Hôm nay,  

Ghen giùm

20/09/202212:06:00(Xem: 4935)

Truyện ngắn

chui-nhau

Hồi mới vượt biên vào trại tỵ nạn Thailand, tôi làm thiện nguyện tại văn phòng bưu điện của trại. Cuối giờ trưa hôm ấy vắng khách, nhìn qua cửa sổ thấy chị Ngao và mấy chị cùng lô nhà tôi, đang tụm lại nói chuyện gì đó rất nghiêm trọng, rồi lại nhìn vào phòng bưu điện như có ý chờ đợi ai. Tôi bước ra ngoài, chị Ngao liền tiến tới: –

 

– May quá, em rảnh không, chị nhờ chút chuyện?

 

– Dạ chị cứ nói, nếu trong khả năng em làm liền à.

 

Chị Ngao lưỡng lự:

 

– Không biết em có chịu giúp hay không nữa?

 

– Thì chị nói ra em mới biết chớ.

 

– Vậy em có thấy con Liễu không? Cái con bận bộ đồ hồng mới lãnh thư bưu điện cách đây mấy phút.

 

– À, chị đó em biết, vì hầu như tháng nào chỉ cũng lên lãnh thư bảo đảm, thân nhân gửi tiền đều đặn lắm.

 

– Chồng nó bên Mỹ đó, nó qua đây với thằng con tên Tí, 7 tuổi.

 

– Vậy à? Mà chị tính nhờ em chuyện gì?

 

– Thủng thẳng cái đã, để chị nói cho có đầu có đũa đàng hoàng, em có biết ông Sỹ không? Cái ông không đi lính ngày nào nhưng khoái bận quần rằn ri và nổ banh cái nhà lồng, là đại uý Việt Nam Cộng Hoà đó.

 

Tôi liền ngắt lời:

 

– Khoan khoan, sao chị biết người ta không đi lính mà nói chắc như bắp vậy?

Chị Ngao trề môi:

 

– Xời ơi, trại tỵ nạn mà, đừng tưởng dễ qua mắt thiên hạ. Quá khứ ở Việt Nam ra sao cũng có người này người kia biết hết trơn.

 

Tôi đùa:

 

– Chị hay thiệt. Bao nhiêu chuyện đời thập phương tứ phía là phải qua cái “đài phát thanh quán chè”của nhà chị hen?

 

Chị Ngao nheo mắt:

 

– Còn nhiều bí mật động trời của nhiều người nữa, bữa nào rảnh chị kể cho em nghe. Mà nãy giờ mình nói tới đâu rồi?

 

– Tới chỗ ông Sỹ khoái mặc quần rằn ri, mà có liên quan gì tới chị Liễu hả chị?

 

– Có chớ sao không, họ cặp bồ với nhau, nên bây giờ mới có chuyện cần em giúp nè.

 

Rồi chị Ngao mỉm cười, bí hiểm:

 

– Chỉ có em mới giúp được thôi nhe. Lần tới con Liễu lên lãnh thư, em ráng chép lại cái địa chỉ thằng chồng nó cho chị, được hôn?

 

– Trời đất! Em không dám đâu. Mà chị cần để làm gì?

 

– Vì chị muốn viết thư cho thằng chồng, cho nó biết nó đang bị con vợ nó cắm sừng!

 

– Mà chị có bà con gì với họ không? Chị lấy tư cách gì mà viết thư?

 

Chị Ngao ú ớ:

 

– Ờ… tư cách người chung trại!

 

– Theo em nghĩ, mình là người ngoài cuộc, nào biết bên trong thực sự ông Sỹ và chị Liễu ra sao?

Chị Ngao hậm hực:

 

– Nhưng ngứa mắt lắm, lần nào lãnh tiền cũng nấu nướng ăn uống rộn ràng, thấy ghét!

 

Tôi nhận thấy trong lời nói là sự ganh ghét của phụ nữ thường tình. Chị Ngao qua đây với chồng và hai đứa con, không có thân nhân nước ngoài viện trợ nên mở quán chè trong trại buôn bán qua ngày, thành ra thấy chị Liễu lãnh tiền đều đều nên… không vui.

 

Tôi tiếp:

 

– Chị nghĩ xem, chị qua đây có chồng lo các việc nặng nhọc, còn chị Liễu một thân một mình, con thì nhỏ, nên đôi lúc cần người giúp các việc chân tay.

