Hôm nay,  

Ghen giùm

20/09/202212:06:00(Xem: 5580)

Truyện ngắn

chui-nhau

Hồi mới vượt biên vào trại tỵ nạn Thailand, tôi làm thiện nguyện tại văn phòng bưu điện của trại. Cuối giờ trưa hôm ấy vắng khách, nhìn qua cửa sổ thấy chị Ngao và mấy chị cùng lô nhà tôi, đang tụm lại nói chuyện gì đó rất nghiêm trọng, rồi lại nhìn vào phòng bưu điện như có ý chờ đợi ai. Tôi bước ra ngoài, chị Ngao liền tiến tới: –

 

– May quá, em rảnh không, chị nhờ chút chuyện?

 

– Dạ chị cứ nói, nếu trong khả năng em làm liền à.

 

Chị Ngao lưỡng lự:

 

– Không biết em có chịu giúp hay không nữa?

 

– Thì chị nói ra em mới biết chớ.

 

– Vậy em có thấy con Liễu không? Cái con bận bộ đồ hồng mới lãnh thư bưu điện cách đây mấy phút.

 

– À, chị đó em biết, vì hầu như tháng nào chỉ cũng lên lãnh thư bảo đảm, thân nhân gửi tiền đều đặn lắm.

 

– Chồng nó bên Mỹ đó, nó qua đây với thằng con tên Tí, 7 tuổi.

 

– Vậy à? Mà chị tính nhờ em chuyện gì?

 

– Thủng thẳng cái đã, để chị nói cho có đầu có đũa đàng hoàng, em có biết ông Sỹ không? Cái ông không đi lính ngày nào nhưng khoái bận quần rằn ri và nổ banh cái nhà lồng, là đại uý Việt Nam Cộng Hoà đó.

 

Tôi liền ngắt lời:

 

– Khoan khoan, sao chị biết người ta không đi lính mà nói chắc như bắp vậy?

Chị Ngao trề môi:

 

– Xời ơi, trại tỵ nạn mà, đừng tưởng dễ qua mắt thiên hạ. Quá khứ ở Việt Nam ra sao cũng có người này người kia biết hết trơn.

 

Tôi đùa:

 

– Chị hay thiệt. Bao nhiêu chuyện đời thập phương tứ phía là phải qua cái “đài phát thanh quán chè”của nhà chị hen?

 

Chị Ngao nheo mắt:

 

– Còn nhiều bí mật động trời của nhiều người nữa, bữa nào rảnh chị kể cho em nghe. Mà nãy giờ mình nói tới đâu rồi?

 

– Tới chỗ ông Sỹ khoái mặc quần rằn ri, mà có liên quan gì tới chị Liễu hả chị?

 

– Có chớ sao không, họ cặp bồ với nhau, nên bây giờ mới có chuyện cần em giúp nè.

 

Rồi chị Ngao mỉm cười, bí hiểm:

 

– Chỉ có em mới giúp được thôi nhe. Lần tới con Liễu lên lãnh thư, em ráng chép lại cái địa chỉ thằng chồng nó cho chị, được hôn?

 

– Trời đất! Em không dám đâu. Mà chị cần để làm gì?

 

– Vì chị muốn viết thư cho thằng chồng, cho nó biết nó đang bị con vợ nó cắm sừng!

 

– Mà chị có bà con gì với họ không? Chị lấy tư cách gì mà viết thư?

 

Chị Ngao ú ớ:

 

– Ờ… tư cách người chung trại!

 

– Theo em nghĩ, mình là người ngoài cuộc, nào biết bên trong thực sự ông Sỹ và chị Liễu ra sao?

Chị Ngao hậm hực:

 

– Nhưng ngứa mắt lắm, lần nào lãnh tiền cũng nấu nướng ăn uống rộn ràng, thấy ghét!

