Hôm nay,  

Hoa bông giấy

06/08/202211:27:00(Xem: 4103)

Truyện ngắn

maxresdefault

Chuyện xa thì nhớ, chuyện gần thì quên:

 

Mời người lên xe về miền quá khứ

Mời người đem theo trọn vẹn thương yêu…

(Nghìn trùng xa cách, Phạm Duy).

 

Ở cái miền đấy hoa bông giấy nhiều lắm, nhiều vô kể, nhà học trò cô Anh Thơ, mỗi nhà có từng cụm cây hoa bông giấy trồng từ lâu đời, tàn lá sum suê rậm rạp. Hoa bông giấy có nhiều màu, màu đỏ xậm, màu đỏ tím như hoa sim, màu vàng cam, màu hồng, màu trắng, đủ màu, hoa không có hương, nhưng màu sắc rực rỡ vô cùng như những nụ cười chưa bao giờ khép.

 

Cây bông giấy lên rất khỏe, rất mạnh, càng cắt tỉa chừng nào, cành lá mau ra chồi chừng ấy. Hoa bông giấy không hề héo, hình như không bao giờ héo. Khi hoa nở đã lâu, gió thổi mưa rơi, hoa rơi theo lả tả dưới đất. Nhưng hoa vẫn không héo, 3, 4 cánh nở đầy vẫn tựa lưng vào nhau. Mấy nhụy vẫn vươn cao trong lòng 3 cánh hoa.

 

Cô Anh Thơ đã có lần tỏ thắc mắc: Tại sao hoa rụng mà hoa không héo nhỉ? Tại nó tên là bông giấy, thưa cô! Một đứa học trò hóm hỉnh trả lời: Kêu là bông giấy nhưng là bông thiệt, chớ không phải là bông giả đâu Cô. Xí, làm mặt tài không, ai không biết điều đó.

 

Tụi học trò ưa cãi nhau lắm. Tụi nó là cái đám học trò xã Đại Phước, thuộc yếu khu thành Tuy Hạ, nơi mà cô Anh Thơ được điều động về dạy học hơn hai năm nay, kể từ lúc cô vừa ra trường Đại học Sư phạm Sài Gòn.

 

Những ngày đầu tiên của nghề gõ đầu trẻ ở đây cô buồn buồn, buồn nhứt là phải bỏ lại sau lưng Sài Gòn rộn rịp, để rồi qua đò Thủ Thiêm, qua phà Cát Lái, về quận Nhơn Trạch hẻo lánh toàn thấy rừng cao su là rừng cao su.

 

« Con đi đầu tuần rồi cuối tuần con lại về Sài Gòn với gia đình, đi làm ăn phải vậy, có gì đâu mà con buồn. Rồi con còn đi lấy chồng nữa kia… » Mẹ cô vẫn thường an ủi vậy.

 

Nhưng bà có biết đâu rằng miền đất Nhơn Trạch nằm kề Sông Sàu, cùng với Dĩ An, Công Thạnh là những địa danh mà chiến tranh rình rập, biến hiện rất bất ngờ. Cô Anh Thơ không sợ chiến tranh, cô chưa biết sợ chết, kể là sợ súng đạn, vì hẳn là cô chưa trực tiếp đối diện. Thỉnh thoảng đêm nằm ngủ ở quận lỵ cô vẫn nghe tiếng súng vọng về từ  xa xa, có lúc thật gần, nhưng cô chỉ nghe chớ cô chưa nhìn thấy. Khi khó ngủ cô lại nhớ lời thầy giảng: “Người lính có thể hy sinh thân mình để bảo vệ gia đình, đất nước, quê hương, nhưng với vũ khí hiện đại ngày nay thì tội nghiệp làm sao, thử hỏi người lính đó có hy sinh cả cái mà nhơn danh nó mình hy sinh không? Có tiếng la ó phản đối từ đám đông sinh viên, rồi mất điện, có một đám tuổi trẻ không bằng lòng thầy, bảo là thầy giảng có ít nhiều tư tưởng phản chiến. Ừ thì có đối diện cận chiến đi rồi hãy nói chuyện tham chiến hay phản chiến.