 

Chị Ngao có vẻ hơi cảm động, tôi cười cười:

 

– Em bảo đảm nếu chị đi vượt biên một mình, với bản tính vui vẻ tốt bụng, chắc chắn cũng có mấy ông bám theo, biết đâu chị cũng xiêu lòng rồi á. Nói nhỏ nhe, em thấy ông Thừa lô đối diện hay ngắm chị đứng múc chè cho khách lắm đó, hèn chi ổng đến quán chị hoài.

 

Chị Ngao mắc cở, đấm vai tôi:

 

– Quỷ sứ! Vậy mà cũng giỡn được hà…

 

– Thiệt chứ giỡn gì. Tóm lại mình không cổ vũ chuyện tình ngoài vợ ngoài chồng, nhưng trại tỵ nạn phức tạp quá. Hơn nữa, nếu chị nhúng tay vào, biết đâu gia đình chị Liễu sẽ tan nát, mà chị là Phật tử đi chùa mỗi ngày, ai lại gây nghiệp xấu như vậy, đúng hôn?

 

Chị Ngao coi vậy mà dễ dụ, liền gật gù rồi vẫy mấy chị kia lại:

 

– Thôi về bay ơi, bỏ luôn “plan B” nha.

 

Tôi thắc mắc:

 

– Plan B là gì nữa đây?

 

Chị Ngao thú nhận:

 

– Chẳng giấu gì em, tụi chị tính nếu em không giúp thì tụi chị sẽ rình buổi tối, lúc con Liễu dẫn thằng Tí đi chùa, tụi chị sẽ đột nhập vô nhà nó ăn cắp thư.

 

– Cái đó càng không được nghen! Chị Liễu bắt gặp, thưa lên Cộng Đồng là coi như mấy chị vào ăn cơm tù.

 

Rồi trại có biến động, biểu tình, thời gian sau đó là chuyển trại lên Sikiew. Một buổi chiều, tôi gặp lại chị Ngao. Hai chị em mừng rỡ kể nhau nghe tình hình chuẩn bị thanh lọc. Tôi chợt nhớ chị Liễu và hỏi thăm, chị Ngao lắc đầu:

 

– Kết cục buồn lắm em ơi.

 

– Có chuyện gì xảy ra hở chị?

 

Chị Ngao thở dài:

 

– Vợ ông Sỹ ở Việt Nam bị xe đụng chết, ổng chưa có kết quả thanh lọc nhưng vẫn quyết định ghi danh hồi hương về Việt Nam an ủi và chăm sóc mấy đứa con mồ côi.

 

– Em cũng thấy tội cho ông Sỹ, và mừng vì ổng là một người cha có tình thương với con cái. Còn chị Liễu, đã sẵn sàng giấy tờ thanh lọc chờ ngày đoàn tụ chồng chưa?

 

Chị Ngao xua tay, lắc đầu:

 

– Nếu được vậy thì nói làm chi nữa.

 

– Chị nói vậy là sao? Có gì chị nói ra hết một lần cho em nghe, chớ đừng nhỏ giọt úp úp mở mở, nóng ruột bắt mệt.

 

– Thì em cứ nhảy vào họng chị liền liền, có cho chị nói đâu nà! Mới tuần trước, chồng con Liễu gửi thư qua thú tội, hồi mới đến Mỹ, cũng vì cô đơn xứ người mà có người đàn bà khác, có một thằng con trai với nhau rồi. Khi con Liễu và thằng Tí tới trại, ổng âm thầm làm giấy bảo lãnh, gửi thư gửi tiền hàng tháng. Nào ngờ con mụ kia mới phát hiện ra, ghen ngược, không cho liên lạc và huỷ luôn giấy tờ bảo lãnh.

 

– Có chuyện đó nữa à?

 

– Thì bởi! Con Liễu khóc hết nước mắt, rầu thúi ruột. Tiền bạc không có thì cơm Cao Uỷ nuôi cũng đủ no, nhưng cái vụ giấy tờ gãy gánh, sợ nó bị rớt thanh lọc, u ám lắm.

 

– Chị về khuyên chị Liễu đừng thất vọng. Khi đi thanh lọc, cứ mang hết hôn thú, thơ từ hình ảnh gia đình, giấy bảo lãnh, cũng như lá thư cuối cùng thú tội, nói chung là “có sao khai vậy người ơi”, em tin rằng chị Liễu sẽ đậu thanh lọc vì chính sách nhân đạo.