 

Tôi nhận thấy trong lời nói là sự ganh ghét của phụ nữ thường tình. Chị Ngao qua đây với chồng và hai đứa con, không có thân nhân nước ngoài viện trợ nên mở quán chè trong trại buôn bán qua ngày, thành ra thấy chị Liễu lãnh tiền đều đều nên… không vui.

 

Tôi tiếp:

 

– Chị nghĩ xem, chị qua đây có chồng lo các việc nặng nhọc, còn chị Liễu một thân một mình, con thì nhỏ, nên đôi lúc cần người giúp các việc chân tay.

 

Chị Ngao có vẻ hơi cảm động, tôi cười cười:

 

– Em bảo đảm nếu chị đi vượt biên một mình, với bản tính vui vẻ tốt bụng, chắc chắn cũng có mấy ông bám theo, biết đâu chị cũng xiêu lòng rồi á. Nói nhỏ nhe, em thấy ông Thừa lô đối diện hay ngắm chị đứng múc chè cho khách lắm đó, hèn chi ổng đến quán chị hoài.

 

Chị Ngao mắc cở, đấm vai tôi:

 

– Quỷ sứ! Vậy mà cũng giỡn được hà…

 

– Thiệt chứ giỡn gì. Tóm lại mình không cổ vũ chuyện tình ngoài vợ ngoài chồng, nhưng trại tỵ nạn phức tạp quá. Hơn nữa, nếu chị nhúng tay vào, biết đâu gia đình chị Liễu sẽ tan nát, mà chị là Phật tử đi chùa mỗi ngày, ai lại gây nghiệp xấu như vậy, đúng hôn?

 

Chị Ngao coi vậy mà dễ dụ, liền gật gù rồi vẫy mấy chị kia lại:

 

– Thôi về bay ơi, bỏ luôn “plan B” nha.

 

Tôi thắc mắc:

 

– Plan B là gì nữa đây?

 

Chị Ngao thú nhận:

 

– Chẳng giấu gì em, tụi chị tính nếu em không giúp thì tụi chị sẽ rình buổi tối, lúc con Liễu dẫn thằng Tí đi chùa, tụi chị sẽ đột nhập vô nhà nó ăn cắp thư.

 

– Cái đó càng không được nghen! Chị Liễu bắt gặp, thưa lên Cộng Đồng là coi như mấy chị vào ăn cơm tù.

 

Rồi trại có biến động, biểu tình, thời gian sau đó là chuyển trại lên Sikiew. Một buổi chiều, tôi gặp lại chị Ngao. Hai chị em mừng rỡ kể nhau nghe tình hình chuẩn bị thanh lọc. Tôi chợt nhớ chị Liễu và hỏi thăm, chị Ngao lắc đầu:

 

– Kết cục buồn lắm em ơi.

 

– Có chuyện gì xảy ra hở chị?

 

Chị Ngao thở dài:

 

– Vợ ông Sỹ ở Việt Nam bị xe đụng chết, ổng chưa có kết quả thanh lọc nhưng vẫn quyết định ghi danh hồi hương về Việt Nam an ủi và chăm sóc mấy đứa con mồ côi.

 

– Em cũng thấy tội cho ông Sỹ, và mừng vì ổng là một người cha có tình thương với con cái. Còn chị Liễu, đã sẵn sàng giấy tờ thanh lọc chờ ngày đoàn tụ chồng chưa?

 

Chị Ngao xua tay, lắc đầu:

 

– Nếu được vậy thì nói làm chi nữa.

 

– Chị nói vậy là sao? Có gì chị nói ra hết một lần cho em nghe, chớ đừng nhỏ giọt úp úp mở mở, nóng ruột bắt mệt.

 

– Thì em cứ nhảy vào họng chị liền liền, có cho chị nói đâu nà! Mới tuần trước, chồng con Liễu gửi thư qua thú tội, hồi mới đến Mỹ, cũng vì cô đơn xứ người mà có người đàn bà khác, có một thằng con trai với nhau rồi. Khi con Liễu và thằng Tí tới trại, ổng âm thầm làm giấy bảo lãnh, gửi thư gửi tiền hàng tháng. Nào ngờ con mụ kia mới phát hiện ra, ghen ngược, không cho liên lạc và huỷ luôn giấy tờ bảo lãnh.