 

Những ý nghĩ mông lung làm cô trăn trở, những điều cô không thích ngay trong hiện tại bây giờ là quanh cô, những cái mái tranh thật thấp và bóng đèn dầu tù mù, làm cô thấy quãng đời như đi giật lùi, hay ai gọi là đi xuống tối tăm hơn. Cô hơi chán nản. Cô cũng có lần thở dài tiếc ngày còn đi học tràn đầy hoa mộng, tràn đầy ánh sáng ở Sài Gòn phía xa xa kia.

 

Thực tế và tương lai có lúc vui lúc buồn, nhưng phải đi vào cuộc sống mới hiểu rỏ được mình và cuộc sống, đã hòa trộn, đã lẫn lộn vào nhau thế nào. Thế rồi từ lúc nào không rõ cô đã yêu thương cái đám học trò vừa tỉnh vừa quê của cô, chúng dễ thương và mộc mạc lắm. Cũng có vài đứa con nhà khá khá, cũng biết làm dáng từ áo quần, sách vở qua lời ăn tiếng nói thưa gởi. Có những em thật lười, chúng gốc gác ở đây lâu đời, chuyên làm rẫy chăn trâu, nhứt là trồng hoa huệ, chỉ về Sài Gòn bán, hoặc chăn nuôi gà, vịt, heo. Chúng có vẻ quê đặc, mặc áo quần bà ba, cười nói oang oang trên đường đi học. Một số em, hơi ít, gia đình giàu có, có cửa tiệm, có cây xăng, nhà thuốc tây, một vài gia đình người Việt gốc Hoa bán tạp hóa, quán ăn, thì tỏ ra láng coóng, ăn diện và mỗi đứa sắm một cái xe Honda, chiều chiều phóng vù vù ngoài đường nhựa bọc quanh các lô cao su. Chúng sung sướng là lướt như nhà giàu ở thành phố lớn, sắm xe hơi chiều chiều ra xa lộ hóng mát vậy.

 

Nói vậy không phải học trò nghèo không có cái vui thú riêng của chúng đâu. Cô Anh Thơ nhớ là sau một tháng thầy trò làm quen, một buổi kia tan trường, có 2, 3 đứa học trò quê rà rà bên cô rủ cô chiều nay khoảng 6, 7 giờ đi chèo thuyền với chúng. Cô tò mò hưởng ứng ngay, thế là một buổi chiều hôm đó, thầy trò săn quần quá gối ra ven sông tập tễnh leo lên thuyền. Thuyền chèo tay, ghe thì đúng hơn, nhưng trò Non nó sống lâu năm trong nghề nên lanh lẹ lắm, chỉ cần quơ 2, 3 dầm nó đã đẩy thuyền ra giữa dòng sông sâu.

 

– Cô ơi cô muốn đi đâu?

 

– Đi đâu? Cô biết đâu mà đi, em dắt cô đi đâu, cô đi đó. – Cả bọn cười.

 

– Đừng bắt cô đi gặp VC nghe anh Non.

 

– Thôi, xuống dưới bến tụi em sẽ bắt ghẹ về rang muối. Đêm nay đêm rằm, nhiều cua, nhiều ghẹ ra lắm.

 

Cô Anh Thơ ưng thuận ngay. Một buổi đi chơi giữa thiên nhiên rất vui, vô sự. Hôm sau cô đến lớp hơi trễ vì dậy muộn. Vừa đặt chân lên hành lang xi măng cô đã nghe thấy vài ba câu hát ong óng như ghẹo cô.