 

Chị Ngao mừng rỡ:

 

– Em nghĩ là có hy vọng sao?

 

– Đúng vậy, dù gì thì còn thằng con, nó phải đoàn tụ ba nó, người ta nhân đạo mà chị.

– Ừ, để chị lựa lời an ủi cho con Liễu lên tinh thần.

 

Tôi tính bước đi, chị Ngao bỗng níu tay tôi:

 

– Kỳ này dứt khoát chị phải kêu con Liễu đưa địa chỉ chồng nó cho chị đó nghen.

Tôi nhăn mặt:

 

– Chi nữa?

 

Chị Ngao mỉm cười, đắc thắng:

 

– Để chị viết thư chửi cái con đờn bà cướp chồng kia một trận, em đừng có cản nha!

 

Thời gian trôi qua thật mau, mới đây đã gần ba mươi năm. Tôi vừa liên lạc được với chị Ngao trên Facebook, và bất ngờ hơn là chị đang ở chung thành phố Everett tiểu bang Washington với chị Liễu. Chị mở màn cuộc nói phone với giọng hồ hởi:

 

– Vui lắm em ơi! Thực ra hồi đó thằng chồng con Liễu sau khi gửi lá thư thú tội, đã kiên quyết tranh đấu với vợ mới, tiếp tục gửi tiền tiếp tế và giấy cam kết bảo trợ thằng Tí, nên hai mẹ con nó được đậu thanh lọc qua Mỹ. Rồi ổng ra điều kiện với vợ mới, là ổng phải có trách nhiệm lo cho thằng Tí ăn học thành tài, nên kêu con Liễu dọn về Everett này, cách nhà ổng bên Seattle nửa tiếng lái xe. Còn gia đình chị ban đầu qua định cư ở Arizona, rồi con Liễu kéo lên đây cùng mở tiệm Nails cho tới giờ.

 

– Vậy thì quá vui rồi, còn chị Liễu thì sao, có lập gia đình khác không?

 

– Thì cũng phải có chớ. Chồng mới của Liễu hiền lành, làm công nhân trong hãng máy bay Boeing cũng khá, hai vợ chồng có đứa con gái, đang học lớp 12. Còn thằng Tí, giờ đã trên ba mươi, sau khi ra trường nghành Tâm Lý, đang làm cho nhà thương quân đội chính phủ liên bang Mỹ, sắp cưới vợ.

 

– Đúng là một kết thúc có hậu, như trong phim.

 

– Chị chưa nói xong thân bài mà em đã kết luận là sao?

 

– Ủa, còn nữa hở chị?

 

– Sao không?! Vài tháng trước, ông chồng cũ của con Liễu bất ngờ bị stroke khi bà vợ đi Việt Nam lo tang cha chưa kịp về, một tay con Liễu chăm lo cho ổng ở bệnh viện, cũng may là ổng mau chóng bình phục. Khi bà vợ về tới, ổng họp mặt “gia đình”, đầy đủ vợ cũ vợ mới, con trước con sau, một lần nữa dốc hết tâm tư ruột gan. Rằng vì hoàn cảnh đất nước, chúng ta chạy trốn cộng sản liều thân vượt biển tìm đất mới tự do. Từ đó xảy ra chia lìa, cách ngăn, và ổng đã yếu lòng mà làm tổn thương hai người phụ nữ và hai đứa con máu mủ. Nhờ ơn trên, nhờ nước Mỹ cưu mang, mọi người đã vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống, có những thành công cũng như lòng bao dung như ngày nay. Ổng đã bàn bạc với vợ, để di chúc chia đều cho thằng Tí và thằng em cùng cha khác mẹ của nó số tiền trong 401K của ông hơn tám trăm ngàn dollars (tiền ổng dành dụm mấy chục năm làm kỹ sư hãng Microsoft). Căn duplex ở Everett đang cho thuê, cũng chia cho hai thằng con. Hai vợ chồng ổng chỉ giữ lại căn nhà đang ở tại Seattle, khi về hưu dưỡng già cùng một số tiền khác trong ngân hàng.

 

– Wow!! Chị cho em kết luận được chưa nà? Ba thằng Tí thiệt là người đàn ông có lương tâm đạo đức, thương con hết mình và đoạn kết câu chuyện đẹp hơn mơ ước. Coi như bấy lâu nay chị thất nghiệp hen?