 

– Có chuyện đó nữa à?

 

– Thì bởi! Con Liễu khóc hết nước mắt, rầu thúi ruột. Tiền bạc không có thì cơm Cao Uỷ nuôi cũng đủ no, nhưng cái vụ giấy tờ gãy gánh, sợ nó bị rớt thanh lọc, u ám lắm.

 

– Chị về khuyên chị Liễu đừng thất vọng. Khi đi thanh lọc, cứ mang hết hôn thú, thơ từ hình ảnh gia đình, giấy bảo lãnh, cũng như lá thư cuối cùng thú tội, nói chung là “có sao khai vậy người ơi”, em tin rằng chị Liễu sẽ đậu thanh lọc vì chính sách nhân đạo.

 

Chị Ngao mừng rỡ:

 

– Em nghĩ là có hy vọng sao?

 

– Đúng vậy, dù gì thì còn thằng con, nó phải đoàn tụ ba nó, người ta nhân đạo mà chị.

– Ừ, để chị lựa lời an ủi cho con Liễu lên tinh thần.

 

Tôi tính bước đi, chị Ngao bỗng níu tay tôi:

 

– Kỳ này dứt khoát chị phải kêu con Liễu đưa địa chỉ chồng nó cho chị đó nghen.

Tôi nhăn mặt:

 

– Chi nữa?

 

Chị Ngao mỉm cười, đắc thắng:

 

– Để chị viết thư chửi cái con đờn bà cướp chồng kia một trận, em đừng có cản nha!

 

Thời gian trôi qua thật mau, mới đây đã gần ba mươi năm. Tôi vừa liên lạc được với chị Ngao trên Facebook, và bất ngờ hơn là chị đang ở chung thành phố Everett tiểu bang Washington với chị Liễu. Chị mở màn cuộc nói phone với giọng hồ hởi:

 

– Vui lắm em ơi! Thực ra hồi đó thằng chồng con Liễu sau khi gửi lá thư thú tội, đã kiên quyết tranh đấu với vợ mới, tiếp tục gửi tiền tiếp tế và giấy cam kết bảo trợ thằng Tí, nên hai mẹ con nó được đậu thanh lọc qua Mỹ. Rồi ổng ra điều kiện với vợ mới, là ổng phải có trách nhiệm lo cho thằng Tí ăn học thành tài, nên kêu con Liễu dọn về Everett này, cách nhà ổng bên Seattle nửa tiếng lái xe. Còn gia đình chị ban đầu qua định cư ở Arizona, rồi con Liễu kéo lên đây cùng mở tiệm Nails cho tới giờ.

 

– Vậy thì quá vui rồi, còn chị Liễu thì sao, có lập gia đình khác không?

 

– Thì cũng phải có chớ. Chồng mới của Liễu hiền lành, làm công nhân trong hãng máy bay Boeing cũng khá, hai vợ chồng có đứa con gái, đang học lớp 12. Còn thằng Tí, giờ đã trên ba mươi, sau khi ra trường nghành Tâm Lý, đang làm cho nhà thương quân đội chính phủ liên bang Mỹ, sắp cưới vợ.

 

– Đúng là một kết thúc có hậu, như trong phim.

 

– Chị chưa nói xong thân bài mà em đã kết luận là sao?

 

– Ủa, còn nữa hở chị?