 

Đêm nay bao con thuyền về đâu xuôi mái…

Ai ca dưới trăng vàng đường xa vắn dài

Mái chèo khoan thai trên sông dãi dầu

Con thuyền về đâu…? Ô hay sao trăng rụng xuống « đầu »…

 

Rồi một ngày sinh nhựt cô, đám con gái đã biết mang tặng cô một ôm hoa bông giấy đầy tay đủ màu tươi thắm. Cô cảm động đỏ mặt. Chúng biết giỡn bao giờ cô lấy chồng. Cô ân cần cười với đám học trò dễ thương. Khi nào cô lấy chồng cô sẽ mang về đây làm đám cưới để nhận được thật nhiều quà của các em.

 

– Thật nghe cô!

 

– Hoan hô cô!

 

– Thế cô cho tụi em ăn cỗ luôn hả cô?

 

– Tụi em sẽ mua của nhà thằng Trương Ngừng một con bò con, mình thui nó lên!

 

*

 

Quân Nhơn Trạch mùa xuân 1968

 

Mùa xuân đến cùng khắp nơi nơi, có một sự thay đổi của đất trời và của lòng người. Mùa xuân nơi làng quê hoa nở rộ, cả những đóa hoa mắc cỡ và nhiều loại hoa dại bên đường. Con đường quê quận lỵ mặc áo mới, con đường mang những đường viền lộng lẫy: đất thì đỏ nổi bật giữa viền hoa vàng, tím xanh và cỏ non mượt. Con đường lên dốc nhà thờ, đường xuống chợ Đại Phước, đường ra bến phà Cát Lái, đường sang Long Thành, người đi lại rộn rịp, buôn buôn bán bán, xe cộ nhộn nhịp vào cuối năm. Từ sớm tinh mơ xe lam chở đầy hoa huệ và hoa cúc về Sài Gòn. Tiếng gọi nhau ơi ới. Cùng với tiếng vó ngựa nhịp nhàng gõ lốc cốc trên những khúc đường tráng nhựa.

 

Còn gần một tuần lễ nữa học trò nghỉ Tết. Các thầy cô sửa soạn tất niên cùng với các lớp. Học trò nhà quê vừa giúp cha mẹ bán hàng, vừa lật đật ghé về trường, chạy tới chạy lui như con thoi. Trên bàn giấy nhà cô Anh Thơ, kê sát cửa sổ ngó ra đường, ngoài cái đồng hồ báo thức và chồng bài đang chấm dở, còn có thêm quà Tết học trò mang lại sớm mừng tuổi cô: hai chai rượu Tàu Mai Quế Lộ, cặp bánh tét bụ bẫm và bao trà Hoa Mai giấy bóng kiếng đỏ.

 

Cô Anh Thơ đang lục đục ở cuối phòng, cũng có một góc bếp, ý chừng cô đang sửa soạn pha chút café cho buổi sáng. Thấy Nhuệ, thầy Xiết chân trong chân ngoài cửa nhà cô đã kịp pha trò:

 

– Ôi chao, học trò chi mà chúng có hiếu quá. Nó Tết cô nó hậu ghê ta!

 

– Anh có biết sao nó Tết cô mà chưa Tết thầy không? Coi chừng nó không Tết thầy nó luôn đó.

 

– Ờ, cái đó là chúng ẩu thiệt, không chừng nó hối lộ, qua năm mới cô đừng cho nó zero bài kiểm.

 

– Thôi thôi ông đoán sai bét. Tại sao, tại vì thầy nó tham ăn, láo ăn quá nên chúng khoan biếu vội.

 

Cả ba đồng nghiệp thích chí cười vang.

 

– Tôi đồng ý với chị Thơ chút xíu, mà anh Nhuệ cũng có lý, tụi này quê quá chứ láu cá lắm đấy. Nhứt là đám Tiều dưới chợ và đám nhà giàu trên Long Thành. Cả mấy đứa Bắc kỳ di cư dưới Thị Câu cũng khôn tổ mẹ.

 

– Không lẽ chúng dại hết để mình mình khôn.

 

Ông thầy xoay xoay hộp trà, cười cười tiếp:

 

– Bọn ở rẫy con nhà Sáu Trân như thằng Non, thầy Tính ôi chu choa nó dốt sao mà dốt, giờ nhạc mà nó hát như đếm làm tôi chán nản.

