tất cả im vắng bất ngờ. “Hở con?” Mẹ nói.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.