 

– Sao không?! Vài tháng trước, ông chồng cũ của con Liễu bất ngờ bị stroke khi bà vợ đi Việt Nam lo tang cha chưa kịp về, một tay con Liễu chăm lo cho ổng ở bệnh viện, cũng may là ổng mau chóng bình phục. Khi bà vợ về tới, ổng họp mặt “gia đình”, đầy đủ vợ cũ vợ mới, con trước con sau, một lần nữa dốc hết tâm tư ruột gan. Rằng vì hoàn cảnh đất nước, chúng ta chạy trốn cộng sản liều thân vượt biển tìm đất mới tự do. Từ đó xảy ra chia lìa, cách ngăn, và ổng đã yếu lòng mà làm tổn thương hai người phụ nữ và hai đứa con máu mủ. Nhờ ơn trên, nhờ nước Mỹ cưu mang, mọi người đã vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống, có những thành công cũng như lòng bao dung như ngày nay. Ổng đã bàn bạc với vợ, để di chúc chia đều cho thằng Tí và thằng em cùng cha khác mẹ của nó số tiền trong 401K của ông hơn tám trăm ngàn dollars (tiền ổng dành dụm mấy chục năm làm kỹ sư hãng Microsoft). Căn duplex ở Everett đang cho thuê, cũng chia cho hai thằng con. Hai vợ chồng ổng chỉ giữ lại căn nhà đang ở tại Seattle, khi về hưu dưỡng già cùng một số tiền khác trong ngân hàng.

 

– Wow!! Chị cho em kết luận được chưa nà? Ba thằng Tí thiệt là người đàn ông có lương tâm đạo đức, thương con hết mình và đoạn kết câu chuyện đẹp hơn mơ ước. Coi như bấy lâu nay chị thất nghiệp hen?

 

Chị Ngao thắc mắc:

 

– Em nói gì chị không hiểu? Gia đình chị từ trại qua đây chỉ ăn welfare và food stamps một hai năm đầu, rồi cùng Liễu mở tiệm nails, bây giờ tách ra riêng, mỗi người làm chủ hai tiệm, chưa bao giờ ế khách, ngoại trừ thời gian tránh dịch Covid, sao gọi là thất nghiệp?

 

Tôi cười lớn:

 

– Ý của em là hai gia đình cũ, mới của chị Liễu đều hạnh phúc ấm êm, không xào xáo, nên chị mất cái job “ghen giùm” như hồi ở trại á.

 

Chị Ngao hiểu ra, trước khi cúp phone còn kịp quở tôi:

 

– Quỷ sứ! Lúc nào cũng giỡn được à!!

 