 

– Mấy đứa con gái xóm chợ thì đanh đá dễ sợ.

 

– Mình đang nói xấu học trò khuất mặt như vậy mắc cỡ lắm.

– Tại là chúng chưa được đọc văn chương của cô. Sang năm lên lớp học cô nó văn minh ngay mấy hồi.

 

– Thôi đừng tán. Hai chai rượu thì tôi để tôi uống mình tôi, chớ tôi không mang lại tất niên đâu. Khoan mừng vội đi ông.

 

*

 

Nhưng rồi cô Anh Thơ cũng mang bánh, mang rượu lại tất niên với đồng nghiệp, với học trò.

Mấy thầy tháp tùng học trò vô rừng chặt mang về hoa mai rừng. Hoa mai vàng nở bùng tưng bừng trang trí xung quanh một lớp học riêng, bàn ghế kê sát, bao vây quanh tường. Phía trên cửa ra vào phòng học rộng làm tất niên, bàn tay nào kín đáo đã gắn lên một bó hoa giấy màu trắng tươi nở rộ, lộng lẫy ngay phía trên đầu mọi người. Màu sáng trắng đẹp quá làm căn phòng như bừng lên nét tươi trẻ và hăng say yêu đời. Đám nữ sinh nấu một nồi chè Bà Ba thật lớn. Đám nam sinh khuân tới bánh chưng, bánh tét, mứt và dưa hấu. Quả nào quả nấy láng mướt hứa hẹn bên trong đỏ lựu ngọt ngào.

 

Thầy trò chúc Tết qua lại từng lớp, từng lớp. Tiếng vỗ tay râm ran thay pháo. Trò Thọ, trò Tốt sung sướng khua đàn guitare vang vang và màn văn nghệ bỏ túi bắt đầu.

 

Tuy không thiện nghệ lắm nhưng cũng đủ để hoạt náo mọi người. Thầy cô trẻ hân hoan, không ngờ đám học trò nhà quê của họ cũng đầy máu văn nghệ văn gừng y như họ mới ngày nào cũng khua rộn đại học xá Minh Mạng.

 

Trò Bảnh, trưởng lớp 9A1 kín đáo, ngoan ngoãn và kỷ luật, lúc nào cũng có đó mà như không có đó. Trò đi qua đi lại bên cửa sổ, khi quay ra nhìn ngoài lộ, khi quay vào lượm vài tờ giấy nơi trên bục giảng kê dọc theo chiều dài tấm bảng đen lớn của lớp ở đó đã được viết đầy những hang chữ to: “Cung Chúc Tân Xuân, Bonne année. Meilleur voeux, Happy New Year… you’re never forgotten. “Mấy trò nữ xung phong lên hát, tụi con trai ồn ào vỗ tay phụ họa. “Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi…”  Rồi tất cả thầy trò, trai gái cùng nhau hát vang lên. Họ cùng đón xuân với nhạc sĩ Phạm Đình Chương:

 

Mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi, người thương gia lợi tức, người công nhân ấm no, thoát ly đời gian lao nghèo khó. A A A A… chúc người vui… Ngày máu xương thôi tuôn rơi, ngày ấy quê hương yên vui. Đợi anh về trong chén tình đầy vơi…

 

Họ cùng hát, những ánh mắt long lanh. Mộng đầy tay, xuân ngập lòng. Tình cảm chơi vơi, hân hoan trong tiếng hát vang, rộn rã, tưng bừng muốn bể cả cái trường trung học đầu tiên và bé nhỏ của một quận lỵ ngay giới đầu chiến tuyến.

 

Đến lượt phe nam sinh chẳng ai dám ra hát, đứa nọ đùn đứa kia.

 

– Tụi nó nhát cáy lắm, phá thì như quỉ mà hát hò thì chẳng đứa nào dám lên.

 

– Im đi. Coi kìa, có anh Non già đứng lên, anh Non giơ tay muốn hát. OK. OK.