 

Chị Ngao thắc mắc:

 

– Em nói gì chị không hiểu? Gia đình chị từ trại qua đây chỉ ăn welfare và food stamps một hai năm đầu, rồi cùng Liễu mở tiệm nails, bây giờ tách ra riêng, mỗi người làm chủ hai tiệm, chưa bao giờ ế khách, ngoại trừ thời gian tránh dịch Covid, sao gọi là thất nghiệp?

 

Tôi cười lớn:

 

– Ý của em là hai gia đình cũ, mới của chị Liễu đều hạnh phúc ấm êm, không xào xáo, nên chị mất cái job “ghen giùm” như hồi ở trại á.

 

Chị Ngao hiểu ra, trước khi cúp phone còn kịp quở tôi:

 

– Quỷ sứ! Lúc nào cũng giỡn được à!!

 

Kim Loan

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hồng cung trang hoàng rực rỡ, cờ xí đỏ lòm, khẩu hiệu toàn lời lẽ đao to búa lớn bừng bừng khí thế cứ như thể sắp nhuộm đỏ cả thế gian này. Tập xếnh xáng bước lên đài, vẻ mặt hí hửng đầy vẻ dương dương tự đắc, đôi mắt ti hí lóe lên tia sáng thép lạnh gáy bất cứ kẻ nào vô tình nhìn thấy, đôi má chảy xệ, môi mỏng mím lại. Y mặc bộ đồ đại cán, cài kín nút cổ, kiểu cách điệu bộ y hệt mấy xếnh xáng tiền bối. Y đảo mắt một lượt rồi xìa hai tay nắm chặt ra phía trước để chào quan khách:
Một bài Ký của tác giả Lương nguyên Hiền viếng thăm xứ Myanmar, đất nước của chùa tháp.
Cứ mỗi lần nhớ tới Đức Đạt Lai Lạt Ma là tôi nhớ về thầy Nhất Hạnh vì có lẽ cả hai vị này có cùng quan điểm về hạnh phúc. Hạnh phúc của con người, không chỉ là con người của tôn giáo mà là hạnh phúc của con người nói chung, con người trong toàn thế giới bao la. Hai vị đó tu hành như là để đi tìm giải pháp mưu cầu hạnh phúc cho tha nhân hơn là chỉ để thành các vị Bồ Tát thuần nghĩa (Nói Với Tuổi Đôi Mươi).
"Dù sao, mọi ý kiến đối chọi, bàn thảo trái chiều, nếu giữ được phần nào lịch sự với nhau, đều có thể là điều tích cực nếu được coi là dịp để kiểm lại mức hiểu biết của mình và học cách suy luận dựa trên dữ kiện vững chắc. Quan trọng là người Việt ở hải ngoại đừng xa rời cuộc sống thực tế của người dân trong nước, nếu nói rằng còn muốn góp phần xây dựng tự do, no ấm cho Việt Nam". -- Cãi nhau ỏm tỏi vì một cái bánh chưng? Tác giả Thục Quyên nhân đó nói về pháp phục của Phật giáo, vì chuyện này cũng từng bị đem ra tranh biện một cách rất vô bổ... Việt Báo mời đọc.
Từ một bài Ký, tác giả Trangđài Glassey Trầnguyễn (chị cũng là nhà văn/ nhà thơ/ nhà giáo dục) mở ra nhiều không gian nghệ thuật, văn chương khác, trong đó chị chia sẻ không ít những trăn trở, cảm nghĩ của chị. Việt Báo trân trọng mời đọc.
Những bí ẩn về cuộc đời tình ái của Cựu Hoàng Bảo Đại được tác giả Nguyễn thị Cỏ May thuật lại trong bài viết lý thú sau. Một trong những điều lý thú ấy là: Hoàng tử Bảo Ân không phải là con út của Cựu Hoàng như đa số chúng ta đều biết, mà là một người tên Patrick-Edouard. Người con trai này là kết quả của mối tình giữa Bảo Đại và một thiếu phụ Pháp rất đẹp... Và nhiều chi tiết thú vị không kém khác, Việt Báo mời đọc.