Kim Loan

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Mùa Hè đầu thập niên 60, từ Đà Nẵng, chúng tôi mở cuộc “hành phương Nam” vào thành phố Nha Trang. Dũng có người bà con ở dưới Cầu Đá, đã nhiều lần vào Nha Trang, mô tả vùng trời phương xa thật hấp dẫn, ba đứa còn lại được nghe bạn kể nên rất náo nức, được dịp rủ rê nên chớp ngay cơ hội sau vài ngày nghỉ hè. Bốn đứa mang theo hai chiếc xe đạp để tiện việc di chuyển, đáp chuyến xe đò Phi Long từ mờ sáng, đến Nha Trang vào lúc mặt trời lặn.
Những tàng cây ngả nghiêng trong gió. Lá me xanh rải đầy đường. Cơn đói bò lan ra cả ngoài da. Chỉ còn hai tiếng đồng hồ nữa là tới giờ hẹn. Không còn cách nào khác. Hắn đạp xe vòng quanh con phố. Bụng quặn lên ngàn con sóng. Biển động cấp năm trong bao tử và ruột non ruột già. Nhưng cơn đói hùng hổ như thế cũng chẳng thấm thía gì so với nỗi lo âu đầy nanh vuốt của cái việc phải làm. Hắn quẹo gắt vào con hẻm. Tay lái xe vướng vào quang gánh một người đàn bà bán hàng rong. Cú giật ngược làm hắn lao đao và người đàn bà nhùng nhằng sắp ngã. Chén bát xô vào nhau loảng xoảng hai đầu quang gánh. Người đàn bà trợn ngược con mắt.
Sau ngày 30 tháng tư 1975 tôi bị ở tù như mọi người cựu quân nhân Cộng Hòa. Ở tù ra, đói khát, lang thang, tới giai đoạn mà “cái đèn đường có chưn nó cũng muốn kiếm đường mà đi.” Đi khỏi quê hương đất tổ mồ mả ông cha, còn cái gì khổ cho bằng? Vậy mà phải đi. Nhứt định đi. Nếu được tới bến bờ tự do thì nhờ phúc đức ông bà kiếm sống rồi tím cách đem thân nhân còn lại không thì chết cũng lẹ làng hơn là chết đói chết khát tại quê hương. Tù vượt ngục về còn có cái mình không với cái quần xà lỏn. Tiền bạc có đâu???, vàng cây để vượt biên là chuyện ngoài chân mây. May mắn hết sức là tôi liên lạc được thằng bạn đồng ngũ đã qua Mỹ, má nó mua chiếc ghe bầu tính chuyện vượt biên đang cần người lái tàu mà tôi là cựu hải quân ngành Rada truyền tin. Bà cho tôi giữ ghe một năm để chuẩn bị.
Chủ Nhật mùng 9 vừa qua của tháng 5 này là Ngày Hiền Mẫu (Mother’s Day) tại Hoa Kỳ, để cho tất cả con cái có dịp đặc biệt tỏ lòng thành kính tri ân người Mẹ qua nhiều hình thức khác nhau, đã phải cực nhọc hy sinh mọi gian khổ để nuôi dưỡng con khôn lớn, ăn học thành tài và sống tự lập ngoài xã hội. Nói riêng về Đạo Công Giáo, trong suốt tháng 5 này gọi là tháng Dâng Hoa Đức Mẹ của tất cả các tín đồ người Công Giáo Việt Nam trên hoàn vũ, bầy tỏ lòng kính mến và tôn vương Thánh Nữ Đức Mẹ Đồng Trinh Maria là Mẹ Thiên Chúa.
Ông già đứng chờ ở chỗ thiên hạ trả xe đẩy hàng, cạnh cửa ra vào tiệm thực phẩm Á Châu. Ông cụ mong ngóng từ tâm của khách hàng. Và con mắt ông cụ sáng lên khi người thanh niên đẩy chiếc xe lại chỗ trả. Anh ta gài sợi dây từ chiếc xe trước vào xe mình để đồng tiền cắc một đồng lọt ra. Ông già chớp vội hai mắt chờ đợi. Người thanh niên cầm đồng xu và ném về phía ông già. Ông già nhanh miệng cảm ơn và đưa tay đón bắt, nhưng hụt, và đồng tiền lăn tròn trên nền xi măng, phía dưới những chiếc xe đẩy cho khách dùng chất đồ mua trong tiệm.