 

Tết không về chắc em nhắc anh nhiều lắm. Non có nhiều thiện chí góp vui, nhưng hát dở kệch, hát như nói.

 

– Con khỉ chớ ai thèm nhắc nó.

Mọi người cười ngất ngư, Non vẫn tiếp tục hát. Hình như hắn muốn chọc cười mọi người, hát sai nhịp, hát như đọc bài. Cô thầy bạn bè lăn ra cười, cười gấp đôi người, cười chảy cả nước mắt. Hai đứa đàn chợt ngưng đàn để cười. Non trịnh trọng bắt sang câu khác:

 

Ngày đầu xuân chúc non nước thanh bình,

Ngày mùng hai chúc cho lứa đôi mình…

 

– Thôi, chấm dứt đi ông nội. Mầy cứ hát như vậy chắc tụi tao sẽ đau bụng mà chết. Hết ăn Tết vì mầy.

 

Huỳnh Văn Tính đứng lên cản Non. Non ngồi xuống rồi không biết hăng tiết sao đó hắn lại loi choi đứng dậy mặc cho Tính đè hắn ngồi xuống.

 

– Thưa, em đề nghị chị Rí lên ca bài gì “Lau mắt đi em”… của Đỗ Lễ, nghe mùi lắm.

 

Nãy giờ mọi người đã lau mắt quá trời vì thằng Non rồi. Rí khoan thai lên hát “Sang ngang” của Đỗ Lễ. Quả là cô bé học trò nầy có giọng ca tryền cảm. Tiếng ồn ngưng, im bặt trong mười phút. Rồi cũng bị phê bình.

 

\– Mùi, tao thấy có mùi gì đâu?

 

– Mầy nghẹt mũi rồi. Tao có thấy mùi mà là mùi phân bò với mùi rơm khô.

 

– Im mồm ngay. Cái mặt mẹt thằng chệt Đặng Tiểu Bình kia!

 

Bình xếp ve, ngồi im cười cười thì đúng lúc đó Bảnh, trưởng lớp, tác phong vẫn nghiêm trang, đến cô Anh Thơ nhỏ nhẹ thưa:

 

– Dạ, có hai chị Hoa và Nữ lớp 9A2 đi Long Thành mua pháo nãy giờ chưa về.

 

– Ai cho hai em đó đi? Đi hồi nào?

 

– Dạ, nghe mấy chị đi từ sớm mai, trước khi tới trường.

 

Cô Anh Thơ nhìn đồng hồ lo lắng, bóng nắng đã xéo qua thềm. Đầu cô như lùng bùng.

Thềm đầy vỏ hạt dưa đỏ và hoa giấy tròn tròn cắt vụn vung vãi lung tung, làm cô, bước đi chập choạng.

 

– Cô khỏi lo, mấy đứa nó không bị tóm đâu, bị tụi nó có người nhà ở “bển” mà.

 

– Hai chị đó “ngựa “ lắm cô, chiều nào cũng bới tóc ngược lạng xe Honda xém ra tới xa lộ Đại Hàn.

 

– Tụi nó cũng ham tán mấy ông lính trong thành nữa.

 

Cô giơ tay xua lũ nhóc con ra xa đặng trao đổi với trưởng lớp.

 

– Tại sao các em biết ngoài đó có pháo mà ra mua?

 

– Bị ở đây cấm làm vì gần kho đạn, mà ở ngoài đó họ làm lén, bán lén, thưa cô.

 

Cô Thơ ra ngoài hành lang xa hơn, bàn bạc cùng mấy thầy, giữa cái vùng xôi đậu nầy không biết làm sao mà cứu giúp nhau.

 

*

 

Buổi chiều 28 Tết Quý Mùi cùng ngày, cô Anh Thơ đùm đề khăn gói xuống phà về Sài Gòn ăn Tết với gia đình, sau khi đã ăn Tết với học trò. Chỉ còn khoảng nửa giờ thì tàu rời bến. Mấy đứa học trò lớn đã kịp chạy tới hớt hải phi báo:

 

– Cô cô! Hai trò đó bị bắn sẻ ở Tiểu Tòng Lâm hồi xế chiều rồi.