"Rhodes, (tiếng Hy Lạp: Ρόδος, Ródos) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ, có nghĩa là hoa hồng. Thật ra, ngày đó người ta muốn diễn tả một loài hoa khác: bông bụt -- hay bông cẩn (Hibiscus), còn gọi là dâm/ râm bụt , phù dung -- mọc nhiều trên đảo này. Hy Lạp có rất nhiều đảo. Đảo Rhodes ở Địa Trung Hải, hai bờ đông tây khác biệt nhau. Bờ tây, xanh tươi hoa lá. Bờ đông trơ trụi các con đường dọc bờ biển..." -- Nhà văn Hoàng Quân, trong một chuyến du lịch viếng thăm hòn đảo danh tiếng này của quốc gia Hy Lạp, đã ghi chép lại những cảm xúc của chị và gửi đến bạn đọc qua bài Ký sau. Việt Báo hân hạnh giới thiệu.
Người thông dịch mù. Cô thích vậy. Không phải tâm địa cô xấu xa. Có trời biết lòng cô trắng trong. Bằng chứng là hắn đã đối xử với cô rất là tồi tệ, mà cô không một lời rủa xả.
Tôi là một cô gái tuổi Dần. Suốt thời niên thiếu sống trong nước, tôi lớn lên trong bâng khuâng và thắc mắc về những thành kiến của xã hội với cái tuổi Dần mình mang. Do có… “máu Cọp” trong người nên tôi rất dễ nhận ra các “chị em Cọp” của mình… Nhiều người thật giỏi, thật thành công, nhưng cũng không ít trong số họ cũng thật truân chuyên, nhất là trong đường tình duyên. Tôi đã chứng kiến kha khá chuyện tình… Nhiều bà mẹ chồng tương lai đã rất mực yêu thương cô gái ấy và thầm mừng cho con trai sẽ có được một người vợ tốt như vậy, nhưng khi điều tra và “khám phá” cô gái ấy tuổi Cọp thì bà thay đổi ngay lập trường và hăm, "Có nó thì không còn mẹ!" - Ôi, thật bất công cho các nữ tuổi Dần.
Mỗi dịp tết đến xuân về, trên bàn thờ tổ tiên cùa các gia đình VN hay trên bàn phòng ăn đều không thể thiếu một khay hay một mâm hoa quả. Người ta thường nói đến “mâm ngũ quả”. Mâm ngũ quả đặt trên bàn thờ bày tỏ lòng thành kính với tổ tiên, ước muốn những điều tốt đẹp, tươi tắn, đầy hương thơm đem lại bình an cho gia đình. Người ta chọn những quả ngon, quí, đặc biệt trong địa phương hay trong mùa, đặt cho nó nhiều ý nghĩa, và đem chưng trên bàn thờ cách nào cho đẹp, không cứ chỉ giới hạn có 5 thứ quả mà thôi
Chả là ông bà có ba người con, cô gái đầu lòng rồi đến hai cậu con trai. Cô con gái lập gia đình theo chồng qua Texas làm việc từ mấy năm nay. Hai thằng con trai còn đang học Đại Học ở xa, thằng anh hết năm nay là ra trường còn thằng út mới lên năm thứ hai. Mùng Một Tết vào ngày thường nên bà đã tưởng là Tết năm nay lại chỉ có hai ông bà già nên đã buồn héo cả người.
Ở Đào bang, hoa đào bạt ngàn, trái đào nhiều không đếm xuể. Hoa đào có nhiều loại: Đào thắm, đào phai, đào bạch, đào đơn, đào kép, đào nhiều màu… Mùa xuân hoa đào nở rực hồng cả một góc trời của Hoàng Hoa trang nói riêng của Đào bang nói chung, cảnh tượng đẹp như cõi thiên thai. Trái đào cũng có rất nhiều loại: Đào vàng, đào trắng, đào tiểu, đào đại, đào lông, đào láng, đào vườn, đào rừng… Trái đào đủ độ già ăn giòn, chua chua ngọt ngọt ngon hơn là đào chín. Mùa xuân hoa đào nở, mùa hạ trái đào rụng, những nhà vườn chuyên môn thì hái bán, những người trồng tài tử thì… trái rụng đầy đất. Nếu mùa xuân hoa đào tạo ra cảnh quan thiên thai thì mùa hạ đào rụng, chín nhũng ra, côn trùng kéo đến trông bầy nhầy như “ Địa ngục”. Thế mới biết thiên đường với địa ngục không hai, cũng từ một tâm niệm mà ra.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.