Theo lệ thường thì Elite Nguyen thức giấc lúc bảy giờ sáng vào mỗi cuối tuần, riêng tuần này thì dậy sớm hơn, sau khi vệ sinh cá nhân thì Elite công phu buổi sáng. Mỗi thời công phu của Elite chỉ chừng hơn một tiếng đồng hồ, có khi thì niệm Phật, tụng kinh hoặc ngồi quán hơi thở. Elite đã có lần cảm nhận sự an lạc tuyệt vời, cái an lạc từ nội tâm làm khoan khoái lan tỏa khắp thân và có cảm giác như bay bổng như làn mây. Cũng có đôi khi đang niệm Phật, Elite thấy thân mình phình to ngang trời đất, nhìn xuống thấy sơn hà đại địa nhỏ xíu như cái sa bàn, những giây phút ấy rất ngắn nhưng đủ để cảm thấy lạ thường. Elite cũng tự cảnh tỉnh mình, đó chỉ là cảm giác huyễn hoặc, dù có hỷ lạc nhưng không chấp vào cái cảm giác ấy. Sáng chủ nhật tuần này cũng thế, sau khi công phu thì Elite ra vườn tưới hoa và ngắm hoa, khu vườn nhỏ nhưng đủ các loại hoa cho bốn mùa, nào là: Pansy, tulip, dạ lý hương, dã yên, cẩm tú cầu, lyli...
Ngày còn là sinh viên Đại học U.C. Berkeley, trưa thứ Sáu nắng đẹp anh em trong ban chấp hành Hội Sinh viên Việt Nam thường đem bàn, ghế ra ngồi ngoài Sproul Plaza để quảng bá sinh hoạt, tạo cơ hội cho các bạn ghé thăm nhau, chia sẻ buồn vui hay tán gẫu sau một tuần học hành căng thẳng. Những buổi trưa như thế, tôi đi loanh quanh dưới hàng cây xanh rợp bóng mát, chụp vài pô hình, ghé vào bàn của các hội đoàn sinh viên khác xem có những hoạt động gì.
Đến đây, tôi nghĩ, có vị sẽ nghĩ rằng chiến tranh đã chấm dứt từ lâu rồi, khơi dậy làm chi nữa! Xin thưa, cứu đói Thương Binh V.N.C.H. trong lúc này không phải là khơi dậy những đau thương của cuộc chiến mà chính là quý vị đang xoa dịu nỗi đau/đang hàn gắn phần nào những tan tác/đang chia xẻ phần nào những tệ hại còn sót lại sau cuộc chiến.
Cô thường kể cho hắn nghe về vùng biển ấm nơi cô đang ở. Giọng cô mời mọc, “Có dịp nào đó, anh qua đây chơi. Đêm trăng sáng em sẽ dẫn anh ra biển nghe sóng vỗ rì rào. Em sẽ dẫn anh đi tìm những con ốc biển thường bò lăng quăng trên bãi. Em sẽ chỉ cho anh coi những con dã tràng loay hoay se cát. Em sẽ chỉ cho anh coi những vết cắt san hô dưới bàn chân rướm máu. Bữa trước, em đuổi bắt một con hải âu anh biết không. Con chim dạn không tưởng tượng được. Nó chờ em lại thật gần rồi mới vỗ cánh bay đi. Có lần em chạm cả vào bộ lông trơn mượt. Con chim dụ em chạy vòng quanh trên bãi mãi tới khi em ngã nhào vào con sóng. Lúc ấy, nó mới vỡ ra những tiếng kêu thích thú. Đám du khách nhìn em cười ngặt nghẹo. Em xấu hổ quá thôi...”
Là người dân của Mỹ cũng may mắn như được làm con nhà giàu. Nếu được làm con nhà giàu thì phải biết mở lòng để giúp những người kém may mắn. Chúng tôi vẫn luôn nhớ, và thực hành điều này như lời dạy của các đấng sinh thành trong các bữa cơm thời thơ dại, như lời dạy của các thầy cô môn Công Dân giáo dục thời còn cắp sách.
Đời nhà Lý, các sư Pháp Thuận, Vạn Hạnh… cũng vì nước mà tham gia chính sự, ra tay hộ quốc, an định thế nước, từ ấy quốc thạnh dân an, đạo pháp xương long. Đời Trần có nhiều bậc long tượng thiền môn hết lòng hộ quốc như: Pháp Loa, Huyền Quang… Các vua Thái Tổ, thánh Tông, Nhân Tông… đều là thiền sư kiệt xuất cả, nhưng khi sơn hà xã tắc lâm nguy thì các ngài tạm gác Phật sự để ra tay hộ quốc, hộ dân, âu đó cũng là độ sanh giác chúng!
Ai đâu có ngờ mùa tan trường năm 1975 là mùa chia tay vĩnh viễn các thầy, các cô, các bạn hoc trò nam nữ. Họ ra đi muôn phương, mất hút trong màu khói lửa. Còn đâu hình ảnh thân kính các Thầy, các Cô, hình ảnh thân thương của các cô cậu hoc trò trường Duy Tân, Bồ Đề, Phan Rang năm nào...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.