 

– Tiểu Tòng Lâm, Tiểu Tòng Lâm ở đâu? Cô Anh Thơ hốt hoảng.

 

– Dạ ở kế một bên Đại Tòng Lâm

 

– Đại Tòng Lâm?

 

– Dạ, chỗ đó giáp ranh với làng cô nhi Long Thành, chỗ bữa trước trường mình có lần tổ chức lên thăm các em. Ngay ngã ba quẹo về đường đi Bà Rịa.

 

Nhìn mặt đám học trò ngây thơ, sợ sệt và xanh lè, cô biết là chuyện không đùa. Cô không nói, bậm môi bước lên phà. Chuyện riêng tư của thầy trò cô đâu ai biết, ở đây mạng người có lúc nhẹ như cái lá tre. Có đứa học trò nào đó có lúc nói với cô câu đó.

 

Xung quanh vẫn ồn ào tiếng người và sóng nước dập dồn. Còi hụ, tàu rời bến. Cô Anh Thơ vẫy tay từ biệt những học trò nhỏ bé của cô. Chân tay cô lạnh ngắt, ngươi đong đưa tựa con tàu lắc nhịp chòng chành. Cô chóng mặt, mấy bó bông trên tay cô tuột khỏi, va nhẹ đâu đó và bị rơi xuống nước, sóng nước dập dồn…

 

Hoa bông giấy đó.

 

Hoa giấy mà là hoa thật không phải hoa giả đâu cô.

 

Những bông hoa xuân màu đỏ thật là thân thương đang vỡ tan tành, từng cánh từng bông. Trôi bồng bềnh, trôi bồng bềnh, lên xuống, ra xa.

 

Chúc Thanh

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Châu Về Hợp Phổ - đó là câu nói của Bs Nguyễn Đức Tùng, khi ông có nhã ý trao tặng bức tranh khảm xà cừ để chúng tôi đưa về Mẹ tôi. Chúng tôi thoạt đầu rất áy náy nhưng khi hiểu rõ câu nói và tấm chân tình của ông thì hân hạnh và cảm động được làm người nối tiếp cuộc hành trình 50 năm của bức tranh hy hữu. Bên dưới góc phải của bức tranh là tấm bảng nhỏ ghi tên người tặng là Ba tôi, đại tá Nguyễn Ngọc Khôi đang trong chức vụ thị trưởng Đà Nẵng và người nhận là trung tướng Donn J. Robertson, thuộc Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.
Người đáng sợ hơn ma, chỉ có người mới sân hận thù ghét, chỉ có người mới đâm bị thóc thọc bị gạo, dèm pha phỉ báng; cũng chỉ có người mới tham lam tranh đoạt bằng mọi giá và cũng chỉ có người mới chơi đểu, chơi dơ, chơi xấu... Người hại người mới ghê gớm và tàn bạo.
Anh đậu xe trước chung cư, đèn khẩn cấp nhấp nháy đều đặn. Năm phút rưỡi chờ đợi. Những người qua lại nhìn anh. Những cái nhìn tọc mạch, xét nét. Bốn giờ ba mươi sáu phút, bóng em lấp ló ngoài khung cửa. Mắt em dừng lại ở xe anh. Trời lạnh. Em mặc áo da trông ấm cúng lạ thường. Nhưng anh không cảm thấy thèm được ôm chầm lấy em để hơi ấm hai thân thể hòa lẫn trong nhau như thuở trước. Em thong thả bước xuống những bậc thang xi măng ẩm ướt. Một chiếc xe van dừng lại phía sau anh. Những đầu tóc mầu đen rối bù ló ra khung cửa. Rồi những bàn chân da vàng khẳng khiu bước xuống xe, tất tả. Tiếng cười đùa, gọi nhau ơi ới vang cả một góc đường. Em luống cuống mở cửa xe. Em chào anh. Vẫn giọng nói thì thầm như hơi thở độ nào. Anh cố cười thật tươi đáp lại.
Người ta thường ca tụng tình yêu là vật đẹp muốn mầu (Love is a splendid thing). Quả đúng như thế, vì tình yêu đúng nghĩa cao đẹp của nó là bao gồm hành động bác ái, chỉ biết cho đi mà không cần nhận lại, nào là những lời yêu thương ngọt ngào trìu mến chân thật trao cho nhau, phát xuất từ đáy con tim, chứ không phải bằng đầu môi chóp lưỡi, như người ta vẫn thường nghe thấy.
Không lẽ người Việt giờ chỉ mới lên ba sao? Sao cứ phải ạ khan như thế này? Cứ ạ, ạ, ạ vô tội vạ kiểu này chắc chết! Mà đâu chỉ có ạ, còn bao nhiêu từ ngữ khác nữa, hiểu được chết liền! Tâm tư Michael nghĩ mông lung, cũng may buổi diễn vừa đến hồi kết thúc.
Quay ra cửa, thấy Ba tôi, ông y tá chạy thoát bằng cửa sau, bỏ quên bộ đồ tây của Ba tôi. Dòng kỷ niệm buồn của tôi vừa đến đây, tôi chợt nghe tiếng Ba tôi gọi: “Con!” Quay lại, tôi thấy Ba tôi ngồi xuống chiếc ghế cạnh tôi, vừa chỉ theo ba Bố con đang đi trên đường trước nhà tôi vừa nói: -Cậu đó với hai đứa nhỏ làm Ba nhớ thời gian gia đình mình sống ở Sơn Tịnh và Hà Bằng.
- Anh ấy chung tình lắm chị ạ. Em dám cá bây giờ cho một cô gái thật đẹp sống chung trong nhà thì anh ấy vẫn chỉ biết có em thôi. - Thế em đã thử chưa ? - Cần gì phải thử chị ! Lần này thì Nguyệt nghiêm trang nói: - Không thử sao biết người ta thật chung tình với mình ? Dường như hơi bị đuối lý nhưng Nga vẫn chống chế: - Thử thì cũng được nhưng ngộ nhỡ ? - Ngộ nhỡ tức là người ta đâu thực sự chung tình với mình, có phải vậy không ? - Nhưng làm thế nào để thử ?
Tôi thì thầm với hắn chuyện ấy, thêm chút muối, chút mắm rằng tôi có thể nói giùm để mụ chủ thông cảm chuyện viết lách của hắn. Hắn cám ơn tôi và hào hứng nói thêm rằng một giây phút cảm hứng có thể ghi tên nhà văn vào danh sách vĩnh cửu. Rồi hắn lan man qua chuyện ông Gheorghiu nhà văn nào đó ở nước tôi. Hắn say mê nói về những anh nông dân Johan, những mục sư Kuruga, những nhân vật Traian… (không biết tôi viết tên có đúng không) vớ vẩn trong cuốn “Giờ Thứ Hai Mươi Lăm” nào đó mà tôi chưa bao giờ nghe nói đến chứ đừng bàn đến chuyện đã đọc hay chưa. Nhìn hai con mắt rực rỡ tin yêu của hắn, tôi chỉ thấy tội nghiệp, nhưng hắn không hiểu. Hắn hăng hái bảo mỗi lần tạo ra một nhân vật, hắn phải cố sống trọn vẹn tâm trạng nhân vật ấy. Từ kẻ sát nhân, kẻ anh hùng, người thất nghiệp, gã ăn mày, ăn xin, tên sở khanh, người đứng vất vơ đầu đường xó chợ, kẻ trộm, kẻ cướp, tên hãm hiếp phụ nữ… Tất cả những tâm lý nhân vật ấy hắn đều đã tự đọa đày mình để trải qua, để sống thực, để viết cho “sống”
Câu cá là một thú vui tao nhã và nhàn hạ, nhưng chỉ bắt được ít cá chứ không nhiều. Đánh bắt bằng lưới và tàu thuyền thì được nhiều hơn, nhưng phải sắm sửa vật dụng, tàu bè, chắc chắn tốn kém nhiều tiền. Trong cuộc sống, khi đi làm phải chịu nhiều áp lực công việc, nhiều người chọn câu cá như một thú vui xả căng thẳng ở chỗ làm. Tôi chẳng bao giờ sắm cần câu để tự mình đi câu vì tôi không có số “sát cá”. Tôi đã thử mấy lần theo bạn bè đi câu mà chẳng bao giờ câu được con cá nào. Muốn ăn cá, tôi vào chợ “câu” là chắc ăn. Nhưng có 1 lần trong đời tôi chẳng tốn kém gì mà vẫn bắt được rất nhiều cá, cả 5, 6 bao tải cá, ăn không kịp phải phơi khô. Tôi xin kể cho bạn làm thế nào tôi bắt cá được nhiều, nhưng xin bạn đừng bắt chước theo tôi với kiểu nói quen thuộc trên TV bây giờ: “Do not try this at home”. Những ngày còn trong nước, khoảng thời gian năm 1975, 1976, tại ngã ba cây số 67 trên đường đi ra Bà Rịa, Vũng Tàu, có một vùng kinh tế mới tự túc tên là Bầu Cạn. Thời đó cả nước
Mùa Hè đầu thập niên 60, từ Đà Nẵng, chúng tôi mở cuộc “hành phương Nam” vào thành phố Nha Trang. Dũng có người bà con ở dưới Cầu Đá, đã nhiều lần vào Nha Trang, mô tả vùng trời phương xa thật hấp dẫn, ba đứa còn lại được nghe bạn kể nên rất náo nức, được dịp rủ rê nên chớp ngay cơ hội sau vài ngày nghỉ hè. Bốn đứa mang theo hai chiếc xe đạp để tiện việc di chuyển, đáp chuyến xe đò Phi Long từ mờ sáng, đến Nha Trang vào lúc mặt trời lặn.
Những tàng cây ngả nghiêng trong gió. Lá me xanh rải đầy đường. Cơn đói bò lan ra cả ngoài da. Chỉ còn hai tiếng đồng hồ nữa là tới giờ hẹn. Không còn cách nào khác. Hắn đạp xe vòng quanh con phố. Bụng quặn lên ngàn con sóng. Biển động cấp năm trong bao tử và ruột non ruột già. Nhưng cơn đói hùng hổ như thế cũng chẳng thấm thía gì so với nỗi lo âu đầy nanh vuốt của cái việc phải làm. Hắn quẹo gắt vào con hẻm. Tay lái xe vướng vào quang gánh một người đàn bà bán hàng rong. Cú giật ngược làm hắn lao đao và người đàn bà nhùng nhằng sắp ngã. Chén bát xô vào nhau loảng xoảng hai đầu quang gánh. Người đàn bà trợn ngược con mắt.
Sau ngày 30 tháng tư 1975 tôi bị ở tù như mọi người cựu quân nhân Cộng Hòa. Ở tù ra, đói khát, lang thang, tới giai đoạn mà “cái đèn đường có chưn nó cũng muốn kiếm đường mà đi.” Đi khỏi quê hương đất tổ mồ mả ông cha, còn cái gì khổ cho bằng? Vậy mà phải đi. Nhứt định đi. Nếu được tới bến bờ tự do thì nhờ phúc đức ông bà kiếm sống rồi tím cách đem thân nhân còn lại không thì chết cũng lẹ làng hơn là chết đói chết khát tại quê hương. Tù vượt ngục về còn có cái mình không với cái quần xà lỏn. Tiền bạc có đâu???, vàng cây để vượt biên là chuyện ngoài chân mây. May mắn hết sức là tôi liên lạc được thằng bạn đồng ngũ đã qua Mỹ, má nó mua chiếc ghe bầu tính chuyện vượt biên đang cần người lái tàu mà tôi là cựu hải quân ngành Rada truyền tin. Bà cho tôi giữ ghe một năm để chuẩn bị.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.